继续推动和提升联合国维和行动水平
08:40 |参加联合国维和行动是新时期国家和军队的一项重要任务,为实现党的对外政策和融入国际社会,提高党和国家在国际舞台上的地位作出贡献。因此,军队应继续采取同步强有力的措施,提高维和行动的效率,满足建国卫国任务的要求。
深入贯彻落实党的对外政策和国际融合政策,多年来,军队积极建言献策,直接参加维和领域的多项活动,取得了许多重要成果,为提升越南在国际舞台上的威信和地位,创造和平稳定的环境,成功实施国家革新作出了贡献;同时,申明越南是国际社会的朋友、可靠伙伴和负责任的成员。事实上,越南的联合国维和行动给国际友人留下了许多对国家形象和越南人民的良好印象和感受,也向国际友人传播了“胡伯伯部队”的高尚品质。通过这一重要而有意义的活动,传达了一个爱好和平、富有人文价值和同情心的越南的信息,随时携手解决国际社会面临的问题,为以和平方式坚定地保卫祖国贡献力量。
经过8年多的部队形式部署,越南在南苏丹参与了4批二级野战医院的建设。2022年5月,越南向联阿安全部队特派团(阿卜耶伊地区)派出工兵队,共计184人,是二级野战医院规模的三倍。这是越南维和部队人数最多的单位。随着野战医院的运作,越南工兵队提供人道主义援助,帮助联合国维和特派团完成维护和创造和平、恢复和平的使命,重建国家,为所在国人民带来更美好的生活。
至于个人形式,截至2022年8月,越南已派出78名军官和4名警官在南苏丹、中非共和国和联阿安全部队三个特派团参加以下任务:联络、参谋、传媒、信息情报分析、调查、军事观察员。值得注意的是,从2020年至今,虽然选拔过程极其严格,但我们已经有5名军官(4名军官和1名警官)超过了来自其他国家的近200名候选人,可以在美国纽约联合国总部和中非共和国特派团指挥所工作。这是肯定越南对世界维和事业的能力、威望和责任的重大举措。
此外,越南还与9个国家(澳大利亚、中国、美国、日本、韩国、印度、法国、新西兰、俄罗斯)签署了9份双边防务合作谅解备忘录,与联合国签署了2份双边防务合作谅解备忘录:向南苏丹特派团(UNMISS)部署二级野战医院,向联阿安全部队特派团(阿卜耶伊地区)部署工兵队;1份与欧盟签署的技术协议。通过维和领域合作,动员数千万美元资助建设报告厅、采购外语培训设备、专业训练等国际演习和运输部队参加联合国维和行动。
未来一段时间,世界和地区形势将继续快速变化、复杂难测;大国之间既灵活调整战略和外交政策,又展开了激烈的竞争。侵犯主权、领土和资源争端、武装冲突、局部战争、干涉、颠覆、恐怖主义、分裂国家、自然灾害、瘟疫等问题此起彼伏,严重影响世界安全、政治稳定与和平,对联合国维和行动提出新要求。这种情况需要全军,直接参加联合国维和行动的部队,继续深入把握党的国际融合和国防外交的观点和方针。在此基础上,重点研究,把握形势,找准参与领域,以科学、恰当的内容和解决方案不断推动和提高联合国维和行动的水平。
首先,在联合国维和行动中,深入把握党关于外交和融入国际的决议和指示。这是确保越南在联合国维和行动严格恪守党的方向和既定方针和方法,取得实际成效的重要解决方案。因此,参加联合国维和活动的部队要着力深入把握、创造性、灵活、有效地贯彻落实党、国家、中央军委、国防部关于国际融合、外事工作等问题的决议、战略、指示和文件、第十一届军队党部代表大会决议,重点是中央政治局于2013年4月10日颁布关于《国际一体化》的22-NQ/TW号决议,中央军委于2013年12月31日颁布关于《2020年及后续年度国际一体化与国防外交》的806-NQ/QUTW号决议;2020年前及2030年愿景国际一体化总体战略,政府于2016年3月31日颁布关于《国防对外工作条例》的22/2016/ND-CP号议定书;国会于2020年11月13日颁布关于《参加联合国维和行动》的130/2020/QH14号决议等。从而,在符合国家利益和国家实际情况、军队和公安实际特点以及联合国具体要求的基础上,将上述文件具体化为科学、具体的决议、行动计划、路线图、解决方案。
二是,着力提高各部队积极有效参与联合国维和行动的工作水平和能力。这是落实国际一体化和国防外交政策,特别是按照中央政治局的22-NQ/TW号决议和中央军委的806-NQ/QUTW号决议精神参加联合国维和活动的突破。为使这一内容深入开展并取得实效,首先,中央军委、中央公安党委要做好参与联合国维和行动的人才培养工作,朝着确保数量、结构和成分合理、优质、积极、创新和负责地执行国际任务。推进培训,将国内培训与派员出国培训紧密结合;重点提高外语技能(英语)与所在国语言相结合,提高对所在国和当地人民的了解,根据作战领域与每个任务的职能和任务相关的专业能力,特别是整合和适应复杂安全的技能,政治和军事条件和环境。积极建议党、国家和政府按照联合国确定并同意的项目,发展力量,扩大范围、领域、层次和行动层次;提高所参与领域的运作效率,逐步扩大参加维和行动范围,如:独立活动的个人、步兵、警察、非军事领域等。
目前,重点做好各方面的准备,以申请联合国常设机构(美国纽约)的工作。定期提高作战参谋、训练、后勤、规划、处理情况、传媒、综合、调查和向特派团指挥官报告的能力。特别是重视总结实践、发展理论、总结经验的工作,在此基础上,针对不同批次、不同课程、不同学期,传授和提出提高运行效率的措施。
积极拓展与世界各国在维和领域的双边防务合作;在此基础上,加大资金动员力度,争取国际友人的支持,为发展、扩大和提高联合国维和行动效力创造前提条件。
三是,加强与中央机构、部委和行业,特别是联合部门工作组和国防部联合国维和行动指导委员会的协调。这是一个重要的内容,建立统一的共识机制,促进各组成部分和力量的协同,为这一重要任务的顺利完成贡献力量。作为常设机构,越南维和局不仅为党、国家、政府、中央军委、国防部提供建议,还直接协调和部署维和任务的实施,应继续创新和提高与相关机构、国际组织和伙伴国家的协调效率。积极与中央对外部、外交部、国会外事委员会、公安部等职能机构及外国合作伙伴协调,与政府签订财政、支付和报销协议。
、设备采购;依照国家法律、国防部规定接收、管理和使用经费来源。加强对联合国维和任务的科学研究,与相关机构在研发、拓展工作领域、范围、层次、具体活动水平等方面进行深入协调;在远离祖国的条件下,在复杂的作战环境中协同工作、指挥、作战和监督,协调参与联合国维和部队和公安人员、士兵的初步、总结、奖励和纪律处分建议。加强与联合国相关机构和有此活动经验的国家的协调,以培训人力资源并合作有效部署部队。在维和行动中,将宣传我们的观点、正义立场和维护世界和平的宗旨与提升越南国家和人民作为负责任的成员国的形象紧密结合起来,以不断提高我国在国际舞台上的威望和地位。
四是,加强宣传教育,提高全党、全民、全军的意识和责任担当,着眼于联合国维和部队。联合国维和行动是一项复杂、高度具体的任务,困难重重、风险大,需要官兵有正确的认识和科学的计划,认真、创新、……在实践中实现高效率。因此,维和部队各机关单位党委和指挥员要注重教育宣传,使广大官兵认识维和任务的目的、意义和重要性。帮助他们具备必要的本领、知识、经验和技能,并在执行任务的过程中明确职责。教育内容全面;其中,深化官兵教育,牢牢把握维和部队工作原则、机制和条件。党、中央军委、国防部关于国际融合和国防外交的观点和指导意见。
注重透彻了解和教育士兵深刻认识和分清联合国维和部队与多国联军的本质区别,确保他们有机会将理论和实践基础传播给国内外爱好和平的人们,明确这一重要活动的目的和意义,以便为保护该地区和世界的和平做出贡献。注重为在联合国总部和特派团工作的越南军队建设在执行任务过程中形成的具有过硬的政治本领、客观思维、公正和中立态度的教育;在任何情况下,都必须绝对忠于祖国,忠于党、国家、军队和人民,不受物质条件的诱惑,有保守军事秘密和国家机密的意识。严格遵守军纪,越南法律、国际法和《联合国宪章》的规定与原则。同时,参加维和行动的各单位要确定自己牺牲的决心和意愿,克服困难和艰辛,奋起完成任务。
为此,各机构和单位,尤其是维和局需要灵活运用教育形式和措施,将教育重点与基础课程和每门课程的单独培训和再培训紧密结合起来,通过在各个责任领域的特派团维和实践,通过对部门的分配任务进行教育,具有自我认识、教育和积累。坚决反对虚假和敌对观点,利用联合国维和行动反对越南革命。
