Home » thoisu
Thứ Tư, 25 tháng 3, 2020
Chờ cú huých cải cách thể chế từ CPTPP
Hiệp
định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) bước đầu đã
đóng góp tích cực vào hoạt động thương mại của Việt Nam sau một năm có hiệu lực
thi hành (ngày 14-1-2019). Tuy nhiên, để hiệp định này tiếp tục tạo thêm xung lực
mới cho các hoạt động kinh tế và nhất là đẩy mạnh cải cách thể chế như kỳ vọng,
cần có sự sẵn sàng và khả năng thích ứng của các cơ quan hoạch định chính sách
cũng như cộng đồng doanh nghiệp (DN).
Theo
báo cáo của Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế T.Ư (CIEM), năm 2019, kim ngạch xuất
khẩu của Việt Nam sang sáu nước thành viên đã phê chuẩn Hiệp định CPTPP đạt
34,4 tỷ USD, tăng 8,3%; kim ngạch nhập khẩu đạt 30,1 tỷ USD, chỉ tăng 1%. Trước
khi có CPTPP, tỷ trọng xuất khẩu của Việt Nam sang các nước trong khối CPTPP
năm 2007-2008 chiếm gần 30,2% nhưng giảm dần xuống còn 23% và 18% trong các năm
2009-2010 và 2011-2018. Do mới bắt đầu có hiệu lực từ đầu năm 2019 cho nên tỷ lệ
tận dụng ưu đãi từ CPTPP chưa cao ở một số mặt hàng, thị trường, những ngành có
tỷ lệ tận dụng cao như thủy sản, dệt may, da giày,… đều là những mặt hàng Việt
Nam có thế mạnh xuất khẩu đến nhiều thị trường. Còn nhiều dư địa để các DN cải
thiện khả năng tận dụng ưu đãi trong CPTPP, song khó có thể tách rời với việc
khai thác các hiệp định thương mại song phương (FTA) khác. Năm 2018 và 2019,
khoảng 40% số DN tận dụng được ưu đãi thuế quan từ các FTA mà Việt Nam đã tham
gia. Trong đó, tỷ lệ tận dụng ưu đãi từ CPTPP ở một số thị trường chưa cao, trừ
Mê-hi-cô và Ca-na-đa. Mức độ quan tâm của DN Việt Nam vào những thị trường mới
chưa có nhiều đột biến, thí dụ như thị trường Pê-ru. Từ những số liệu này, Trưởng
ban Nghiên cứu tổng hợp CIEM Nguyễn Anh Dương đánh giá, CPTPP ít nhiều đã có
đóng góp tích cực vào hoạt động thương mại của Việt Nam. Nghiên cứu của CIEM
cho thấy, CPTPP có ý nghĩa đặc biệt trong việc thúc đẩy cải cách môi trường đầu
tư, kinh doanh ở Việt Nam trong hoạt động thu hút đầu tư nước ngoài. Bên cạnh
đó, các cơ quan hoạch định chính sách và nhà đầu tư cũng sẵn sàng hơn với những
cơ hội từ CPTPP. Trong giai đoạn 2010-2019, thu hút FDI của Việt Nam tăng bình
quân 12,4%/năm về số dự án, 5,1%/năm về vốn đăng ký, và 7,4%/năm về vốn thực hiện.
Quy mô vốn FDI thực hiện liên tục đạt những kỷ lục mới, trong đó có con số 20,4
tỷ USD năm 2019. Niềm tin của các nhà đầu tư ngày càng được củng cố trong bối cảnh
kinh tế vĩ mô ổn định, môi trường đầu tư, kinh doanh không ngừng được cải thiện
theo hướng thông thoáng hơn, chính sách thu hút FDI ngày càng được hoàn thiện.
