海洋8号事件:中国正在“践踏”国际法(第三期)

10:53 |
国际社会强烈谴责
国际社会立即对中国派遣海洋8号考察船在越南专属经济区和大陆架范围内非法活动,令东海紧张局势进一步升级的行为表示谴责。 亚洲海事透明倡议(AMTI)表示,最近几个月,中国在马来西亚和越南的领海实施了骚扰两国海上油气开采活动的行为,其中包括部署海洋8号地质勘测船以及护卫舰在越南大陆架思政滩附近进行地质勘测活动。 AMTI报告还指出,中国在马来西亚和越南水域以外的行动表明,中国愿意采取强制性措施,并威胁使用武力阻止邻国的油气勘探、开发活动。
作为太平洋沿岸国家并曾经宣称对世界最大的大洋--太平洋--拥有核心利益,美国对中国在东海的非法行为做出了强烈反应。东海的和平,安全与稳定。美国国务院、国防部以及许多高级官员强烈批评了中国不断对其他东海主权声索国的离岸石油与天然气开发活动展开挑衅行动,这对地区的能源安全构成威胁,并损害了印太能源市场的自由与公开。
美国国务院的声明呼吁中国停止其欺凌行为,不要进行这种挑衅和破坏稳定的活动。美国国家安全顾问约翰·博尔顿强调:胁迫行为和欺凌策略威胁区域和平与安全,美国坚决支持反对胁迫行为和欺凌策略的各方。英国,欧盟,日本,印度,澳大利亚官员……也发表声明表示关切,谴责中国在越南水域的非法行径,并呼吁北京遵守。遵守国际法,制止挑衅行为,侵犯另一个国家的领土,并防止在东海进行合法的油气勘探活动。
此外,区域和全球舆论表示,作为亚太地区的大国、联合国安理会常任理事国和《联合国海洋法公约》缔结国,中国有责任与义务在东海地区乃至全球范围内维护和平稳定,促进友谊合作。 因此,中国必须立即从专属经济区(EEZ)和东海地区越南的大陆架撤出海洋8号考察船,以缓解当前的紧张局势。
关于中国海洋8号考察船队严重侵犯越南在东海的主权和管辖权,越南外交部曾多次表示抗议。 因此,越南多次与中方联系,颁发外交照会进行抗议,坚决要求立即制止违法行为,将所有船只撤出越南水域; 尊重越南的主权和管辖权,以维护该地区的双边关系以及稳定与和平。 越南还表示,越东海上部队继续采取适当措施,以和平合法的方式行使主权,主权和管辖权,以保护海洋。越南 越南外交部发言人再三重申,越南对东海水域拥有主权,主权和管辖权,这是根据1982年《联合国海洋法公约》的规定确定的。东海都是国家。 因此,在越南水域进行的所有外国活动都必须遵守1982年《海洋法公约》的有关规定和越南法律。 未经越南许可,在越南水域内的所有外国活动都是无效的,侵犯了越南水域,违反了国际法和《 1982年联合国海洋法公约》。越南的一贯政策是:根据国际法,1982年《海洋法公约》坚决和持久地打击任何侵犯越南在确定水域的主权,主权和管辖权的行为。根据1982年《海洋法公约》。越南非常重视和平,友谊,合作,善意和以和平手段解决争端和分歧的意愿。 在此基础上,越南在过去一段时间内同时采取和平措施解决了这一问题,努力要求尊重越南水域,越南的合法权益。他的水,没有任何事情使情况复杂化。 越东海上力量一直以和平合法的方式行使和平,主权和管辖权,以保护越南水域。

Đọc thêm...

Hải Dương 8: TQ đang “chà đạp” lên luật pháp quốc tế (phần 3)