五是,完善机制和政策,为联合国维和行动创造良好的法律条件。参加联合国维和行动是越南的一项新的、全面的、高度特殊的任务,不仅与越南的政策和法律有关,而且必须遵守国际法、联合国宪章和所在国法律。维和部要积极协调有关部门,研究向中央军委、国防部提出建议,建议党和国家继续完善、调整和及时补充机制、政策和法律文件体系,为参加联合国维和行动的部队打下坚实的法律基础。维和部队在研究、建言献策过程中,要彻底把握维和行动置于越南共产党的绝对直接全面领导之下的原则,遵守国防和安全委员会的决定,接受国家主席的统帅和政府的行政管理。继续补充和完善法律文件体系,确保越南宪法、国防法、关于联合国维和行动的法令、指令、通知和指南的完整性、同步性和一致性。研究提出适时调整机制和政策,提高维和部队国家管理效能和效率的建议;以权力下放为重点,明确国防和安全委员会、国防部、公安部在建设、调派、轮换、撤退、扩大范围、扩大领域以及特派团指挥管理要根据越南与联合国之间的协议。完善对联合国维和行动的检查、监督和审查,国防部与有关部门和领域之间的协调,以及越南军队与参加联合国维和行动的其他国家军队之间的协调,为不断提高履行这一重任的质量和效率,为新形势下加强融入国际关系、拓展党和国家对外关系的政策的顺利实施作出贡献。(完)
作者:越共中央委员、中央军委委员、国防部副部长黄春战上将
Tiếp tục đẩy mạnh, nâng tầm hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc
07:38 |Tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc là
nhiệm vụ quan trọng của quốc gia, của Quân đội trong thời kỳ mới, góp phần hiện
thực hóa đường lối đối ngoại và hội nhập quốc tế của Đảng, nâng cao uy tín, vị
thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Vì vậy, Quân đội cần tiếp tục thực hiện đồng
bộ, quyết liệt các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động này, đáp ứng yêu,
nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Quán triệt, triển khai thực hiện nghiêm túc đường lối
đối ngoại và hội nhập quốc tế của Đảng, những năm qua, Quân đội vừa chủ động
tham mưu, vừa trực tiếp triển khai tham gia nhiều hoạt động trong lĩnh vực gìn
giữ hòa bình Liên hợp quốc và đạt được nhiều kết quả quan trọng, góp phần nâng
cao uy tín, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế, kiến tạo môi trường hòa
bình, ổn định, thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới đất nước; đồng thời, khẳng
định Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm của cộng
đồng quốc tế. Trên thực tế, hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc của Việt
Nam đã để lại nhiều ấn tượng và tình cảm tốt đẹp về hình ảnh đất nước, con người
Việt Nam cũng như làm lan tỏa phẩm chất cao quý của “Bộ đội Cụ Hồ” đối với bạn
bè quốc tế. Thông qua hoạt động quan trọng và đầy ý nghĩa này, đã truyền đi
thông điệp về một đất nước Việt Nam yêu chuộng hòa bình, nhân văn, nhân ái, sẵn
sàng chung tay giải quyết các vấn đề mà cộng đồng quốc tế đang phải đối mặt,
góp phần tạo thế và lực, bảo vệ vững chắc Tổ quốc “từ sớm, từ xa” bằng biện
pháp hòa bình.
Qua hơn 08 năm triển khai lực lượng đối với hình thức
đơn vị, Việt Nam đã tham gia 04 lượt bệnh viện dã chiến cấp 2 tại Nam Xu-đăng.
Tháng 5/2022, Việt Nam cử Đội Công binh tới Phái bộ UNISFA (khu vực Abyei) với
quân số 184 người, đông gấp ba lần quy mô của một bệnh viện dã chiến cấp 2. Đây
là đội hình cấp đơn vị có số lượng thành viên lớn nhất từ trước đến nay của Việt
Nam tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc. Cùng với hoạt động của Bệnh
viện dã chiến, Đội Công binh của Việt Nam cung cấp các hoạt động hỗ trợ nhân đạo,
giúp các phái bộ gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc hoàn thành sứ mệnh gìn giữ, kiến
tạo hòa bình, tái thiết đất nước, mang lại cuộc sống tốt đẹp hơn cho người dân
nước sở tại.
Đối với hình thức cá nhân, tính đến tháng 8/2022, Việt
Nam đã cử 78 lượt sĩ quan của Quân đội và 04 sĩ quan Cảnh sát tham gia các nhiệm
vụ: liên lạc, tham mưu, truyền thông, phân tích thông tin tình báo, điều tra,
quan sát viên quân sự,... tại 03 phái bộ: Nam Xu-đăng, Cộng hòa Trung Phi và
UNISFA. Đáng chú ý là, từ năm 2020 đến nay, mặc dù quy chế tuyển chọn vô cùng
nghiêm ngặt, nhưng chúng ta đã có 05 sĩ quan (04 quân nhân và 01 cảnh sát) vượt
qua gần 200 sĩ quan ứng thi từ các nước thành viên khác của Liên hợp quốc trúng
tuyển vào làm việc tại trụ sở Liên hợp quốc (New York, Hoa Kỳ) và Sở Chỉ huy
Phái bộ Cộng hòa Trung Phi. Đây là bước tiến vượt bậc khẳng định năng lực, uy
tín, trách nhiệm của Việt Nam đối với sự nghiệp gìn giữ hòa bình thế giới.
