Home » biendao
Chủ Nhật, 13 tháng 7, 2014
“Ai là kẻ gây bất ổn tại biển Đông?” - Vài lời với Đại sứ Ninh Phú Khôi
Đại sứ
Ninh Phú Khôi ngày 23/6/2014 đã viết bài trên báo Matichon trình bày quan điểm
của ông về vấn đề biển Nam Trung Hoa - vùng biển Việt Nam gọi là Biển Đông. Để
rộng đường dư luận, tôi cũng xin cung cấp một số thông tin để bạn đọc của bản
báo có được sự đánh giá đầy đủ hơn về “ai là kẻ gây bất ổn tại biển Đông”.
Trước
tiên, tôi thấy rằng thông tin mà Đại sứ Ninh nêu trong bài để cho rằng Việt Nam
“quấy rối” hoạt động của Trung Quốc thực chất là chép lại từ tài liệu ngày
8/6/2014 công bố trên trang mạng của Bộ Ngoại giao Trung Quốc. Nhưng tôi cũng
nhận thấy rằng cả tài liệu này cũng như trong các cuộc họp báo khác nhau, đại
diện Bộ Ngoại giao Trung Quốc chưa bao giờ đưa ra được bằng chứng thuyết phục
và khách quan để chứng minh luận điểm của mình. Trong thời đại bùng nổ thông
tin hiện nay, các bạn đọc Thái chắc không khó kiểm chứng được từ các nguồn
thông tin công khai và khách quan để thấy được đúng sai trong các thông tin mà
Đại sứ Ninh đã nêu.
Thực tế
là hoạt động trái phép của giàn khoan Trung Quốc cũng như hành động hung hăng,
vô nhân đạo của các tàu hộ tống giàn khoan của Trung Quốc trong vùng biển của
Việt Nam đã được thông tin đầy đủ bởi nhiều cơ quan truyền thông cả trong và
ngoài khu vực, của các nước phát triển và đang phát triển. Các phóng viên nước
ngoài, các nhà bình luận quốc tế hay các học giả và chính giới đều có chung nhận
định rằng chính hành động đơn phương, khiêu khích không phù hợp với luật pháp
quốc tế, trái với Tuyên bố về ứng xử của các bên ở biển Đông (DOC) của Trung Quốc
là nguyên nhân chủ yếu gây ra tình hình căng thẳng hiện nay.
Thứ hai,
tôi không thể đồng ý với quan điểm của Đại sứ Ninh cho rằng chính phủ Trung Quốc
đã thực hiện chủ quyền liên tục, hợp pháp và ổn định đối với quần đảo này từ giữa
và cuối thế kỷ thứ 10 vì điều này mâu thuẫn với lịch sử và nhầm lẫn về pháp lý.
Việt Nam có đầy đủ bằng chứng lịch sử và pháp lý để chứng minh chủ quyền của
mình đối với quần đảo Hoàng Sa. Việt Nam là quốc gia đầu tiên đã chiếm hữu và
thực thi chủ quyền một cách liên tục và hòa bình đối với quần đảo Hoàng Sa, chí
ít là kể từ thế kỷ 17, khi mà vùng lãnh thổ này còn vô chủ. Các chúa Nguyễn của
Việt Nam đã thành lập những đội dân binh, gọi là đội Hoàng Sa, để cai quản và
khai thác quần đảo Hoàng Sa. Đội Hoàng Sa này có nhiệm vụ hàng năm tới quần đảo
Hoàng Sa để khai thác sản vật, đo đạc, trồng cây, dựng bia, xây dựng chùa chiền,
cứu hộ tàu thuyền… Tất cả những hoạt động này đều được ghi lại trong các tài liệu
chính thức.
Tôi nói
rằng có sự mâu thuẫn với lịch sử trong phát biểu của Đại sứ Ninh vì theo như
tôi biết năm 1898, trước việc chủ tàu Bellona và Himeji Maru đòi nhà đương cục
Trung Quốc bồi thường cho việc ngư dân Trung Quốc cướp tài sản hai chiếc tàu
này khi chúng bị đắm tại Hoàng Sa, Phó vương Quảng Đông đã tuyên bố quần đảo
Hoàng Sa là vùng đất vô chủ, không thuộc về Trung Quốc, không có liên quan gì về
mặt hành chính đối với bất cứ quận nào của Hải Nam và không cơ quan nào có
trách nhiệm kiểm soát khu vực này. Điều này thực ra cũng dễ hiểu thôi vì trong
một thời gian dài của lịch sử, các triều đình nhà Minh và nhà Thanh đã áp dụng
chính sách “Hải cấm” thể hiện một sự lo ngại đối với những mối hiểm họa từ biển
hơn là một tư duy mong muốn vượt ra khỏi lãnh thổ lục địa để làm chủ biển.