08:49 |
Cộng đồng quốc tế phản đối
Cộng đồng quốc tế đã ngay lập tức có phản ứng trước hành vi gây căng thẳng trên Biển Đông của Trung Quốc khi đưa nhóm tàu Hải Dương 8 xâm phạm vùng biển thuộc chủ quyền không thể tranh cãi và bác bỏ của Việt Nam. Tổ chức Sáng kiến minh bạch hàng hải châu Á (AMTI) nêu rõ, trong những tháng gần đây, Trung Quốc đã có những hành vi quấy rối các hoạt động khai thác dầu khí ngoài khơi thuộc vùng lãnh hải Malaysia và Việt Nam, trong đó có việc triển khai tàu khảo sát địa chất Hải Dương 8 với sự hộ tống của các tàu hải cảnh tiến hành các hoạt động khảo sát địa chất gần bãi Tư Chính thuộc thềm lục địa Việt Nam. Báo cáo của AMTI cũng chỉ rõ, những hành vi của Trung Quốc ở ngoài khơi Malaysia và vùng biển Việt Nam cho thấy nước này sẵn sàng có hành động cưỡng ép và dọa dùng vũ lực để ngăn cản các hoạt động thăm dò, khai thác dầu khí của các nước láng giềng.
Mỹ với vai trò là quốc gia nằm bên bờ Thái Bình Dương và đã tuyên bố “có lợi ích sống còn” trên đại dương rộng lớn nhất thế giới này, Mỹ đã có những phản ứng mạnh trước hành vi gây căng thẳng, đe dọa hòa bình, an ninh và ổn định trên Biển Đông của Trung Quốc. Bộ Ngoại giao, Bộ Quốc phòng Mỹ cùng nhiều quan chức đã chỉ trích các hành động khiêu khích lặp đi lặp lại của Trung Quốc nhằm vào các hoạt động phát triển dầu mỏ và khí đốt của các quốc gia có tuyên bố chủ quyền khác trong khu vực đã đe dọa an ninh năng lượng khu vực và làm tổn hại tới thị trường năng lượng của khu vực Ấn Độ - Thái Bình Dương tự do và mở. Tuyên bố của Bộ Ngoại giao Mỹ kêu gọi Trung Quốc chấm dứt “hành vi bắt nạt và không thực hiện những hành động khiêu khích cũng như gây bất ổn”. Cố vấn an ninh quốc gia Mỹ John Bolton nhấn mạnh: “Hành động bắt nạt của Trung Quốc” đối với các quốc gia láng giềng Đông Nam Á là phản tác dụng và đe dọa đến hòa bình cũng như ổn định ở khu vực.
Giới chức Anh, EU, Nhật Bản, Ấn Độ, Australia… cũng đưa ra các tuyên bố thể hiện sự quan ngại, lên án những hành vi phi pháp của Trung Quốc trong vùng biển của Việt Nam, đồng thời kêu gọi Bắc Kinh tuân thủ luật pháp quốc tế, chấm dứt các hành vi khiêu khích, xâm phạm lãnh thổ nước khác và ngăn chặn hoạt động thăm dò dầu khí hợp pháp ở Biển Đông.
Ngoài ra, dư luận khu vực và thế giới cho rằng, là cường quốc trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương, một Ủy viên Thường trực của Hội đồng bảo an Liên hợp quốc và một thành viên của Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS) năm 1982, Trung Quốc phải có trách nhiệm và nghĩa vụ góp phần gìn giữ môi trường hòa bình ổn định, thúc đẩy hợp tác, hữu nghị trên toàn thế giới cũng như trong khu vực Biển Đông. Trung Quốc vì thế phải rút ngay nhóm tàu Hải Dương 8 khỏi vùng biển thuộc vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) và thềm lục địa Việt Nam ở khu vực phía Nam Biển Đông để làm giảm căng thẳng hiện nay.
Trước việc Trung Quốc đưa nhóm tàu Hải Dương 8 xâm phạm nghiêm trọng chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam ở Biển Đông, Bộ Ngoại giao Việt Nam đã nhiều lần lên tiếng phản đối. Theo đó, Việt Nam đã tiếp xúc nhiều lần với phía Trung Quốc, trao Công hàm phản đối, kiên quyết yêu cầu chấm dứt ngay các hành vi vi phạm, rút toàn bộ tàu ra khỏi vùng biển Việt Nam; tôn trọng quyền chủ quyền, quyền tài phán của Việt Nam vì quan hệ hai nước và ổn định, hòa bình ở khu vực. Việt Nam cũng nêu rõ, các lực lượng chức năng trên biển của Việt Nam tiếp tục triển khai nhiều biện pháp phù hợp thực thi chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán một cách hòa bình, đúng pháp luật nhằm bảo vệ vùng biển Việt Nam. Người Phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam nhiều lần khẳng định, Việt Nam có chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán đối với các vùng biển ở Biển Đông được xác định theo đúng các quy định của UNCLOS 1982 mà Việt Nam và các nước ở Biển Đông đều là thành viên. Do đó, mọi hoạt động của nước ngoài trên các vùng biển Việt Nam phải tuân thủ các quy định có liên quan của UNCLOS 1982, pháp luật Việt Nam. Mọi hoạt động của nước ngoài trên các vùng biển Việt Nam nếu không được phép của Việt Nam đều vô giá trị, xâm phạm vùng biển Việt Nam, vi phạm luật pháp quốc tế và UNCLOS 1982. Chủ trương nhất quán của Việt Nam là kiên quyết, kiên trì đấu tranh bằng các biện pháp hòa bình, phù hợp với luật pháp quốc tế, UNCLOS 1982 trước bất cứ hành vi nào xâm phạm chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam trên các vùng biển được xác định phù hợp với UNCLOS 1982. Việt Nam hết sức coi trọng hòa bình, hữu nghị, hợp tác, thiện chí và sẵn sàng giải quyết các tranh chấp, bất đồng bằng các biện pháp hòa bình. Trên cơ sở đó, trong thời gian qua, Việt Nam đã triển khai đồng bộ các biện pháp hòa bình để giải quyết vấn đề, đấu tranh yêu cầu tôn trọng vùng biển Việt Nam, các quyền và lợi ích hợp pháp của Việt Nam trên vùng biển của mình, không có hành động làm phức tạp tình hình. Các lực lượng chức năng trên biển của Việt Nam đã và đang thực thi chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán một cách hòa bình, đúng pháp luật nhằm bảo vệ vùng biển Việt Nam.

Đọc thêm...

海洋8号事件:中国正在“践踏”国际法(第二期)