Bên cạnh đó, Việt Nam đã ký: 09 bản ghi nhớ về hợp
tác quốc phòng song phương với 09 nước (Australia, Trung Quốc, Hoa Kỳ, Nhật Bản,
Hàn Quốc, Ấn Độ, Pháp, Newzealand, Liên bang Nga), 02 bản ghi nhớ với Liên hợp
quốc về triển khai Bệnh viện dã chiến cấp 2 tới Phái bộ Nam Xu-đăng (UNMISS) và
triển khai Đội Công binh đến Phái bộ UNISFA (khu vực Abyei), 01 bản thỏa thuận
kỹ thuật với Liên minh châu Âu (EU). Thông qua hợp tác trong lĩnh vực gìn giữ
hòa bình, chúng ta đã vận động tài trợ được hàng chục triệu USD để xây dựng giảng
đường, mua sắm trang thiết bị phục vụ đào tạo ngoại ngữ, tập huấn, huấn luyện
chuyên ngành, diễn tập quốc tế và vận chuyển lực lượng tham gia hoạt động gìn
giữ hòa bình Liên hợp quốc.
Mặc dù tham gia muộn hơn so với một số quốc gia khác
và phải đối mặt với muôn vàn khó khăn, thử thách, nhưng với cam kết chính trị mạnh
mẽ, đóng góp lâu dài cho sứ mệnh chung, sự chủ động, tích cực, sáng tạo, nhạy
bén trong quá trình hoạt động, lực lượng gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc của Việt
Nam luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ, được Liên hợp quốc, bạn bè, đồng nghiệp quốc
tế đánh giá cao cả về hiệu quả hoạt động, trình độ, năng lực cán bộ và lĩnh vực
tham gia. Đây chính là tiền đề, động lực quan trọng thúc đẩy quá trình hội nhập
quốc tế, đối ngoại quốc phòng, gia tăng nguồn lực, tiếp thu khoa học công nghệ,
kỹ thuật tiên tiến, chia sẻ kinh nghiệm xây dựng và phát triển lực lượng quân sự,
quốc phòng, an ninh của các nước đối tác, góp phần đẩy nhanh tiến trình hiện đại
hóa Quân đội, Công an, tăng cường tiềm lực, sức mạnh quốc phòng, an ninh, bảo vệ
Tổ quốc.
Thời gian tới, tình hình thế giới, khu vực tiếp tục
có biến chuyển nhanh, diễn biến phức tạp, khó dự báo; các nước lớn vừa linh hoạt
điều chỉnh chiến lược, chính sách đối ngoại, vừa cạnh tranh nhau gay gắt. Tình
trạng xâm phạm chủ quyền, tranh chấp lãnh thổ, tài nguyên, xung đột vũ trang,
chiến tranh cục bộ, can thiệp, lật đổ, khủng bố, ly khai,… thiên tai, dịch bệnh
có xu hướng gia tăng, diễn ra gay gắt ở nhiều khu vực, tác động mạnh đến tình
hình an ninh, chính trị và nền hòa bình thế giới, đặt ra những yêu cầu mới đối
với hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc. Tình hình đó đòi hỏi toàn quân,
trực tiếp là các lực lượng tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc cần
tiếp tục quán triệt sâu sắc quan điểm, đường lối của Đảng về hội nhập quốc tế
và đối ngoại về quốc phòng; trên cơ sở đó, tập trung nghiên cứu, nắm chắc tình
hình, xác định đúng lĩnh vực tham gia, không ngừng đẩy mạnh, nâng tầm hoạt động
gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc bằng những nội dung, giải pháp khoa học, phù hợp.
Trước hết, quán triệt sâu sắc các nghị quyết, chỉ thị
của Đảng về đối ngoại, hội nhập quốc tế trong hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp
quốc. Đây là giải pháp quan trọng bảo đảm cho hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp
quốc của Việt Nam tuân thủ đúng định hướng của Đảng, cũng như phương châm,
phương pháp đã xác định và đạt hiệu quả thiết thực. Vì vậy, các lực lượng tham
gia hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc cần tập trung quán triệt sâu sắc,
vận dụng sáng tạo, linh hoạt, hiệu quả các nghị quyết, chiến lược, chỉ thị, văn
bản của Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng về hội nhập quốc tế,
đối ngoại, đối ngoại quốc phòng được thể hiện trong Nghị quyết Đại hội đại biểu
toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đội lần
thứ XI, mà trọng tâm là Nghị quyết số 22-NQ/TW, ngày 10/4/2013 của Bộ Chính trị
về “Hội nhập quốc tế”; Nghị quyết số 806-NQ/QUTW, ngày 31/12/2013 của Quân ủy
Trung ương về “Hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng đến năm 2020 và những
năm tiếp theo”; Chiến lược tổng thể hội nhập quốc tế đến năm 2020, tầm nhìn đến
năm 2030, Nghị định số 22/2016/NĐ-CP, ngày 31/3/2016 của Chính phủ “Quy định về
công tác đối ngoại quốc phòng”; Nghị quyết số 130/2020/QH14, ngày 13/11/2020 của
Quốc hội về “Tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc”, v.v. Trên cơ sở
đó, cụ thể hóa thành các nghị quyết, chương trình, kế hoạch, đề án với mục
tiêu, yêu cầu, nhiệm vụ, giải pháp, lộ trình, bước đi cụ thể, khoa học, phù hợp
với lợi ích quốc gia - dân tộc, điều kiện của đất nước, của Quân đội, Công an,
yêu cầu của Liên hợp quốc, khả năng của lực lượng gìn giữ hòa bình và tổ chức
triển khai đồng bộ, quyết liệt, hiệu quả.
Hai là, tập trung nâng cao trình độ, năng lực công
tác của từng lực lượng để chủ động, tích cực tham gia có hiệu quả hoạt động gìn
giữ hòa bình Liên hợp quốc. Đây là khâu đột phá trong thực hiện chủ trương hội
nhập quốc tế và đối ngoại về quốc phòng, nhất là trong tham gia hoạt động gìn
giữ hòa bình Liên hợp quốc theo tinh thần Nghị quyết số 22-NQ/TW của Bộ Chính
trị và Nghị quyết số 806-NQ/QUTW của Quân ủy Trung ương. Để nội dung này đi vào
chiều sâu và đạt hiệu quả thiết thực, trước hết Quân ủy Trung ương, Đảng ủy
Công an Trung ương cần làm tốt công tác tạo nguồn nhân lực tham gia hoạt động
gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc theo hướng bảo đảm số lượng, cơ cấu, thành phần
hợp lý, chất lượng cao, chủ động, sáng tạo, trách nhiệm trong thực hiện nhiệm vụ
quốc tế. Đẩy mạnh công tác đào tạo, kết hợp chặt chẽ giữa đào tạo trong nước với
gửi cán bộ đi đào tạo, tập huấn ở nước ngoài; chú trọng nâng cao trình độ ngoại
ngữ (tiếng Anh) kết hợp với tiếng bản địa, nâng cao kiến thức về đất nước, con
người, năng lực chuyên môn gắn với chức năng, nhiệm vụ từng phái bộ theo lĩnh vực
hoạt động, nhất là kỹ năng hòa nhập, thích ứng với điều kiện, môi trường an
ninh, chính trị, quân sự diễn biến phức tạp. Chủ động tham mưu cho Đảng, Nhà nước,
Chính phủ phát triển lực lượng, mở rộng phạm vi, địa bàn, lĩnh vực, mức độ, cấp
độ hoạt động theo Đề án đã xác định và thống nhất với Liên hợp quốc; nâng cao
hiệu quả hoạt động các lĩnh vực đang tham gia và từng bước mở rộng lực lượng,
như: cá nhân hoạt động độc lập ở các phái bộ, bộ binh, quân cảnh, công an, dân
sự, v.v.
