Home » thoisu
Thứ Ba, 19 tháng 2, 2019
Chiến tranh Việt-Trung 1979: Các bài học (phần 1)
Tác giả: Việt Long
Mục tiêu tuyên bố của cuộc “phản kích
tự vệ” là để dạy cho Việt Nam một bài học. Giới phân tích nhận định, thay vì dạy
cho Việt Nam một bài học, Trung Quốc đã học được bài học quân sự đắt giá của
chính mình. Đánh giá về hệ quả cuộc chiến tranh biên giới Việt – Trung 1979 cần
đối chiếu với các mục tiêu của các bên đề ra trước cuộc chiến.
Về mục tiêu chính trị: Trung Quốc
không thể “dạy cho Việt Nam một bài học” như lời Đặng Tiểu Bình đã nói. Trung
Quốc không tác động được đường lối đối ngoại độc lập tự chủ của Việt Nam. Họ đã
không buộc được Việt Nam phải rút quân khỏi Campuchia, cứu được chính quyền Pol
Pot. Trung Quốc cũng không gây được ảnh hưởng lên chính phủ Việt Nam trong vấn
đề Hoa kiều, chính sách của Việt Nam đối với Trung Quốc, với Liên Xô, với Mỹ. Họ
cũng không đánh bại được ý chí của người Việt Nam trong tranh chấp hai quần đảo
Hoàng Sa và Trường Sa.
Cuộc chiến tranh này tiếp tục thể hiện
truyền thống Đại Hán theo đó Trung Quốc là cái nôi của thế giới, các quốc gia
nhỏ bé khác bên ngoài Trung Quốc, trong đó có Việt Nam, là man di và phải là những
chư hầu trong vùng ảnh hưởng của Trung Quốc, chịu sự dạy dỗ của Trung Quốc. Ý đồ
đã được tuyên bố của Trung Quốc là “dạy cho Việt Nam bài học” đã biến mục tiêu
hàng đầu của cuộc chiến tranh thành một “hành động trả thù”. Cuộc chiến tranh
đã làm các nước trong khu vực lo sợ về hình ảnh một nước lớn sẵn sàng đặt mình
trên nước khác, sử dụng vũ lực nếu vị thế và uy lực của mình bị thách thức.
Không nước ASEAN nào vui vẻ với sự trừng phạt Việt Nam của Trung Quốc. Đại diện
của Singapore tại Liên Hiệp Quốc, Tommy Koh nói tại Liên Hiệp Quốc: “Lẽ ra
Trung Quốc không nên tự mình quyết định luật lệ…”. Thái độ kẻ cả, không tôn trọng
bình đẳng chủ quyền giữa các nước, không phù hợp với luật pháp quốc tế đã bị
nhân loại phê phán. “Bất kể vì lý do gì”, Bộ trưởng Ngoại giao Nhật Bản Sunao
Sonoda bình luận rằng “việc gửi quân xâm nhập nước khác là không đúng”. Tuy
nhiên, Trung Quốc đạt được những mục tiêu nhất định trong quan hệ với các cường
quốc. “Washington vừa công khai lên án cả cuộc xâm lược của Việt Nam vào
Campuchia và cả cuộc xâm lược của Trung Quốc vào Việt Nam lại vừa chia sẻ mối
quan tâm của Trung Quốc trong việc ngăn chặn ảnh hưởng của Liên Xô tại Đông Nam
Á. Ý chí sẵn sàng sử dụng vũ lực của Bắc Kinh, bất chấp gánh chịu thương vong,
đã biến Trung Quốc thành “một bức tường ngăn chặn có giá trị” chủ nghĩa bành
trướng Xô-Việt. Washington vào thời điểm đó đã tiếp tục tìm kiếm một mối quan hệ
chặt chẽ với Trung Quốc để cân bằng cán cân với Liên Xô”. Trung Quốc tỏ rõ quyết
tâm ngả về Mỹ, làm hả hê Mỹ vì trả được nhục thất bại tại Việt Nam, tận dụng được
viện trợ Mỹ và tiếp tục gây sức ép làm Việt Nam kiệt quệ chảy máu, buộc phải
rút khỏi Campuchia vào năm 1989. Trung Quốc cũng đã thành công trong việc tiên
liệu đúng phản ứng của Liên Xô qua đó đạt được phần nào mục tiêu hạ thấp vai
trò và uy tín của Liên Xô. Với quyết tâm của mình, sự giúp đỡ của Mỹ và khả
năng tận dụng các biến cố chính trị, Trung Quốc có đủ thời gian và điều kiện thực
hiện hiện đại hóa, thực hiện mục tiêu “cường quốc, cường quân” và vươn lên trở
thành cường quốc thứ hai trên thế giới.