10:52 |
北京践踏国际法
中国的行动表明,该国严重违反了国际法的规定,特别是《联合国宪章》、《联合国海洋法公约》,《东海行为宣言》以及中国与越南所签署的双边协议。
中国违反了遵守国际承诺的原则:遵守国际承诺的原则是《联合国宪章》第二条第二款规定的国际法基本原则之一。因此,每个国家都有义务自愿和真诚地履行该国对已缔结的国际条约的义务。 许多其他国际条约也承认这一原则。《联合国宪章》的序言肯定了成员国的承诺:创造必要的条件,以确保正义并尊重国际条约以及其他来源的国际法所规定的义务。 《维也纳国际条约法公约》第二十六条还规定:所有生效的条约对缔约国均具有约束力,并必须由当事方真诚执行。” 1970年《国际法原则宣言》; 1975年的《赫尔辛基公约》也阐明了这一原则。
中国违反了《联合国宪章》:中国不仅是联合国成员国,同时还是联合国安理会五个常任理事国之一,但中国并未遵守《联合国宪章》。 中国在东海的活动违反了《联合国宪章》第二条第一款所规定的国家间主权平等的原则,当时中国依靠自己作为一个大国的地位来认为自己拥有许多权利和利益。为了在不侵犯其他国家主权,主权和合法权益的情况下进行军事活动以保护这些权益,在海上进行。 违反《联合国宪章》第二条第三条规定的以和平手段解决国际争端的国家原则。 中国违反《联合国宪章》第二条第4款,特别指出:成员国限制使用或威胁使用武力,旨在在国际关系中侵犯他国的领土完整和政治独立,或违反联合国的宗旨。中国同时违犯《联合国宪章》第33条的规定:争端各方必须首先尝试通过谈判,调查、调解、和解、仲裁、法庭,通过区域组织或协议,或通过自己选择的其他和平方式解决争端。但,中国在东海的军事化行动完全违背了该规定。
中国违反《联合国海洋法公约》:中国是《联合国海洋法公约》的缔结国,但是,中国不仅没有认真执行《公约》的规定,而且还侵犯了越南的主权和管辖权。公约的规定。 中国也无视《联合国海洋法公约》第123条关于沿海国家在行使权利和履行义务方面相互合作的责任; 违反了《海洋法公约》关于所有国家在保护和维护海洋环境方面的共同义务的第129条,第193条和第196条。 违反航行自由和航空自由。 随着中国推动在东海进行军事化活动,海上和航空安全受到极大影响,航行自由和通行自由不受其他国家的损害,也没有受到损害的权利。航空自由受到限制,面临许多风险和挑战。 此外,中国还违反了《联合国海洋法公约》第87条有关尊重的规定,某些国家建立人工岛的权利的享有不应不合理地影响其权益。其他国家以及国际社会 该原则在《海洋法公约》的有关规定中得到了明确阐述,该规定表明,当沿海国在人工岛周围建立安全区时,应确保该区域具有合理的相关性。人工岛的性质和功能,还需要注意安全区的范围。 此外,如果岛屿,人工结构和构筑物及其周围的安全区影响到公认道路的使用,则可能无法建立。国际海
中国违反了《东海各方行为宣言》:中国于2002年与东盟国家签署了《 DOC》,但中国在东海的活动违反了第2条。因此,DOC3段和第4段,缔约方承诺寻求在上述平等和相互尊重的基础上,根据上述原则建立相互信任和信任的方式。 ; 各方承诺不进行可能使争端复杂化或加剧并影响区域和平与稳定的活动; 双方重申对国际法普遍接受的原则所规定的航行自由和飞越东海的尊重和承诺,其中包括:都《联合国海洋法公约》。
此外,中国在东海的活动也违背了越南-中国高层领导人在高层访问期间所达成的共识。这些高层共识包括:越南共产党总书记阮富仲访华期间两国签署的联合声明(20111011日至15日)、 越南国家主席张晋创访华期间的联合声明(2013619日至21日)、 中国总理李克强访问越南的联合声明(20131013日至15日)、阮富仲总书记访华的联合声明(201547日至10日)、阮富仲总书记访华后的联合通告(2017112日至15日)以及习近平总书记、国家主席访问越南的联合声明(12-13/11/2017)。鉴于上述文件,中国违反了以下普遍共识:以两国关系大局为重,从全局与战略高度出发,在友好邻国、全面合作、长久稳定、面向未来方针以及好邻居,好朋友,好同志,好伙伴精神指导下,坚持通过友好协商,妥善处理和解决海上问题,使东海成为一个和平,友好,合作的海域,为越南和中国之间全面战略伙伴关系的发展和维护地区和平稳定做出贡献。

Đọc thêm...

Hải Dương 8: TQ đang “chà đạp” lên luật pháp quốc tế (phần 2)