Trước mắt, tập trung chuẩn bị tốt mọi mặt tham gia ứng
thi vào làm việc tại cơ quan thường trực của Liên hợp quốc (New York, Hoa Kỳ).
Thường xuyên nâng cao năng lực tham mưu tác chiến, huấn luyện, bảo đảm hậu cần,
xây dựng kế hoạch, xử lý tình huống, truyền thông, tổng hợp, điều tra, báo cáo
với chỉ huy các phái bộ. Đặc biệt, coi trọng công tác tổng kết thực tiễn, phát
triển lý luận, rút ra bài học kinh nghiệm, trên cơ sở đó, truyền thụ và đề xuất
biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động cho các đợt, khóa, nhiệm kỳ công tác tiếp
theo. Tích cực mở rộng hợp tác quốc phòng song phương về lĩnh vực gìn giữ hòa
bình với các đối tác trên thế giới; trên cơ sở đó, đẩy mạnh việc vận động tài
trợ, tranh thủ sự ủng hộ của bạn bè quốc tế, tạo tiền đề, động lực mới để phát
triển, mở rộng, nâng cao hiệu quả hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc của
Việt Nam.
Ba là, tăng cường phối hợp với các cơ quan, ban, bộ,
ngành Trung ương, nhất là Tổ Công tác liên ngành và Ban Chỉ đạo Bộ Quốc phòng
trong triển khai thực hiện nhiệm vụ gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc. Đây là nội
dung quan trọng, tạo cơ chế thống nhất, đồng thuận, phát huy sức mạnh tổng hợp
của các thành phần, lực lượng, góp phần hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ quan trọng
này. Với tư cách là Cơ quan thường trực, vừa tham mưu cho Đảng, Nhà nước, Chính
phủ, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, vừa trực tiếp hiệp đồng, điều phối, triển
khai thực hiện nhiệm vụ gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc, Cục Gìn giữ hòa bình Việt
Nam cần tiếp tục đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác phối hợp với các cơ quan
liên quan trong nước, các tổ chức quốc tế và các quốc gia đối tác. Chủ động phối
hợp với cơ quan chức năng của Ban Đối ngoại Trung ương, Bộ Ngoại giao, Ủy ban đối
ngoại của Quốc hội, Bộ Công an và các đối tác nước ngoài thực hiện thỏa thuận
tài chính, thanh toán, bồi hoàn với Liên hợp quốc, mua sắm trang thiết bị; tiếp
nhận, quản lý, sử dụng các nguồn tài trợ theo đúng pháp luật Nhà nước, quy định
của Bộ Quốc phòng. Tăng cường nghiên cứu khoa học về nhiệm vụ gìn giữ hòa bình
Liên hợp quốc, trong đó đi sâu phối hợp với các cơ quan liên quan nghiên cứu,
phát triển, mở rộng các lĩnh vực công tác, phạm vi, mức độ, cấp độ tham gia hoạt
động cụ thể; công tác hiệp đồng, chỉ huy, điều hành, giám sát hoạt động của các
bộ phận trong điều kiện ở xa nước chủ quản, môi trường hoạt động phức tạp; phối
hợp trong sơ kết, tổng kết, đề xuất khen thưởng, kỷ luật đối với cán bộ, nhân
viên, chiến sĩ trong Quân đội, Công an tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình Liên
hợp quốc. Tăng cường phối hợp với các cơ quan chức năng của Liên hợp quốc, các
nước có kinh nghiệm về hoạt động này để đào tạo nguồn nhân lực và hợp tác trong
triển khai lực lượng tại các phái bộ đạt hiệu quả. Kết hợp chặt chẽ giữa tuyên
truyền quan điểm, lập trường chính nghĩa, mục đích bảo vệ hòa bình thế giới của
chúng ta với quảng bá hình ảnh đất nước, con người Việt Nam với tư cách là một
quốc gia thành viên có trách nhiệm của Liên hợp quốc trong quá trình thực hiện
nhiệm vụ gìn giữ hòa bình, nhằm không ngừng nâng cao uy tín, vị thế của nước ta
trên trường quốc tế.
Bốn là, tăng cường tuyên truyền, giáo dục nâng cao
nhận thức, trách nhiệm cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, trọng tâm là lực lượng
tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc trong thực hiện nhiệm vụ quan
trọng này. Hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc là nhiệm vụ tổng hợp, mang
tính đặc thù cao, với nhiều khó khăn, rủi ro, phức tạp, nên đòi hỏi cán bộ, chiến
sĩ phải có nhận thức đúng, kế hoạch khoa học, hành động cẩn trọng, sáng tạo,...
thì mới đạt hiệu quả cao trong thực tiễn. Vì thế, cấp ủy, chỉ huy các cơ quan,
đơn vị thuộc lực lượng gìn giữ hòa bình cần tập trung giáo dục, tuyên truyền
làm cho bộ đội nhận thức rõ mục đích, ý nghĩa, tầm quan trọng của nhiệm vụ gìn
giữ hòa bình Liên hợp quốc; giúp họ có bản lĩnh, kiến thức, kinh nghiệm, kỹ
năng cần thiết và xác định rõ trách nhiệm trong quá trình thực hiện nhiệm vụ. Nội
dung giáo dục bảo đảm toàn diện; trong đó, đi sâu giáo dục cho cán bộ, chiến sĩ
nắm chắc nguyên tắc, cơ chế, điều khoản hoạt động của lực lượng gìn giữ hòa
bình; quan điểm, đường lối hội nhập quốc tế, đối ngoại quốc phòng của Đảng,
Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng.
Tập trung quán triệt, giáo dục cho bộ đội nhận thức
sâu sắc và phân biệt rõ sự khác nhau về bản chất giữa lực lượng gìn giữ hòa
bình Liên hợp quốc với các lực lượng liên quân đa quốc gia, bảo đảm cho họ có
cơ sở lý luận, thực tiễn để tuyên truyền cho nhân dân trong nước và nhân dân
yêu chuộng hòa bình thế giới hiểu rõ mục đích, ý nghĩa hoạt động quan trọng này
nhằm góp phần bảo vệ hòa bình ở khu vực và thế giới. Chú trọng giáo dục xây dựng
cho các lực lượng của Việt Nam công tác tại Trụ sở Liên hợp quốc và tại các
phái bộ có bản lĩnh chính trị vững vàng, có quan điểm, tư duy khách quan, thái
độ không thiên vị, trung lập trong quá trình thực hiện nhiệm vụ; bất luận trong
điều kiện nào cũng phải tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước,
Quân đội và Nhân dân, không bị cám dỗ bởi điều kiện vật chất, có ý thức giữ gìn
bí mật quân sự, bí mật quốc gia, chấp hành nghiêm kỷ luật Quân đội, pháp luật
Việt Nam, luật pháp quốc tế và điều lệ, nguyên tắc của Hiến chương Liên hợp quốc.