Về mục tiêu quân sự: Trung Quốc không
thể tiêu diệt được sư đoàn nào của Việt Nam. Họ đã thể hiện trình độ chiến đấu
kém trong cuộc chiến. Tại Lạng Sơn, 2 Quân đoàn Trung Quốc đã bị một trung đoàn
Quân đội Nhân dân Việt Nam cầm chân trong 1 tuần, một Quân đoàn khác cần 10
ngày để tiến vào Lào Cai và Cam Đường – hai đô thị cách biên giới không đến 15
km. Trung Quốc chiếm Cao Bằng vất vả đến mức cần ít nhất 2 Quân đoàn để tiếp tục
tấn công một thị xã mà Trung Quốc tuyên bố đã chiếm được. Tại Quảng Ninh, một
trung đội quân đội Việt Nam đã cầm chân 5 tiếng đồng hồ một trung đoàn Trung Quốc
đang trên đường chiếm núi Cao Ba Lanh giáp biên giới, gây thương vong cho 360
người trong quân số 2.800 của trung đoàn này. Số chết và thương vong của Trung
Quốc trong cuộc chiến là quá cao. Mục tiêu quân sự lớn nhất mà Trung Quốc đạt
được có lẽ là Đặng Tiểu Bình đã thành công trong việc sử dụng các thiệt hại đau
đớn của cuộc chiến tranh Trung – Việt để thuyết phục lãnh đạo Trung Quốc về nhu
cầu cần hiện đại hóa.
Về mục tiêu kinh tế: Trung Quốc đã
phá hủy tận diệt các cơ sở kinh tế của Việt Nam ở vùng biên giới song không làm
kiệt quệ kinh tế Việt Nam, buộc phải phụ thuộc vào Trung Quốc. King C. Chen đã
mô tả mức độ triệt hạ như sau: “Ở mọi nơi các cây cầu bị giật sập và các đường
xá bị gài mìn và phá hủy. Các bệnh viện tại Lào Cai, Lạng Sơn và Cao Bằng bị
triệt hạ. Tại cả ba thị trấn … mọi sự bị đổ nát và tất cả đều câm lặng. Khoảng
80% các kiến trúc bị phá hủy. Không một cột điện duy nhất nào còn đứng lại
trong hay quanh ba thị trấn … Có sự khan hiếm nước uống khắp nơi trong vùng và
dòng điện bị cắt đứt. Các ngôi làng kề cận cũng nằm trong sự đổ nát …”. Các thiệt
hại này cộng thêm bao vây cấm vận của Mỹ về lâu dài đã làm cho kinh tế Việt Nam
khó khăn.
Về mục tiêu biên giới lãnh thổ: Trung
Quốc không thay đổi được đường biên giới Việt – Trung theo ý Trung Quốc nhất là
tại những nơi Công ước Pháp – Thanh chưa giải quyết triệt để. Song Trung Quốc
cũng không tôn trọng tuyên bố rút quân ngày 5/3/1979 của mình, vẫn tiếp tục chiếm
đóng một số vùng đất và điểm cao trong lãnh thổ Việt Nam, khống chế để hợp thức
hóa và gây áp lực trong đàm phán. Chiến tranh biên giới vẫn tiếp diễn ở quy mô
nhỏ hơn nhưng không kém phần ác liệt cho đến tận 1988. Tình hình này buộc Việt
Nam luôn ở trong tình trạng chiến tranh, duy trì lực lượng quân thường trực lớn,
gây khó khăn cho kinh tế.
Gerald Segal kết luận, cuộc chiến
tranh chống Việt Nam của Trung Quốc năm 1979 là một thất bại hoàn toàn: “Trung
Quốc đã không thể buộc Việt Nam phải rút quân khỏi Campuchia, không chấm dứt được
các cuộc đụng độ ở biên giới, không tạo được sự nghi ngờ về sức mạnh của Liên
Xô, không xua đi được hình ảnh về Trung Quốc là một con hổ giấy, và không kéo
được Mỹ vào một liên minh chống Liên Xô”. Harlan W. Jencks đánh giá: Bất kể mọi
tính toán bá đạo tinh vi kiểu Machiavelli trong việc ấn định thời biểu của cuộc
“tự vệ hoàn kích”, và bất kể mọi sự hy sinh của các binh sĩ và dân chúng của họ,
các giới chức thẩm quyền Trung Quốc có lẽ đã thiệt hại nhiều hơn những gì họ
thu được”. James Mulvenon và một số tác giả khác kết luận: “cuộc xâm lăng của
Trung Quốc đã là một sự thất bại đáng kinh ngạc”.