09:48 |
Bắc Kinh “chà đạp” luật quốc tế
Hành động của Trung Quốc cho thấy nước này đang vi phạm nghiêm trọng các quy định của luật pháp quốc tế, nhất là Hiến chương Liên hợp quốc, UNCLOS, DOC, thỏa thuận song phương với Việt Nam…
Trung Quốc vi phạm nguyên tắc tôn trọng các cam kết quốc tế: Nguyên tắc tôn trọng các cam kết quốc tế (pacta sunt servanda) là một trong các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế được quy định tại khoản 2 Điều 2 Hiến chương Liên hợp quốc. Theo đó, mọi quốc gia đều có nghĩa vụ thực hiện tự nguyện và có thiện chí, trung thực và đầy đủ các nghĩa vụ đối với các điều ước quốc tế mà nước mình đã tham gia ký kết. Nguyên tắc này cũng được ghi nhận trong nhiều điều ước quốc tế khác. Lời mở đầu của Hiến chương Liên hợp quốc đã khẳng định quyết tâm của các nước thành viên là: “Tạo những điều kiện cần thiết để bảo đảm công lý và tôn trọng những nghĩa vụ phát sinh từ các điều ước quốc tế và các nguồn khác của luật quốc tế đặt ra”. Điều 26 Công ước Viên về Luật Điều ước quốc tế cũng nêu rõ “Mọi điều ước đã có hiệu lực ràng buộc các bên tham gia và phải được các bên thi hành với thiện chí”. Tuyên bố năm 1970 về Các nguyên tắc của luật quốc tế; Định ước Helsinki năm 1975 cũng có nêu rõ nguyên tắc này.
Trung Quốc vi phạm Hiến chương Liên hợp quốc: Không chỉ là thành viên mà Trung Quốc còn là 1 trong 5 Ủy viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, vậy mà Trung Quốc đã không tuân thủ Hiến chương Liên hợp quốc. Hoạt động của Trung Quốc ở Biển Đông đã vi phạm nguyên tắc bình đẳng chủ quyền giữa các quốc gia quy định tại Khoản 1 Điều 2 Hiến chương LHQ khi Trung Quốc dựa vào vị thế nước lớn nên tự cho mình có nhiều quyền và lợi ích trên biển hơn quốc gia khác, để tiến hành hoạt động quân sự nhằm bảo vệ cho những quyền và lợi ích đó bất chấp việc xâm phạm chủ quyền, quyền chủ quyền và các quyền, lợi ích hợp pháp của các nước khác. Vi phạm nguyên tắc các quốc gia giải quyết tranh chấp quốc tế bằng biện pháp hòa bình quy định tại Khoản 3 Điều 2 Hiến chương LHQ. Vi phạm Khoản 4, Điều 2 Hiến chương LHQ, cụ thể quy định “các quốc gia thành viên hạn chế việc đe dọa sử dụng hay sử dụng vũ lực (Vũ lực thông thường được hiểu là vũ lực quân sự, vũ lực do vũ khí, khí tài) trong quan hệ quốc tế chống lại sự toàn vẹn lãnh thổ và độc lập chính trị của các quốc gia khác hoặc trái với các mục đích của LHQ”. Vi phạm Điều 33 Hiến chương LHQ, trong đó quy định: “Các bên tham gia tranh chấp trước tiên phải cố gắng tìm cách giải quyết tranh chấp bằng con đường đàm phán, điều tra, trung gian, hòa giải, trọng tài, tòa án, sử dụng các tổ chức hoặc các hiệp định khu vực, hoặc bằng các biện pháp hòa bình khác tùy theo sự lựa chọn của mình”, tuy nhiên việc quân sự hóa trên các thực thể ở Biển Đông của Trung Quốc hoàn toàn đi ngược lại quy định này.
Trung Quốc vi phạm UNCLOS: Trung Quốc là một thành viên ký UNCLOS, tuy nhiên, Trung Quốc không những không thực hiện nghiêm túc các quy định của Công ước mà còn ngang nhiên vi phạm quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam theo quy định của Công ước. Trung Quốc cũng đã phớt lờ Điều 123 UNCLOS về trách nhiệm của các quốc gia ven biển hợp tác với nhau trong việc sử dụng các quyền và thực hiện nghĩa vụ của họ; vi phạm Điều 129, Điều 193, Điều 196 UNCLOS về nghĩa vụ chung cho tất cả các quốc gia trong việc bảo vệ và giữ gìn môi trường biển. Vi phạm quyền tự do hàng hải, quyền tự do hàng không. Cùng với việc Trung Quốc thúc đẩy các hoạt động quân sự hóa ở Biển Đông, an ninh hàng hải và hàng không bị ảnh hưởng rất lớn, quyền tự do hàng hải và quyền đi qua không gây hại của các quốc gia khác cũng như quyền tự do hàng không bị thu hẹp và phải đối mặt với nhiều nguy cơ, thách thức. Ngoài ra, Trung Quốc cũng vi phạm các quy định Điều 87 UNCLOS, liên quan việc “tôn trọng hợp lý”.Việc hưởng quyền xây dựng đảo nhân tạo của một số quốc gia không nên ảnh hưởng bất hợp lý đến quyền và lợi ích của các quốc gia khác cũng như cả cộng đồng quốc tế. Nguyên tắc này được thể hiện rõ trong các điều khoản liên quan của UNCLOS, nó chỉ ra rằng khi một quốc gia ven biển thiết lập vùng an toàn xung quanh đảo nhân tạo, cần đảm bảo rằng khu vực này liên quan một cách hợp lý đến bản chất và chức năng của hòn đảo nhân tạo ấy, và cũng cần phải đưa ra thông báo về phạm vi của vùng an toàn. Hơn nữa, “đảo, các thiết lập và cấu trúc nhân tạo cùng với các vùng an toàn bao quanh chúng có thể không được thiết lập nếu chúng ảnh hưởng đến việc sử dụng các tuyến đường biển đã được công nhận thiết yếu đối với đường biển quốc tế”.
Trung Quốc vi phạm Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở biển Đông (DOC): Trung Quốc đã ký kết DOC với các nước ASEAN năm 2002, tuy nhiên những hoạt động của Trung Quốc ở Biển Đông đã đi ngược lại Khoản 2, Khoản 3 và Khoản 4 DOC, theo đó, “Các bên cam kết tìm kiếm những cách thức xây dựng lòng tin và sự tín nhiệm lẫn nhau hài hòa với những nguyên tắc nêu trên và trên căn bản bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau; Các bên cam kết kiềm chế không tiến hành các hoạt động có thể làm phức tạp thêm hoặc gia tăng tranh chấp và ảnh hưởng đến hòa bình và ổn định của khu vực; Các bên tái khẳng định sự tôn trọng và cam kết của mình đối với quyền tự do hoạt động hàng hải và bay trên vùng trời Biển Đông như đã được quy định bởi các nguyên tắc được thừa nhận phổ biến trong luật pháp quốc tế, kể cả UNCLOS”.
Ngoài ra, hoạt động của Trung Quốc trên Biển Đông cũng đi ngược lại nhận thức chung của Lãnh đạo Cấp cao Việt Nam - Trung Quốc ký kết trong các chuyến thăm cấp cao như: Tuyên bố chung về chuyến thăm Trung Quốc của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng (11-15/10/2011); Tuyên bố chung về chuyến thăm Trung Quốc của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang (19-21/6/2013); Tuyên bố chung trong chuyến thăm Việt Nam của Thủ tướng Trung Quốc Lý Khắc Cường (13-15/10/2013); Tuyên bố chung liên quan chuyến thăm Trung Quốc của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng (7-10/4/2015); Thông cáo chung sau chuyến thăm Trung Quốc của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng (12-15/1/2017) và Tuyên bố chung liên quan chuyến thăm Việt Nam của Tổng Bí thư, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình (12-13/11/2017). Theo đó, Trung Quốc đã vi phạm nhận thức chung về việc: Lấy đại cục quan hệ hai nước làm trọng, xuất phát từ tầm cao chiến lược và toàn cục, dưới sự chỉ đạo của phương châm “láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai” và tinh thần “láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt”, kiên trì thông qua hiệp thương hữu nghị, xử lý và giải quyết thỏa đáng vấn đề trên biển, làm cho Biển Đông trở thành vùng biển hòa bình, hữu nghị, hợp tác, đóng góp vào việc phát triển quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt Nam-Trung Quốc, góp phần duy trì hòa bình và ổn định trong khu vực.

Đọc thêm...