Chính vì
tư duy của người Trung Quốc đối với biển và về quần đảo Hoàng Sa như vậy, nhà bản
đồ học hàng đầu người Pháp là Jean-Baptiste Bourguignon d'Anville đã thể hiện
lãnh thổ Trung Quốc thời Càn Long (1736 - 1795) chỉ giới hạn đến đảo Hải Nam
(không bao gồm các đảo ở biển Đông như quần đảo Hoàng Sa) trong tấm bản đồ xuất
bản tại Đức thế kỷ 18. Tấm bản đồ này đã được Thủ tướng Đức Angela Merkel tặng
Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình tháng 3 vừa qua khi ông Tập Cận Bình tới thăm
Đức.
Trong
khi đó, chính tài liệu của Trung Quốc, như Hải ngoại Kỷ sự (Haiwai Jishi) năm
1696 hay Hải Lục (Hailu) năm 1820 và tài liệu quốc tế như Journal of the
Asiatic Society of Bengal (1837) và Journal of the Geographical Society of
London (1849) đã công nhận và thể hiện quần đảo Hoàng Sa là lãnh thổ của Việt
Nam.
Về mặt
pháp lý, tôi chỉ nói ngắn gọn là không có bất cứ tài liệu quốc tế chính thức
liên quan nào ghi rằng Trung Quốc giành lại Hoàng Sa từ Nhật Bản năm 1946 như Đại
sứ Ninh đã viết. Trái lại, tại Hội nghị San Francisco năm 1951, đề xuất yêu cầu
Nhật Bản nhìn nhận chủ quyền của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đối với quần đảo
Hoàng Sa đã bị bác bỏ với 46 phiếu chống trong tổng số 51 nước tham dự. Cũng tại
Hội nghị này, Trưởng đoàn Việt Nam, Thủ tướng Trần Văn Hữu đã tái khẳng định chủ
quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa mà không gặp phải bất kỳ phản đối nào. Tiếp
đó, Hội nghị Giơ-ne-vơ năm 1954 về việc khôi phục hòa bình ở Đông Dương khẳng định
các bên tham gia tôn trọng độc lập và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, có nghĩa
là bao gồm quần đảo Hoàng Sa đang do các lực lượng của Pháp và Việt Nam Cộng
hòa quản lý.
Chính vì
chủ quyền đối với Hoàng Sa thuộc về Việt Nam và Trung Quốc với tư cách là quốc
gia tham gia Hội nghị Giơ-ne-vơ năm 1954 biết rất rõ về điều này, hành động mà
Đại sứ Ninh gọi là “đánh đuổi” quân đội miền Nam Việt Nam tại Hoàng Sa thực chất
là hành động xâm lược bằng vũ lực và đã bị chính quyền Việt Nam Cộng hòa cũng
như Chính phủ Cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam lên án mạnh mẽ. Một hành động
như vậy không thể là cơ sở để Trung Quốc đòi hỏi chủ quyền như Bị vong lục ngày
12/5/1988 của Bộ Ngoại giao Trung Quốc đã nêu và đăng trên Nhân dân Nhật báo
cùng ngày.
Thứ ba,
Đại sứ Ninh nói rằng hoạt động của giàn khoan Hải Dương-981 lần này là sự tiếp
nối của tiến trình thăm dò trong suốt 10 năm qua, hoàn toàn trong phạm vi chủ
quyền và quyền quản lý của Trung Quốc và Việt Nam không có quyền phát biểu,
không có quyền can thiệp hoặc ngăn cản. Nhưng phải nói rằng, hoạt động trái
phép, như thăm dò, khảo sát, của Trung Quốc tại vùng biển của Việt Nam ở biển
Đông trong 10 năm qua luôn gặp phải sự phản đối của Việt Nam dưới nhiều hình thức
và ở các cấp khác nhau. Thậm chí, trước thái độ thiếu thiện chí của Trung Quốc
và việc xâm phạm nghiêm trọng quyền lợi chính đáng của Việt Nam tại biển Đông,
ngày 05/8/2010, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam đã phải công khai lên tiếng
phản đối. Việc Việt Nam kiên quyết phản đối hoạt động của giàn khoan Hải
Dương-981 lần này là để bảo vệ khu vườn cùng các cây cối tại đó của mình đang bị
một người hàng xóm vô cớ đòi sở hữu.