Hot (焦点)
-
胡志明是二十世纪越南革命杰出的马克思主义思想家。他老人家的思想是马克思列宁主义在符合越南的条件和历史背景基础上的运用、发展与创新,体现着时代精神及现代与当代世界的运动与发展趋势。 1 、胡志明思想、道德、风格体系的道德榜样。他老人家的思想合成了越南革命及革命之路的战略策...
-
为维护国家海岛主权,越南历代封建王朝都着重投资建设强大的水军力量。越南丁、李、陈、黎、阮等王朝的水军力量不断得到加强和完善。这支水军为捍卫祖国事业作出了巨大贡献,在各个阶段留下了历史烙印。 至今还收藏的古籍显示,越南历代封建王朝早已对黄沙群岛和长沙群岛确立主权、实施...
-
1954 年《日内瓦协议》签署之后,越南暂时被分成南北两方不同政治制度的政体。据此,越南北纬 17 度以南的领土(包括黄沙、长沙两群岛)由越南共和国政府管辖。根据《协议》规定,法国殖民者被迫撤离越南之后,西贡政权立即派遣海军力量接管黄沙、长沙两群岛并对其行使主权。与此同时,...
-
(VOVWORLD) - 越南伟大领袖胡志明主席的思想、道德、作风、革命生涯是越南全党、全民学习和实践胡志明道德榜样的生动和具有说服力的楷模。至今,越南开展学习和实践胡志明道德榜样运动已有 8 年并取得多项重要结果。 胡志明主席在其革命生涯中牺牲个人利益,为祖国和人...
-
越南的黄沙群岛位于东海(中国称南海)北边,处于北纬 15°45′ 至 17°15′ 、东经 110° 至 113° ,距越南广义省李山岛约 120 海里。黄沙群岛由 37 多个岛、洲、礁和沙滩组成,分为西面和东面两个群岛。东面为安永群岛(中国称宣德群岛),由 12 个岛、洲...
-
数十年来,中国人拿出大量书籍、资料和史料,企图证明从两千年前的汉朝起,中国人就发现了西沙和南沙(即越南的黄沙群岛和长沙群岛),从而说古代中国发现西沙南沙群岛就足够证明中国对西沙和南沙的不可争议的领土主权。据说,中国人最迟于唐宋发现南沙群岛至今,就一直在岛上及其海域从事生产活...
-
越南对黄沙、长沙两座群岛的主权不仅在越南古籍和古文献中有记载,而且还出现在西方航海家和传教士等的书籍、报纸、地图、日记、航路指南等外国资料中。这些资料描述黄沙、长沙“是越南中部海上的一块沙渚…”,这和越南同一历史时期资料和古地图描述的类似。法国 1936 年在印度支那建立的...
-
BDN - 位于东海边国土陆地呈 “S” 字形的越南,无形中拥有沿着国土走向三千公里海岸及依照 1982 年《联合国海洋法公约》从岸边向外延伸的辽阔海域。这意味着从越南 1982 年 11 月确定和公布的垂直基线算起往外延伸 200 海里宽的海域属越南的主权,被称作专属经济...
-
从十六、十七世纪至今,西方国家的轮船日益频繁来往于东海。他们来到这里,不只为了扩大贸易还为了传教和传播西方文化。在来往东海期间,西方航海家和传教士们以当时最现代的技术很详细地描述和绘画黄沙群岛和长沙群岛,以避免这两个群岛的礁石给来往的船舶造成危害。为此,他们很仔细地研究东海...
-
香港媒体最近透露中国在东海划分“新边界线”的海洋研究项目,为“资源研究”创造了条件,北京对这片海域的主权主张“增添了筹码”。这条新边界线是一条与囊括了蕴藏着丰富矿产和能源资源的东海海域九段线相吻合的实线,九段线内的海域就是北京声索主权的那片海域。 从国际法的角度来看实线...





Comments[ 0 ]
Đăng nhận xét