越南优先选择依照国际法解决东海问题

12:05 |
(VOV) -7月初以来,中国海洋地质八号调查船和一些中国护航船非法侵犯越南专属经济区和大陆架。越南一向坚持采取外交手段,呼吁中国遵守国际法,维护东海秩序、和平与稳定,并同国际社会一道发出声音反对中国的错误行为,优先选择遵守国际法,维护在东海的合法主权。
  截至目前,《联合国海洋法公约》是调整海洋和海域所有活动的法律框架,得到国际社会认可。在东海地区,中国、越南、马来西亚、菲律宾、文莱等东海主权声索国都签署和批准了该《公约》。
蛮横违反《联合国海洋法公约》
要指出的是,中国对东海毫无历史性权利,中国划设的九段线完全违反《联合国海洋法公约》。中国的主权要求基于国际海洋法没有规定的所谓历史性权利2016年,中国九段线等毫无道理的主权诉求遭到荷兰海牙常设仲裁法院仲裁庭驳斥。但中国不承认上述裁决并通过单方面、非法、胁迫手段设法宣示主权。
中国海洋地质八号调查船最近驶入越南思政滩即是明证。思政滩位于越南专属经济区。但中国依据所谓九段线声称,思政滩位于中国专属经济区。中国甚至出动海洋地质八号调查船和一些护航船阻挠越南在主权权利海域的石油开发活动。这并不是首例。2017年和2018年,中国逼迫越南和越南伙伴公司停止在该地区的石油开发活动。
美国塔夫茨大学外交科学中心东海研究家博尔顿表示:海洋地质八号调查船驶入越南领海被视为对沿海国家按照《联合国海洋法公约》享有的主权、主权权利的法律挑衅行为。其危险在于,无视越南数十年来在主权范围内进行的开发活动,中国依然设法将不存在争议的海域变为争议海域,颠倒黑白,引发地区地缘政治紧张。
坚决基于法律通过和平方式维护主权
作为海岸线长达3200多公里的沿海国家,越南积极参与制定《联合国海洋法公约》。越南也是努力落实《公约》的国家,倡导《公约》宗旨和目标。
3个多月来,越南一直坚持按照《联合国海洋法公约》等国际法,维护在东海的合法权利。越南努力将《公约》原则列入东盟和中国2001年签署的《东海各方行为宣言》及2012年签署的《东盟关于解决东海问题六点原则》 。在起草《东海行为准则》过程中,越南和各国一致同意《准则》要以《联合国海洋法公约》为基础。
鉴于东海目前的复杂局势,要尊重和全面落实《联合国海洋法公约》,使其在维护地区和平、稳定、安全及航行与飞越安全中发挥重要作用。域内外国家都在基于法律至上原则的东海享有利益。因此,任何使用武力或以武力相威胁来侵吞、胁迫他国,以武器代替公义解决分歧和争端的都是不文明的行为并遭到国际社会抵制。

Đọc thêm...

Việt Nam đã và luôn ưu tiên lựa chọn tuân thủ luật pháp quốc tế về vấn đề Biển Đông

10:05 |
(VOV5) - Kể từ đầu tháng 7, một tàu khảo sát lớn của Trung Quốc, được hộ tống bởi các tàu có vũ trang, đã xâm phạm vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam một cách bất hợp pháp. Trước những diễn biến này, Việt Nam luôn kiên trì các giải pháp ngoại giao, kêu gọi Trung Quốc tuân thủ luật pháp quốc tế, giữ gìn trật tự, hòa bình, ổn định ở Biển Đông, cùng cộng đồng quốc tế lên tiếng phản bác các hành vi sai trái của Trung Quốc, ưu tiên lựa chọn tuân thủ luật pháp quốc tế để bảo vệ chủ quyền hợp pháp của mình trên Biển Đông.
Cho đến nay, Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển 1982 (UNCLOS 1982) là khung pháp lý cho tất cả mọi hoạt động trên các đại dương và vùng biển, được công nhận rộng rãi trên thế giới. Theo công ước này, tất cả các quốc gia giáp biển đều có vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) 200 hải lý, vùng thềm lục địa 200 hải lý và vùng lãnh hải 12 hải lý. Tại khu vực Biển Đông, tất cả các nước có tuyên bố chủ quyền ở Biển Đông gồm Trung Quốc, Việt Nam, Malaysia, Philippines và Brunei đều đã ký UNCLOS 1982 và phê chuẩn công ước này.
Trước hết cần khẳng định rằng Trung Quốc không có “quyền lịch sử” đối với Biển Đông và “đường lưỡi bò” hay “đường 9 đoạn” do Trung Quốc tự vẽ ra hoàn toàn vi phạm UNCLOS 1982. Yêu sách chủ quyền của Trung Quốc, dựa trên cái gọi là "các quyền lịch sử" vốn không có trong luật biển quốc tế. Năm 2016, tất cả những tuyên bố chủ quyền phi lý của Trung Quốc dựa trên Đường 9 đoạn và các quyền lịch sử đã bị Tòa Trọng tài Thường trực ở The Hague bác bỏ. Tuy nhiên, Bắc Kinh không công nhận phán quyết này và tìm cách xác lập tuyên bố chủ quyền của mình thông qua các hành động đơn phương, phi pháp và có tính cưỡng ép.
Vụ việc xảy ra ở Bãi Tư Chính gần đây cho thấy rõ ràng những tham vọng đó của Trung Quốc. Bãi Tư Chính, nằm trong EEZ của Việt Nam, cách bờ biển Việt Nam chưa tới 200 hải lý và cách biên giới trên biển của Trung Quốc 600 hải lý. Tuy nhiên, Trung Quốc dựa trên Đường 9 đoạn mà tuyên bố Bãi Tư chính nằm trong EEZ của họ. Thậm chí, Trung Quốc còn triển khai tàu khảo sát Hải Dương Địa Chất 8 và nhiều tàu tuần tra bờ biển được vũ trang đầy đủ nhằm ngăn chặn hoạt động khai thác dầu mỏ của Việt Nam tại khu vực hoàn toàn thuộc chủ quyền của Việt Nam. Đây không phải là lần đầu tiên Trung Quốc làm như vậy. Năm 2017 và 2018, Trung Quốc đã buộc Việt Nam và một công ty đối tác của Việt Nam ngừng các hoạt động khai thác dầu ở khu vực này.
Các hành động này của Trung Quốc bị cộng đồng quốc tế chỉ trích mạnh mẽ.
Ông James Borton, nhà nghiên cứu Biển Đông thuộc Trung tâm Khoa học ngoại giao Đại học Tufts, Mỹ cho rằng: "Việc Trung Quốc điều nhóm tàu Hải Dương 8 vào sâu trong lãnh hải của Việt Nam là một hành động mang tính thách thức về mặt pháp lý đối với chủ quyền, quyền chủ quyền của một quốc gia ven biển theo quy định của UNCLOS 1982. Sự nguy hiểm của hành động này chính là, dù Việt Nam đã khai thác khu vực thuộc chủ quyền của mình từ nhiều năm nay nhưng Trung Quốc vẫn tìm cách biến khu vực không tranh chấp thành khu vực tranh chấp, đánh lận trắng thành đen, tạo sóng căng thẳng về địa chính trị trong khu vực."
Kiên quyết bảo vệ chủ quyền bằng con đường pháp lý, hòa bình
Là một quốc gia ven biển có đường bờ biển dài trên 3260km, Việt Nam có nhiều lợi ích gắn liền với biển. Không chỉ tích cực tham gia vào quá trình xây dựng UNCLOS 1982, Việt Nam còn là quốc gia có nhiều nỗ lực trong việc thực thi Công ước, luôn đề cao tôn chỉ và mục tiêu của Công ước.
Trước các hành vi vi phạm của Trung Quốc ở Bãi Tư Chính, hơn 3 tháng qua, Việt Nam luôn kiên trì sử dụng luật pháp quốc tế, cụ thể là UNCLOS 1982 để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình ở Biển Đông. Tinh thần tôn trọng luật pháp quốc tế của Việt Nam còn được thể hiện nhất quán thông qua việc Việt Nam đã nỗ lực đưa nguyên tắc của Công ước này vào các văn kiện của ASEAN, như “Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông” (DOC) ký năm 2001 giữa ASEAN và Trung Quốc, “Tuyên bố 6 điểm ngày 20/7/2012 của ASEAN về Biển Đông”. Hay trong dự thảo Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC), trong quá trình đàm phán Việt Nam và các nước thống nhất nguyên tắc COC phải sử dụng UNCLOS làm cơ sở. Bởi quan điểm của Việt Nam cho rằng trong một thế giới văn minh thì các quốc gia phải hành xử với nhau một cách văn minh trên tinh thần thượng tôn pháp luật.
Trong bối cảnh phức tạp hiện nay ở Biển Đông, việc tôn trọng và tuân thủ đầy đủ UNCLOS 1982 càng có vai trò quan trọng trong duy trì hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn và tự do hàng hải ở khu vực. Các nước cả trong và ngoài khu vực đều có lợi ích từ một Biển Đông thượng tôn pháp luật. Vì vậy, bất kỳ một quốc gia nào sử dụng và đe dọa sử dụng vũ lực để thôn tính, chèn ép quốc gia khác, dùng vũ khí thay cho công lý hoặc sử dụng và đe dọa sử dụng vũ lực để giải quyết các bất đồng, tranh chấp quốc tế trong đó có tranh chấp về chủ quyền lãnh thổ đều là hành động không văn minh và cần phải bị loại trừ khỏi đời sống quốc tế.