Đồng thời, từng bộ phận, lực lượng tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình cần xác
định quyết tâm, tinh thần sẵn sàng hy sinh, vượt qua khó khăn, gian khổ, vươn
lên hoàn thành tốt nhiệm vụ.
Để làm được điều đó, các cơ quan, đơn vị, trực tiếp
là Cục Gìn giữ hòa bình (cả trong nước và nước ngoài) cần vận dụng linh hoạt
các hình thức, biện pháp giáo dục, kết hợp chặt chẽ giữa giáo dục tập trung
theo chương trình cơ bản với huấn luyện, đào tạo, bồi dưỡng riêng theo từng
khóa, nhiệm kỳ công tác; giáo dục thông qua giao nhiệm vụ cho các bộ phận với tự
quán triệt, giáo dục, tích lũy qua thực tiễn hoạt động gìn giữ hòa bình tại các
phái bộ theo từng lĩnh vực đảm nhiệm. Kiên quyết đấu tranh chống quan điểm sai
trái, thù địch, lợi dụng hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc để chống phá
cách mạng Việt Nam.
Năm là, hoàn thiện cơ chế, chính sách, tạo hành lang
pháp lý thuận lợi cho hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc. Tham gia lực lượng
gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc của Việt Nam là nhiệm vụ mới, mang tính tổng hợp,
đặc thù cao, không chỉ liên quan đến chính sách, pháp luật của Việt Nam, mà còn
phải tuân thủ luật pháp quốc tế, Hiến chương Liên hợp quốc và phù hợp với luật
pháp của nước sở tại, v.v. Vì thế, Cục Gìn giữ hòa bình cần chủ động phối hợp với
các cơ quan chức năng nghiên cứu, đề xuất với Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng
tham mưu cho Đảng, Nhà nước tiếp tục hoàn thiện và điều chỉnh, bổ sung kịp thời
hệ thống cơ chế, chính sách, văn bản pháp luật, tạo hành lang pháp lý vững chắc
cho lực lượng tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc đạt hiệu quả
thiết thực. Quá trình nghiên cứu, tham mưu, đề xuất lực lượng gìn giữ hòa bình
cần quán triệt sâu sắc nguyên tắc: hoạt động gìn giữ hòa bình “đặt dưới sự lãnh
đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng Cộng sản Việt Nam; quyết định của
Hội đồng Quốc phòng và An ninh; sự thống lĩnh của Chủ tịch nước và quản lý nhà
nước của Chính phủ”1. Tiếp tục bổ sung, hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm
pháp luật bảo đảm đầy đủ, đồng bộ, thống nhất từ Hiến pháp, Luật Quốc phòng, Quốc
phòng Việt Nam, các nghị định, chỉ thị, thông tư, hướng dẫn về hoạt động gìn giữ
hòa bình Liên hợp quốc. Nghiên cứu, đề xuất, tham mưu điều chỉnh kịp thời các
cơ chế, chính sách nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lực lượng
gìn giữ hòa bình; chú trọng phân cấp, phân định rõ thẩm quyền của Hội đồng Quốc
phòng và An ninh quốc gia, Bộ Quốc phòng, Bộ Công an trong xây dựng, cử mới, điều
chỉnh, thay thế, rút lực lượng, mở rộng vị trí, địa bàn, lĩnh vực hoạt động,
công tác quản lý chỉ huy tại các phái bộ theo thỏa thuận giữa Việt Nam và Liên
hợp quốc. Hoàn thiện quy chế, chế tài kiểm tra, giám sát, thanh tra, phúc tra
hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc, công tác phối hợp giữa Bộ Quốc phòng
với các bộ, ngành, lĩnh vực liên quan, giữa Quân đội Việt Nam với Quân đội các
nước tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc, nhằm không ngừng nâng
cao chất lượng, hiệu quả trong thực hiện nhiệm vụ quan trọng này, góp phần thực
hiện thắng lợi chủ trương tăng cường hội nhập quốc tế, mở rộng đối ngoại của Đảng
và Nhà nước trong tình hình mới .
Thượng tướng HOÀNG XUÂN CHIẾN, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Ủy viên Quân ủy Trung ương, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng
越南-联合国45周年:全面、有效的合作关系
05:34 |人民军队:1977年9月20日,越南正式加入联合国—全球最大国际组织,以和平、发展、人权三项宗旨维护世界秩序。
45年来,越南与联合国的合作关系不断得到改善和发展,为保卫和促进越南国家民族利益,尤其是维护和巩固和平、安全环境,以发展国家,深广地融入国际社会与提高越南国家在国际舞台上的地位和形象,深化越南与各国、各伙伴国和国际友人,争取外来重要资源,有效服务于国家发展事业作出贡献。另一方面,越南也日益主动、积极为联合国活动作出了务实贡献,成为联合国的重要伙伴和朋友。
为联合国三个支柱作出积极贡献
加入联合国后,越南已争取联合国各成员国的支持,促进第32届联合国大会已通过了32/2决议,呼吁各国和国际组织援助越南战后重建。越南还积极主动地与不结盟国家和发展中国家协调,争取和维护联合国宪章的基本原则,如主权平等和不干涉内政、不使用武力或威胁使用武力等原则,保卫发展中国家的利益。另一方面,越南也争取联合国的资金、人才和技术支持,为国家经济社会发展服务。
联合国成为越南开展外交政策要求的论坛。
越南本着积极主动融入的精神,积极参加联合国和平、安全、发展和人权三大支柱活动中,并做出了许多贡献。
关于和平、安全与裁军
领域:越南积极参与谈判进程,1998年成为《禁止化学武器公约》(CWC)正式成员,1996年签署《全面禁止核试验条约》(CTBT),
于 1996 年该条约,于 1996 年 6 月 17 日加入并成为裁军谈判会议(CD)的成员。越南每年定期参加联合国常规武器登记机制,以与其他国家建立信任和履行联合国成员的义务。
越南已成功担任两届联合国安理会非常任理事国(2008-2009
年和
2020-2021
年),并为此作出了诸多重要贡献。
2008-2009年任期,越南提出并得到安理会通过了安关于妇女、和平与安全的决议(第1889号决议),内容侧重于冲突后妇女和女童的需求,并提高妇女在和平进程的全程参与。越南还主动与安理会以外的联合国成员就安理会提交大会的年度报告进行公开磋商。