Thực vậy,
khu vực Trung Quốc hạ đặt trái phép giàn khoan Hải Dương-981 nằm sâu trong vùng
đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam từ 60 - 80 hải lý. Việc làm của
Trung Quốc, bất chấp sự phản đối của Việt Nam, đã vi phạm quyền chủ quyền và
quyền tài phán của Việt Nam được quy định theo Công ước của Liên hợp quốc về Luật
Biển năm 1982 mà cả Việt Nam và Trung Quốc đều là thành viên. Đại sứ Ninh nói rằng
khu vực giàn khoan Hải Dương-981 là thuộc vùng biển của “Tây Sa” (Hoàng Sa của
Việt Nam) do cách đường cơ sở của quần đảo này 17 hải lý trong khi cách đường
cơ sở Việt Nam từ 120-140 hải lý. Việc Trung Quốc vẽ đường cơ sở quanh quần đảo
“Tây Sa” là vô giá trị, không phù hợp với các quy định của Công ước của Liên hợp
quốc về Luật Biển năm 1982. Điều tôi muốn nói thêm ở đây là chính Trung Quốc đã
“không giữ lời” khi muốn xóa bỏ lời nói của lãnh đạo Đặng Tiểu Bình tháng
9/1975 rằng Việt Nam và Trung Quốc sẽ đàm phán giải quyết vấn đề chủ quyền quần
đảo Hoàng Sa như được ghi nhận trong Bị vong lục ngày 12/5/1988 của Bộ Ngoại
giao Trung Quốc.
Để hỗ trợ
cho hoạt động trái phép của giàn khoan Hải Dương-981, Trung Quốc huy động một lực
lượng hùng hậu tàu bè và máy bay các loại, có lúc lên tới gần 140 chiếc, trong
đó có cả những tàu quân sự hiện đại, trang bị vũ khí đầy đủ để cản phá hoạt động
của các tàu dân sự của Cảnh sát Biển và Kiểm ngư Việt Nam đang thực thi pháp luật
trên vùng biển của Việt Nam. Các tàu Trung Quốc đã đâm va, phun vòi rồng vào
các tàu của Việt Nam trong phạm vi bán kính cách giàn khoan trên 10 hải lý, gây
thương tích cho hàng chục cán bộ kiểm ngư và ngư dân, gây hư hại nhiều tàu thực
thi pháp luật của Việt Nam. Vô nhân đạo hơn cả là việc tàu Trung Quốc đâm chìm
một tàu cá của Việt Nam đang đánh bắt trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam
và các tàu của Trung Quốc ngăn cản hoạt động tàu Việt Nam cứu trợ đối với 10
thuyền viên của tàu bị chìm.
Các hành
động của Trung Quốc đã vi phạm nghiêm trọng luật pháp quốc tế, trong đó có Công
ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982, trái với tinh thần và lời văn của
DOC cũng như các thỏa thuận cấp cao giữa hai nước. Hành động của Trung Quốc đã
không còn là một vấn đề song phương giữa Việt Nam và Trung Quốc mà đã và đang
đe dọa an ninh, an toàn, tự do hàng hải và gây bất ổn trong khu vực. Chính vì vậy,
không chỉ Việt Nam phản đối mà nhiều nước trên thế giới đã bày tỏ quan ngại và
yêu cầu Trung Quốc chấm dứt ngay các hành động khiêu khích của mình.
Cuối
cùng, trong bài viết của mình, Đại sứ Ninh nói rằng “Trung Quốc là một nước lớn
có trách nhiệm, chúng tôi “không gây chuyện” và không muốn thấy khu vực xung
quanh chúng tôi xảy ra những rắc rối”. Nhưng tôi thấy thực sự lo ngại là các
hành động của Trung Quốc trong vụ giàn khoan Hải Dương-981mà tôi vừa thông tin
cho bạn đọc của bản báo đã thể hiện khoảng cách rất lớn giữa lời nói và việc
làm của Trung Quốc. Dù vậy, tôi hoan nghênh tuyên bố của Đại sứ Ninh rằng “Nếu
bất cứ việc gì có thể làm dịu tình hình, chúng tôi đều sẽ quyết tâm tiến hành
thúc đẩy”. Tôi nghĩ rằng điều thiết thực nhất hiện nay là Trung Quốc ngay lập tức
rút giàn khoan Hải Dương-981 cùng các tàu hộ tống ra khỏi vùng biển của Việt
Nam và cùng Việt Nam giải quyết các vấn đề pháp lý liên quan. Về điểm cuối cùng
này, cá nhân tôi thấy rằng Đại sứ Ninh và tôi nên tận dụng những hiểu biết của
mình về tranh chấp hiện nay xung quanh hoạt động của giàn khoan Hải Dương-981 ở
biển Đông để đưa ra những đề xuất phù hợp với cơ quan chức năng trong nước, kể
cả việc kiến nghị chính phủ hai nước trình bày những bằng chứng lịch sử và lập
luận pháp lý của hai bên trước một cơ quan tài phán quốc tế để phân xử chứ
không chỉ dừng ở việc trình bày quan điểm trên phương tiện thông tin đại chúng.