Đọc thêm...

海洋8号事件:中国正在“践踏”国际法(第一期)

09:51 |
从6月底至今,中国公然派遣海洋8号地质调查船在越南的专属经济区和大陆架上非法运营。 这一行动表明,北京正依靠其经济和军事力量,以及联合国安理会常任理事国的立场,“践踏”国际法,特别是《联合国宪章》以及1982年《海洋法公约》。
思政滩属于越南合法主权
思政滩以及在其范围内的珊瑚礁、暗滩是越南东南部大陆架不可分割的一部分,与属于越南的长沙群岛之间有一条深沟隔开,因此根据《公约》 1982年《海洋法公约》,完全不属于长沙群岛。
从地质上看,思政滩属于越南大陆架,并不属于长沙群岛。国际公法专家确认越南思政滩完全不属于主权重叠区域。 因此,思政滩从未是主权争议区域。 思政滩属于越南大陆架,受到越南长期、稳定的管辖和开发而并不是直到现在越南才开始在该地区做出主权声索。 此外,迄今为止,联合国国际水文委员会出版过的有关东海深海结构的五个群岛的正式国际文件从未认为长沙群岛包含了思政滩。
从2019年6月底至今,中国公然派遣海洋8号调查船队以及许多海警船,海监船和海上民兵船在越南思政滩进行非法的地震勘测。 值得注意的是,根据卫星AIS系统,海洋8号地质考察船及其护卫船队的活动范围离越东海岸线越来越近。在10月9日,该船离达瓦赫(位于金兰湾旁边)仅86.6海里。 这也是自6月底以来海洋8号考察船离越东海岸线最近的地点。 海洋8号考察船的非法活动范围覆盖了越南将近363海里长和73海里宽的海域。除了收集有关石油和天然气的数据外,中国舰队很有可能也在调查海底的地形以供后期潜水的行动。

Đọc thêm...

Hải Dương 8: TQ đang “chà đạp” lên luật pháp quốc tế (phần 1)