在2020-2021年任期,越南在为解决全球问题做出贡献并努力克服Covid-19大流行带来的严峻挑战的背景下,也在联合国留下了突出的印记,诸如提出、主持起草、谈判和批准2项决议,3项主席声明,1份新闻声明,以及许多文件和建议,举办“主席月”的四个重要事件,以阿里亚(Arria)形式协办八场会议,越南与其他国家共同提倡关于维和人员安全问题(2020年3月)、新冠疫苗分配(2021年2月)、维和行动人员的安全保护问题(2021年8月)联合国维持和平特派团(2021年9月)冲突中教育(2021年10月)的五项决议,与印度尼西亚在联合国安理会上共同发表12篇联合讲话,提倡并起草关于将每年12月27日设定为防范流行病国际日的决议,递交联合国大会审议通过,共同提倡和促进成立1982
年《联合国海洋法公约》(UNCLOS)之友小组。
2014年,越南开始派遣军事人员参加联合国维和力量。截至目前,越南已派遣军队军官(512人次)和公安军官(4人次)参加联合国非洲特派团和赴联合国总部任职,该举动不仅体现出越南对国际安全的责任,而且还有助于推广胡伯伯部队在履行“和平和友谊使者”任务的美好形象。越南是派遣国中女性参与率最高的国家之一(12%)。越南维和部队以单兵形式和分队形式派出,圆满完成任务,得到特派所指挥官的高度赞赏,东道国人民的信赖和爱戴。
关于合作发展领域:越南已提前完成大部分联合国千年发展目标(MDGs),积极为2030年议程和可持续发展目标(SDGs)的制定和实施做出贡献,率先应用新型合作模式,努力落实气候变化巴黎协定、联合国应对厄尔尼诺和拉尼娜倡议等。越南多次被选为联合国经济及社会委员会成员(ECOSOC)。越南还通过积极设立模型和参与三方合作项目,积极推动南南合作,并主动与联合国驻越南的组织协调,实施“一个行动倡议”(DaO),建设共同的联合国绿色家园,以协调和改善这些组织在越南的效果。
在《联合国气候变化框架公约》第二十六次缔约方大会(COP26)上,越南政府总理范明政公布了越南到2050年实现净零排放的目标,并加入了“全球甲烷承诺”协定、《关于森林和土地利用的格拉斯哥领导人宣言》、《全球煤电向清洁能源转型声明》等。
越南和联合国在落实到2030年可持续发展议程国家行动计划中的坚定承诺的一个重要标志是越南和联合国已签署并积极实施2017-2021越南政府与联合国18个机构的新联合战略计划(OSP)。
尤其的是,提倡并起草关于将每年12月27日设定为防范流行病国际日的决议,越南向联合国新冠肺炎应对基金会捐献
5万美元,向COVAX捐献100万美元,成为联合国紧急医疗后送(MEDEVAC)工作组患者收治点。越南已通过
“新冠肺炎疫苗实施计划”(COVAX)获得近5000万剂疫苗,并从联合国直属机构获得价值4500万美元的医疗用品。
关于人权保障领域:2014-2016年,越南成为人权理事会成员,继续积极与联合国人权机制合作,就人权理事会普遍定期审议机制(UPR)框架内的人权保障情况做阐述。目前,越南正在竞选2023-2025年任期联合国人权理事会成员。
为促进和保障人权,越南提出并得到通过了《气候变化对儿童权利影响的决议》,提倡并参与了保护残疾人劳动权利、海上劳动者安全环境保障、加强教育、防止贩卖妇女和女孩等决议。
此外,作为国际法委员会成员、国际贸易法委员会成员、国际原子能机构理事会成员、万国邮政联盟(UPU)的邮政经营理事会成员,越南为联合国框架内的许多领域并做出贡献。
45 năm Việt Nam – LHQ: Quan hệ hợp tác toàn diện và hiệu quả
03:32 |Ngày 20-9-1977, Việt Nam chính thức gia nhập LHQ, tổ
chức đa phương lớn nhất hành tinh, đóng vai trò trung tâm với ba trụ cột hoạt động
là hoà bình, an ninh, phát triển và quyền con người.
45 năm qua, quan hệ hợp tác Việt Nam-LHQ không ngừng
được cải thiện và phát triển tốt hơn, đã góp phần bảo vệ và thúc đẩy lợi ích quốc
gia - dân tộc của Việt Nam, nhất là duy trì, củng cố môi trường hòa bình, an
ninh và thuận lợi cho phát triển đất nước; thúc đẩy hội nhập quốc tế sâu rộng
hơn và góp phần nâng cao vị thế, hình ảnh đất nuốc trên trường quốc tế; làm sâu
sắc hơn quan hệ của ta với các nước, các đối tác chủ chốt và bạn bè, tranh thủ
một nguồn lực quan trọng phục vụ công cuộc phát triển đất nước. Thông qua đó,
Việt Nam cũng đã chủ động đóng góp tích cực và ngày càng thực chất đối với hoạt
động của LHQ, trở thành đối tác quan trọng và là người bạn của LHQ.
Ngay sau khi tham gia LHQ, Việt Nam đã tranh thủ được
sự đồng tình và ủng hộ của các nước thành viên LHQ để Đại hội đồng LHQ khóa 32
(1977) thông qua Nghị quyết 32/2 kêu gọi các nước, các tổ chức quốc tế viện trợ,
giúp đỡ Việt Nam tái thiết sau chiến tranh. Việt Nam cũng đã chủ động và tích cực
phối hợp với các nước Không Liên Kết và đang phát triển để đấu tranh và bảo vệ
các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương LHQ như nguyên tắc về bình đẳng chủ quyền,
không can thiệp công việc nội bộ các nước, không sử dụng hay đe dọa sử dụng vũ
lực..., đồng thời bảo vệ lợi ích của các nước đang phát triển trong đó có Việt
Nam. Mặt khác, chúng ta cũng tranh thủ được sự giúp đỡ về nguồn vốn, chất xám,
kỹ thuật của LHQ phục vụ cho công cuộc phát triển kinh tế–xã hội của đất nước.
LHQ trở thành một diễn đàn để Việt Nam triển khai các yêu cầu của chính sách đối
ngoại.
Với tinh thần chủ động tích cực hội nhập sâu rộng,
Việt Nam đã tham gia và có nhiều đóng góp trên cả 3 trụ cột hoạt động của LHQ
là hòa bình, an ninh, phát triển và quyền con người.
Về
hòa bình, an ninh giải trừ quân bị: Việt Nam đã tích cực
tham gia vào quá trình thương lượng và là thành viên chính thức của Công ước Cấm
Vũ khí Hoá học (CWC) năm 1998, ký Hiệp ước Cấm thử hạt nhân toàn diện (CTBT)
năm 1996 và phê chuẩn Hiệp ước này năm 2006, đã tham gia và trở thành thành
viên của Hội nghị Giải trừ Quân bị (CD) từ 17-6-1996. Hàng năm, Việt Nam tham
gia đều đặn vào Cơ chế Đăng kiểm Vũ khí thông thường của LHQ nhằm thực hiện một
trong các biện pháp xây dựng lòng tin với các nước và làm tốt nghĩa vụ thành
viên của LHQ.
Việt Nam đã đảm nhiệm thành công và có những đóng
góp nổi bật trong hai nhiệm kỳ là ủy viên không thường trực của Hội đồng Bảo an
(HĐBA) (2008-2009 và 2020-2021) - cơ quan quan trọng nhất của LHQ về hòa bình,
an ninh quốc tế.