Việc Trung Quốc đồng ý sử dụng biện pháp hòa bình giải quyết tranh chấp này và
quan trọng hơn đó là tuân thủ phán quyết của cơ quan tài phán quốc tế chính là
điều thiết thực để giúp các nước nhỏ như Việt Nam và Thái Lan có lòng tin rằng
Trung Quốc thực sự thực hiện “trách nhiệm” của “một nước lớn”./.
(Nguyễn Tất Thành, Đại sứ Việt Nam tại Thái Lan)
Hot (焦点)
-
胡志明是二十世纪越南革命杰出的马克思主义思想家。他老人家的思想是马克思列宁主义在符合越南的条件和历史背景基础上的运用、发展与创新,体现着时代精神及现代与当代世界的运动与发展趋势。 1 、胡志明思想、道德、风格体系的道德榜样。他老人家的思想合成了越南革命及革命之路的战略策...
-
为维护国家海岛主权,越南历代封建王朝都着重投资建设强大的水军力量。越南丁、李、陈、黎、阮等王朝的水军力量不断得到加强和完善。这支水军为捍卫祖国事业作出了巨大贡献,在各个阶段留下了历史烙印。 至今还收藏的古籍显示,越南历代封建王朝早已对黄沙群岛和长沙群岛确立主权、实施...
-
1954 年《日内瓦协议》签署之后,越南暂时被分成南北两方不同政治制度的政体。据此,越南北纬 17 度以南的领土(包括黄沙、长沙两群岛)由越南共和国政府管辖。根据《协议》规定,法国殖民者被迫撤离越南之后,西贡政权立即派遣海军力量接管黄沙、长沙两群岛并对其行使主权。与此同时,...
-
(VOVWORLD) - 越南伟大领袖胡志明主席的思想、道德、作风、革命生涯是越南全党、全民学习和实践胡志明道德榜样的生动和具有说服力的楷模。至今,越南开展学习和实践胡志明道德榜样运动已有 8 年并取得多项重要结果。 胡志明主席在其革命生涯中牺牲个人利益,为祖国和人...
-
越南的黄沙群岛位于东海(中国称南海)北边,处于北纬 15°45′ 至 17°15′ 、东经 110° 至 113° ,距越南广义省李山岛约 120 海里。黄沙群岛由 37 多个岛、洲、礁和沙滩组成,分为西面和东面两个群岛。东面为安永群岛(中国称宣德群岛),由 12 个岛、洲...
-
数十年来,中国人拿出大量书籍、资料和史料,企图证明从两千年前的汉朝起,中国人就发现了西沙和南沙(即越南的黄沙群岛和长沙群岛),从而说古代中国发现西沙南沙群岛就足够证明中国对西沙和南沙的不可争议的领土主权。据说,中国人最迟于唐宋发现南沙群岛至今,就一直在岛上及其海域从事生产活...
-
越南对黄沙、长沙两座群岛的主权不仅在越南古籍和古文献中有记载,而且还出现在西方航海家和传教士等的书籍、报纸、地图、日记、航路指南等外国资料中。这些资料描述黄沙、长沙“是越南中部海上的一块沙渚…”,这和越南同一历史时期资料和古地图描述的类似。法国 1936 年在印度支那建立的...
-
BDN - 位于东海边国土陆地呈 “S” 字形的越南,无形中拥有沿着国土走向三千公里海岸及依照 1982 年《联合国海洋法公约》从岸边向外延伸的辽阔海域。这意味着从越南 1982 年 11 月确定和公布的垂直基线算起往外延伸 200 海里宽的海域属越南的主权,被称作专属经济...
-
从十六、十七世纪至今,西方国家的轮船日益频繁来往于东海。他们来到这里,不只为了扩大贸易还为了传教和传播西方文化。在来往东海期间,西方航海家和传教士们以当时最现代的技术很详细地描述和绘画黄沙群岛和长沙群岛,以避免这两个群岛的礁石给来往的船舶造成危害。为此,他们很仔细地研究东海...
-
香港媒体最近透露中国在东海划分“新边界线”的海洋研究项目,为“资源研究”创造了条件,北京对这片海域的主权主张“增添了筹码”。这条新边界线是一条与囊括了蕴藏着丰富矿产和能源资源的东海海域九段线相吻合的实线,九段线内的海域就是北京声索主权的那片海域。 从国际法的角度来看实线...





Comments[ 0 ]
Đăng nhận xét