08:45 |
Từ cuối tháng 6, đầu tháng 7/2019 đến nay, Trung Quốc ngang nhiên đưa nhóm tàu khảo sát địa chất Hải Dương 8 vào hoạt động trái phép trong Vùng Đặc quyền kinh tế, thềm lục địa hợp pháp của Việt Nam. Hành động này cho thấy Bắc Kinh đang dựa vào sức mạnh kinh tế, quân sự, cũng như vị thế Ủy viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc để “chà đạp” lên luật pháp quốc tế, nhất là Hiến chương Liên hợp quốc, UNCLOS…
Bãi Tư Chính thuộc chủ quyền hợp pháp của Việt Nam
Bãi Tư Chính cùng các bãi ngầm và đá ngầm ở khu vực này là một phần không thể tách rời của thềm lục địa Việt Nam về phía Đông Nam, ngăn cách với quần đảo Trường Sa của Việt Nam bằng một rãnh sâu nên theo Công ước UNCLOS 1982 và hoàn toàn không thuộc quần đảo Trường Sa.
Về mặt địa chất thì vùng Tư Chính thuộc thềm lục địa Việt Nam và không phải là một bộ phận của quần đảo Trường Sa. Bãi Tư Chính của Việt Nam được các luật sư công pháp quốc tế khẳng định hoàn toàn không nằm trong khu vực chồng lấn chủ quyền. Cho nên, bãi Tư Chính chưa hề và chưa bao giờ là khu vực tranh chấp chủ quyền. Bãi Tư Chính ở trên thềm lục địa Việt Nam, đã được Việt Nam sử dụng và khai thác đặc quyền kinh tế một cách ổn định và từ lâu, chứ không phải bây giờ mới có, mới xuất hiện tuyên bố chủ quyền, càng không phải khu vực đang có tranh chấp trên biển. Ngoài ra, từ trước đến nay, 5 quần đảo của cấu trúc nước sâu Biển Đông luôn được các tài liệu chính thống của Ủy ban Thủy đạc quốc tế Liên hợp quốc và các tài liệu địa lý quốc tế công bố về mặt địa lý. Chưa bao giờ và cũng chưa có một học giả nào quan niệm rằng Trường Sa bao gồm cả cụm Tư Chính.
Từ cuối tháng 6, đầu tháng 7/2019 đến nay, Trung Quốc ngang nhiên đưa nhóm tàu khảo sát Hải Dương 8 cùng với nhiều tàu cảnh sát biển, tàu hải giám, tàu dân quân biển, trong đó có tàu cảnh sát biển loại lớn nhất và có vũ trang của Trung Quốc mang số hiệu 3901 với tải trọng 12.000 tấn, đã xâm phạm vào vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam, để thực hiện một cuộc khảo sát địa chấn. Đáng chú ý, theo hệ thống AIS vệ tinh, tàu Hải Dương Địa Chất 8 cùng nhóm tàu hộ tống của Trung Quốc (9/10) tiếp tục đi sâu thêm một cách bất thường vào biển Việt Nam, so với đường khảo sát thứ 6 đã cách 21 hải lý. Nếu tính theo hướng mũi tàu thì hiện giờ tàu này đang cách mũi Đá Vách (cạnh vịnh Cam Ranh) 86,6 hải lý. Đây là điểm sâu nhất trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam mà tàu Hải Dương Địa Chất 8 đạt tới từ tháng 9 đến nay và có lẽ sâu nhất kể từ đợt đầu tiên. Với sơ đồ đường đi vừa vào sâu vừa trải dài, có thể nói hoạt động khảo sát của tàu Hải Dương Địa Chất 8 đã bao phủ một diện rộng suốt dọc khu vực biển không thể tranh chấp của Việt Nam, bề dài xấp xỉ 363 hải lý và bề rộng xấp xỉ 73 hải lý. Ngoài thu thập các dữ liệu về dầu khí, khả năng cao nhóm tàu Trung Quốc còn khảo sát bề mặt, địa hình lồi lõm dưới đây biển, biết các luồng lạch mà tàu ngầm có thể di chuyển thuận lợi nhất

Đọc thêm...

美国专家谴责中国在思政滩开展的行动

08:45 |
韩国m.newsprime.co.kr新闻网日前刊登美国海军专家Ryan Martinson的文章称,中国将海洋地质八号勘探船进入完全属于越南专属经济区和大陆架的思政滩明明是违反国际法的行为。越南已多次要求中国将勘探船撤出越南专属经济区。
 Martinson在文章中表示,中国已侵犯了国际法已规定的越南专属经济区。他强调,思政滩并不属于中国专属经济区或大陆架,而完全属于1982年《联合国海洋法规定》(UNCLOS)已明确规定的越南200海里专属经济区和大陆架。
Martinson也认为,中国是联合国安理会常任理事国,中国人担任国际法院法官和国际海洋法法庭审判员等职务,但中国则连续拒绝在各国际场合上解决海上争端。
 Martinson强调,按照国际法惯例,解决有关主权、主权权利和管辖权的争端的最有效途径是遵守已获各国通过的国际法基本原则。

Đọc thêm...

Chuyên gia Mỹ lên án hành động của Trung Quốc tại khu vực Bãi Tư Chính

07:43 |
Trang tin m.newsprime.co.kr của Hàn Quốc mới đây đăng bài viết dẫn nhận định của chuyên gia Ryan Martinson, Phó giáo sư của Học viện tác chiến hải quân Mỹ, cho rằng động thái của Trung Quốc đưa tàu khảo sát Hải Dương 8 vào hoạt động tại khu vực Bãi Tư Chính rõ ràng là hành vi vi phạm luật pháp quốc tế.
Theo ông Martinson, Trung Quốc đã xâm phạm bất hợp pháp EEZ của Việt Nam được quy định theo Luật pháp quốc tế. Ông khẳng định Bãi Tư Chính không thuộc EEZ và thềm lục địa của Trung Quốc mà hoàn toàn thuộc EEZ và thềm lục địa 200 hải lý của Việt Nam được nêu rõ trong Công ước Liên hợp quốc về Luật biển (UNCLOS) 1982.
Ông Martinson cũng cho rằng Trung Quốc là ủy viên thường trực Hội đồng Bảo an LHQ và hiện đang nắm giữ các vị trí như thẩm phán của Tòa án tư pháp quốc tế, có 1 trong 15 thẩm phán làm việc tại Tòa án công lý quốc tế, 1 trong 21 thẩm phán tại Tòa án Luật Biển quốc tế. Tuy nhiên, Trung Quốc liên tục từ chối giải quyết tranh chấp biển đảo tại Cơ quan thực thi luật pháp quốc tế và các tổ chức quốc tế khác.
Chuyên gia Ryan Martinson nhấn mạnh, theo thông lệ luật pháp quốc tế, cách giải quyết tranh chấp hiệu quả nhất liên quan đến chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán là phải tuân theo các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế đã được các nước thông qua.

Đọc thêm...