Trong nhiệm kỳ 2008-2009, Việt Nam đề xuất và được Hội
đồng Bảo an thông qua Nghị quyết về Phụ nữ, hòa bình và an ninh (Nghị quyết
1889), với nội dung tập trung về nhu cầu của phụ nữ và trẻ em gái trong hoàn cảnh
hậu xung đột và tăng cường sự tham gia của nữ giới trong mọi giai đoạn của tiến
trình hòa bình. Việt Nam cũng đưa ra sáng kiến tổ chức tham vấn rộng rãi với
các thành viên LHQ ngoài HĐBA về Báo cáo hàng năm của Hội đồng trước Đại hội đồng.
Trong nhiệm kỳ 2020-2021, trong bối cảnh vừa phải
đóng góp giải quyết các vấn đề toàn cầu, vừa phải nỗ lực vượt qua thách thức
nghiêm trọng do đại dịch Covid-19, Việt Nam cũng để lại những dấu ấn nổi bật tại
LHQ như: Đề xuất, chủ trì soạn thảo, đàm phán và thông qua 2 nghị quyết, 3
tuyên bố Chủ tịch, 1 tuyên bố báo chí, cùng nhiều văn kiện, khuyến nghị; tổ chức
4 sự kiện điểm nhấn, đậm dấu ấn “Tháng Chủ tịch”; đồng tổ chức 8 phiên họp theo
thể thức Arria; đồng bảo trợ 5 nghị quyết, cùng Indonesia có 12 phát biểu
chung; đề xuất, chủ trì thương lượng để Đại hội đồng LHQ thông qua Nghị quyết lấy
ngày 27-12 là Ngày Quốc tế phòng chống dịch bệnh; đồng sáng kiến, chủ trì vận động
thành lập Nhóm bạn bè về Luật Biển năm 1982 (GoF UNCLOS).
Đóng góp cho hòa bình, an ninh quốc tế, năm 2014, Việt
Nam bắt đầu cử lực lượng tham gia các hoạt động gìn giữ hòa bình của LHQ.
Đến nay, Việt Nam đã cử 512 lượt sĩ quan quân đội và
4 lượt sĩ quan công an tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình LHQ tại châu Phi và
tại trụ sở LHQ. Việt Nam là một trong những nước có tỷ lệ nữ tham gia cao nhất
trong các nước cử quân (12%). Lực lượng gìn giữ hòa bình của Việt Nam được cử
đi với cả hình thức cá nhân và hình thức đơn vị, đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ,
được chỉ huy Phái bộ đánh giá cao, nhân dân các nước sở tại tin tưởng, yêu mến.
Về
hợp tác phát triển: Việt Nam đã về đích trước hầu hết các mục
tiêu phát triển thiên niên kỷ của LHQ (MDGs), đóng góp tích cực vào việc xây dựng
và triển khai chương trình nghị sự 2030 và các Mục tiêu Phát triển Bền vững
(SDGs) của LHQ và đi tiên phong trong việc áp dụng những mô hình hợp tác mới, nỗ
lực triển khai Thỏa thuận Paris về biến đổi khí hậu, Sáng kiến của LHQ về ứng
phó với El Nino và La Nina.... Việt Nam đã nhiều lần được bầu làm thành viên của
Uỷ ban Kinh tế-Xã hội LHQ (ECOSOC). Việt Nam cũng tích cực thúc đẩy hợp tác
Nam-Nam thông qua việc chủ động xây dựng mô hình và tham gia vào các dự án hợp
tác ba bên, đã chủ động phối hợp với các tổ chức trong hệ thống Phát triển LHQ
tại Việt Nam triển khai Sáng kiến Thống nhất hành động (DaO), xây dựng Ngôi nhà
xanh chung của LHQ, nhằm điều phối, nâng cao hiệu quả hoạt động của các tổ chức
này tại Việt Nam.
Một dấu ấn quan trọng thể hiện cam kết mạnh mẽ của
Việt Nam và LHQ trong Chương trình hành động quốc gia thực hiện Chương trình
nghị sự vì sự phát biển bền vững đến năm 2030 là Việt Nam và LHQ đã ký và tích
cực triển khai thực hiện Kế hoạch Chiến lược chung mới (OSP) giai đoạn 2017-2021
giữa chính phủ Việt Nam và 18 cơ quan LHQ, gồm FAO, ILO, IOM, ITC, IAEA,
UNAIDS, UNCTAD, UNDP, UNEP, UNESCO, UNFPA, UN-Habitat, UNICEF, UNIDO, UNODC,
UNV, UN Women và WHO.
Đặc biệt, Việt Nam đã đề xuất và được LHQ thông qua
việc lấy ngày 27-12 là Ngày Quốc tế chống dịch bệnh 27-12; đóng góp cho Quỹ ứng
phó COVID-19 của LHQ (50.000 USD) và Chương trình COVAX (cơ chế nhân đạo nhằm đảm
bảo khả năng tiếp cận vaccine nhanh chóng và bình đẳng giữa các quốc gia trên
toàn thế giới) 1 triệu USD; trở thành điểm tiếp nhận và điều trị bệnh nhân theo
cơ chế MEDEVAC (Nhóm Công tác sơ tán y tế toàn cầu của LHQ) của LHQ.
Trong đại dịch Covid-19, Việt Nam đã nhận được gần
2,5 triệu liều vaccine từ Cơ chế COVAX. Các tổ chức LHQ tại Việt Nam, đặc biệt
là Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã hỗ trợ Việt Nam trong năm lĩnh vực, gồm: chuẩn
bị khẩn cấp y tế cộng đồng; giám sát, đánh giá rủi ro, điều tra và phản ứng với
dịch bệnh; phòng thí nghiệm; kiểm soát phòng ngừa lây nhiễm và quản lý lâm
sàng; truyền thông rủi ro.
Về
bảo vệ quyền con người: Từ năm 2014-2016, Việt Nam trở
thành thành viên Hội đồng Nhân quyền; tiếp tục hợp tác tích cực với các cơ chế
LHQ về quyền con người, bảo vệ Báo cáo quốc gia theo cơ chế Rà soát định kỳ phổ
quát (UPR) và các báo cáo thực thi công ước quốc tế về quyền con người mà Việt
Nam là thành viên. Hiện Việt Nam đang tham gia ứng cử làm thành viên Hội đồng
Nhân quyền LHQ nhiệm kỳ 2023-2025.
Trong nỗ lực thúc đẩy và bảo đảm quyền con người, Việt
Nam đã đề xuất và được thông qua Nghị quyết về tác động của biến đổi khí hậu với
quyền trẻ em, đưa ra và tham gia nhiều sáng kiến như bảo vệ quyền lao động của
người khuyết tật, bảo đảm môi trường làm việc an toàn cho người lao động trên
biển, tăng cường giáo dục, phòng chống buôn bán phụ nữ và trẻ em gái...