谁在嫁祸于人(第三期)

12:08 |
    二、根据1982年《联合国海洋法公约》的规定,思政滩是南沙群岛(即越南的长沙群岛)的组成部分吗?思政滩周围海域是南沙群岛邻近海域相关海域吗?                  
    众所周知,中国是签署和批准1982年《联合国海洋法公约》的领先国家之一,同时是发展中国家的积极成员,并对第三届联合国海洋法大会作出贡献。
但为实现独霸东海的野心,实现其在地缘政治、地缘经济、地缘战略竞争中以东海作为与美国争夺世界霸主地位的跳板,中国竟然无视国际法、特别是1982年《联合国海洋法公约》,采取了侵犯东海周边国家合法权益以及地区外国家在东海权益的行动。例如:中国一味坚持占据东海90% 海域的《九断线》声索,并以下述诡辩术将其无理诉求合法化:
    - 这是历史遗留下来的海洋边界线,它的出现早于1982年《联合国海洋法公约》因此不受1982年《联合国海洋法公约》的约束。
    - 中国对该边界线内的海洋资源拥有历史权。
    - 中国对东海西沙(越南的黄沙群岛)、南沙(越南的长沙群岛)、东沙(Pratas) 和中沙 (Macclesfield) 四沙拥有主权。
    所以根据 1982年《联合国海洋法公约》,中国有权拓展该四沙的相关海域U字形海洋边界线。
    中国的上述论调若用法律术语形容就是解释和应用”1982年《联合国海洋法公约》的规定。然而,这种解释和应用是错误和诡辩的。有人指出,中国试图重写国际法。
    本文就此揭穿中国解释和应用”1982年《联合国海洋法公约》的虚伪性:
    第一、历史遗留下来的边界线历史权
    根据1982年《联合国海洋法公约》,一个国家一旦成为正式成员国就必需绝对遵循公约,对本国在公约问世前所颁行与公约不符合的所有规定进行修改。若不废除或修改这些规定,该规定对其他成员国没有执行效力。
    “各成员国是承认公约约束力的国家,公约对这些国家具有约束力,本公约比照适用于第305条第一款bcdef 项所指的实体。这些实体按照与各自有关的条件成为本公约的缔约国。在这种情况下缔约国也指这些实体。
    联合国第三届海洋法大会期间,各国代表团就是否将专属经济区资源的历史权概念写进公约进行讨论。结果,这个概念被排出第四部分第55至 第75条款。
    2016712日,常设仲裁庭裁定中国对《九断线》内的海洋资源的历史权声索无效。
    第二、东海实体地理位置与确定海域和大陆架的效力问题
    中国1998年以群岛国划定基线的方法公布西沙(越南的黄沙)直线基线。1982年《联合国海洋法公约》第四部分第46条的定义是:群岛国是指全部由一个或多个群岛构成的国家,并可包括其他岛屿。群岛是指一群岛屿,包括若干岛屿的若干部分、相连水域或其它自然地形,彼此紧密相关以致这种岛屿、水域和其他自然地形在本质上构成一个地理、经济、政治实体,或在历史上被视为这种实体。
    47条规定,群岛国可划定连接群岛最外缘各岛或各干礁的最外缘各点的直线群岛基线,但这种基线应包括主要的岛屿和一个区域,在该区域内,水域面积和包括环礁在内的陆地面积的比例应在一比一至九比一之间。
    公约第四部分没有任何一条规定非群岛国划定群岛基线的方法。
    因此,陆地主权国要依据1982年《联合国海洋法公约》的规定为每个群岛划定基线以确定该群岛的水域和大陆架。
    这样,中国错误地解释和应用1982年《联合国海洋法公约》第四部分的规定来划定越南黄沙群岛的基线。中国侵占东海周边国家专属经济区和大陆架的礁滩后,也在策划划定越南长沙群岛的基线。中国在错误地划定基线后重申其有权确定东海所谓四沙附近海域相关海域。应注意到,附近海域相关海域1982年《联合国海洋法公约》中没有这样的术语。中国利用这种术语玩弄狸猫换太子的花招,蓄意错误地解释和应用1982年《联合国海洋法公约》。
    这是在第一节分析的错上加错,因为依据1982年《联合国海洋法公约》第八部分第121条规定:
    -“岛屿是四面环水并在高潮时高于水面的自然形成的陆地区域
    -“岛屿的领海、毗连区、专属经济区和大陆架按照本公约适用于其他陆地领土的规定加以确定
    -“不能维持人类居住或其本身的经济生活的岩滩不应有专属经济区和大陆架
    据菲律宾对中国提告案常设仲裁庭2016年作出的裁决,长沙群岛各原始岛礁都很小,不能维持人类居住或其本身的经济生活,所以只有领海最宽12海里。
    这样,离东海周边国家海岸不超过200海里的礁滩不是长沙群岛的一部分,因为它们是被海槽隔开、距长沙群岛很远的暗滩和浅滩,不能形成地理和地质实体,也不是具有历史和经济相连的群岛实体。很简单,因为人类不能在水下珊瑚环礁生存。所以思政滩不是长沙群岛的一部分,思政滩水域更不是长沙群岛的附近海域相关海域
    读者从以上分析可以评价中国外交部发言人耿爽2019918日的讲话内容本质。他说中国对南沙(越南的长沙)群岛拥有主权,对南沙群岛万安北滩水域拥有主权权利和管辖权。
    他的讲话表明中国无视现行国际法,正像许多国际专家和研究家指出的那样,中国企图重写国际海洋法。
    所以,中国以为越南自20195月单方在中国的万安北滩(思政滩)勘探油气是严重侵犯中国的权益,违背越中关于指导解决越中海上问题基本原则协议,违背《东海行为宣言》第5款和1982年《联合国海洋法公约》相关条款。这真是嫁祸于人贼喊捉贼的伎俩,是对越南依据1982年《联合国海洋法公约》的规定在越南拥有主权权利和管辖权的200海里专属经济区和大陆架开采油气活动的明目张胆的诬控。
    试想,若中国继续维持海洋地质8号船队的活动,继续出动武装力量、半武装力量威胁、阻止、破坏越南进行合法的油气活动,并造成生命、财产损失,继续喧嚷上述无理论调,那么,越南人就知道如何在外交和法律战线以及在实地使用自己的正当自卫权。

Đọc thêm...

Hot (焦点)