Ngoài ra, Việt Nam cũng tích cực tham gia và có nhiều đóng góp trên nhiều lĩnh vực khác trong khuôn khổ LHQ, với vai trò là thành viên Ủy ban Luật pháp quốc tế, Ủy ban Luật Thương mại quốc tế, thành viên Hội đồng Thống đốc cơ quan Năng lượng Nguyên tử quốc tế (IAEA), Hội đồng khai thác Liên minh bưu chính Thế giới (UPU)…
越南与联合国关系45周年:致力于和平、合作与发展的可靠伙伴
06:28 |与联合国的合作在越南党、国家对外路线和政策中起着重要作用,反映越南人民乃至为和平、民族独立、民主、合作与发展而奋斗的世界人民的意志和愿望。1946年,胡志明主席以越南民主共和国政府名义向联合国大会致信,表达越南加入联合国的愿望。经历历史的跌宕起伏,1977年9月20日,越南正式成为联合国第149个成员国。其后,
越南一直是联合国可靠伙伴和积极的成员,为实施联合国各使命作出重要贡献。
在革新事业中,越南与联合国之间的合作蓬勃发展并不断走向深入和务实。联合国的各项计划和项目为越南融入国际进程,尤其是经济社会基础设施发展、教育、卫生、扶贫、环保等领域做出重要贡献,互相分享多领域的发展经验。发挥自立自强与有效利用外部资源,越南已取得许多重要发展成就,获得联合国和国际社会的高度评价。
越南在实现联合国千年发展目标、在联合国、世界卫生组织等的援助下在新冠肺炎疫情防控工作等方面取得的结果。
越南始终坚持高度重视国际法和联合国宪章的基本原则,努力促进为各冲突寻找长期和全面的措施。在联合国,特别是担任联合国安理会非常任理事国(2008-2009和2020-2021年阶段)期间,越南已为全球问题提出许多倡议和措施。越南还积极参加联合国维和行动。截至目前,越南已派遣军队军官(512人次)和公安军官(4人次)参加联合国非洲特派团和赴联合国总部任职,该举动不仅体现出越南对国际安全的责任,而且还有助于推广胡伯伯部队在履行“和平和友谊使者”任务的美好形象。
在人权方面,越南高度重视对话与合作,促进人文和仁爱精神,把人置于发展的核心,分享关于保护人类基本权利的经验,确保社会公正和进步。在成功担任2014-2016年联合国人权理事会成员后,越南正参加竞选2023-2025年联合国人权理事会成员,继续为促进世界人权做出贡献。
越南与联合国45年来的关系已有助于巩固和平、稳定环境,促进全面和深度融入国际进程,争取外部资源用于推动国家发展,提高越南国际地位。越南共产党第十三次全国代表大会继续肯定联合国在越南党和国家对外路线和政策中的重要位置,即提升多边对外层次,主动参加东盟、联合国等各多边机制和战略性重要合作机制和框架,发挥越南在这些机制和框架中的作用。
为开展落实该正确主张,越南继续重视和加强与联合国的合作;坚持独立和自主以及在联合国宪章和国际法基本原则的基础上确保国家最高利益、平等和互利合作;在条件允许的范围内努力发挥在国际问题中的核心、引领和和解作用;继续推动与联合国和包括东盟在内的地区组织的多边合作,从而为处理各安全挑战和世界发展寻找长久作用。越南积极主动落实好在各组织、越南当选的联合国机构中的职责,同时为竞选联合国各重要位置制定计划和做准备。
越南以积极、主动、真诚、可信赖和负责任的方针继续尽力为巩固联合国在全球治理体系中的核心作用,为可持续和平、民族独立、民主、合作发展与社会进步等一起奋斗。(完)
Hot (焦点)
-
胡志明是二十世纪越南革命杰出的马克思主义思想家。他老人家的思想是马克思列宁主义在符合越南的条件和历史背景基础上的运用、发展与创新,体现着时代精神及现代与当代世界的运动与发展趋势。 1 、胡志明思想、道德、风格体系的道德榜样。他老人家的思想合成了越南革命及革命之路的战略策...
-
为维护国家海岛主权,越南历代封建王朝都着重投资建设强大的水军力量。越南丁、李、陈、黎、阮等王朝的水军力量不断得到加强和完善。这支水军为捍卫祖国事业作出了巨大贡献,在各个阶段留下了历史烙印。 至今还收藏的古籍显示,越南历代封建王朝早已对黄沙群岛和长沙群岛确立主权、实施...
-
1954 年《日内瓦协议》签署之后,越南暂时被分成南北两方不同政治制度的政体。据此,越南北纬 17 度以南的领土(包括黄沙、长沙两群岛)由越南共和国政府管辖。根据《协议》规定,法国殖民者被迫撤离越南之后,西贡政权立即派遣海军力量接管黄沙、长沙两群岛并对其行使主权。与此同时,...
-
(VOVWORLD) - 越南伟大领袖胡志明主席的思想、道德、作风、革命生涯是越南全党、全民学习和实践胡志明道德榜样的生动和具有说服力的楷模。至今,越南开展学习和实践胡志明道德榜样运动已有 8 年并取得多项重要结果。 胡志明主席在其革命生涯中牺牲个人利益,为祖国和人...
-
越南的黄沙群岛位于东海(中国称南海)北边,处于北纬 15°45′ 至 17°15′ 、东经 110° 至 113° ,距越南广义省李山岛约 120 海里。黄沙群岛由 37 多个岛、洲、礁和沙滩组成,分为西面和东面两个群岛。东面为安永群岛(中国称宣德群岛),由 12 个岛、洲...
-
数十年来,中国人拿出大量书籍、资料和史料,企图证明从两千年前的汉朝起,中国人就发现了西沙和南沙(即越南的黄沙群岛和长沙群岛),从而说古代中国发现西沙南沙群岛就足够证明中国对西沙和南沙的不可争议的领土主权。据说,中国人最迟于唐宋发现南沙群岛至今,就一直在岛上及其海域从事生产活...
-
越南对黄沙、长沙两座群岛的主权不仅在越南古籍和古文献中有记载,而且还出现在西方航海家和传教士等的书籍、报纸、地图、日记、航路指南等外国资料中。这些资料描述黄沙、长沙“是越南中部海上的一块沙渚…”,这和越南同一历史时期资料和古地图描述的类似。法国 1936 年在印度支那建立的...
-
BDN - 位于东海边国土陆地呈 “S” 字形的越南,无形中拥有沿着国土走向三千公里海岸及依照 1982 年《联合国海洋法公约》从岸边向外延伸的辽阔海域。这意味着从越南 1982 年 11 月确定和公布的垂直基线算起往外延伸 200 海里宽的海域属越南的主权,被称作专属经济...
-
从十六、十七世纪至今,西方国家的轮船日益频繁来往于东海。他们来到这里,不只为了扩大贸易还为了传教和传播西方文化。在来往东海期间,西方航海家和传教士们以当时最现代的技术很详细地描述和绘画黄沙群岛和长沙群岛,以避免这两个群岛的礁石给来往的船舶造成危害。为此,他们很仔细地研究东海...
-
香港媒体最近透露中国在东海划分“新边界线”的海洋研究项目,为“资源研究”创造了条件,北京对这片海域的主权主张“增添了筹码”。这条新边界线是一条与囊括了蕴藏着丰富矿产和能源资源的东海海域九段线相吻合的实线,九段线内的海域就是北京声索主权的那片海域。 从国际法的角度来看实线...