Về
hiểu biết của DN đối với CPTPP, các DN tuy đã có sự quan tâm tìm hiểu về CPTPP
nhưng mới chỉ là vấn đề ngắn hạn như thuế quan và cắt giảm thuế quan, chưa hiểu
biết đầy đủ và có hệ thống về các khía cạnh khác như quy tắc xuất xứ, công nghệ,
thông tin về mạng lưới nhà cung cấp trong và ngoài nước. Về năng lực khoa học
công nghệ, tỷ lệ sử dụng công nghệ cao, đầu tư vào hoạt động nghiên cứu và triển
khai và cải tiến công nghệ còn thấp. Trình độ và kỹ năng của người lao động,
trình độ đội ngũ quản lý, lãnh đạo DN còn hạn chế. DN Việt Nam vẫn gặp nhiều
khó khăn để tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu, dù đã có cải thiện quan hệ
cung ứng cho DN FDI.
Cơ
hội lớn từ CPTPP đem lại cho DN Việt Nam là khả năng mở rộng thị trường, gia
tăng xuất khẩu, tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu; tiếp cận nguồn vốn đầu tư;
tiếp cận công nghệ, kỹ năng quản lý nước ngoài; cải thiện hiệu quả hoạt động
khi thể chế kinh tế thị trường trở nên hoàn thiện hơn. Song các DN cũng phải xử
lý hiệu quả những thách thức, đặc biệt trong việc cải thiện khả năng cạnh
tranh; khả năng tận dụng cơ hội, nhất là hài hòa việc thực hiện CPTPP với các
tuyến hội nhập khác. Tác động đối với DN sẽ tích cực hơn nếu Chính phủ củng cố
hơn nữa đồng thuận xã hội về tiến trình và các biện pháp cải cách, cân bằng các
mục tiêu chính sách, đồng thời tạo dựng thêm không gian chính sách để hỗ trợ
DN.
Có
bốn nội dung quan trọng đối với cải cách thể chế, gồm: CPTPP đặt ra những tiêu
chuẩn và định hướng cải cách thể chế có tính chất bắt buộc phải thực hiện; cam
kết trong CPTPP rất gần với những nghị quyết về cải cách thể chế, chính sách mà
Việt Nam đang triển khai nên sẽ gây sức ép về thời gian để thực hiện sớm và hiệu
quả; CPTPP đưa ra những hỗ trợ kỹ thuật để xử lý những vấn đề khó trong cải
cách thể chế; các yêu cầu về thể chế đặt ra trong CPTPP rất gần với EVFTA. Do
đó, cơ hội về kinh tế của CPTPP có thể không cao nhưng cộng hưởng với những lợi
ích từ EVFTA sẽ tạo động lực lớn để Việt Nam cải cách thể chế, đón đầu cơ hội
hoặc hiện thực hóa cơ hội kinh tế. Trong đó, có cải thiện chất lượng hàng hóa để
tận dụng ưu đãi thuế quan, bao gồm thúc đẩy công nghiệp hỗ trợ, tự chủ nguồn
nguyên vật liệu sản xuất và cơ hội đầu tư.
Theo
các chuyên gia, so với các nước tham gia vào hiệp định CPTPP, Việt Nam vẫn còn
một khoảng cách về chất lượng thể chế kinh tế, thể hiện ở cả xếp hạng môi trường
kinh doanh của Ngân hàng Thế giới, xếp hạng chỉ số quản trị toàn cầu, chỉ số
năng lực cạnh tranh toàn cầu, đòi hỏi chúng ta phải tiếp tục cải thiện thông
qua nỗ lực tự thân và tận dụng hỗ trợ kỹ thuật của đối tác. Những nhiệm vụ này
phải được thực hiện bằng quyết tâm chính trị, bền bỉ trong thời gian dài mới có
thể hiện thực hóa được cao nhất những lợi ích từ CPTPP.

- Không thể xuyên tạc bản chất Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay
- 越南增长前景乐观
- 在越南社会主义法治国家建设中继续推进人民当家作主
- Tiếp tục phát huy quyền làm chủ nhân dân trong xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam
- 批评“越南走向资本主义才能发展且顺应时代潮流”的观点
- Phê phán quan điểm “Việt Nam đi theo chủ nghĩa tư bản mới phát triển và phù hợp với xu thế thời đại”
- 越南在实施人权进程中的努力
- Nỗ lực của Việt Nam trong trong thực hiện quyền con người
- 灵活应对 坚决行动 促进恢复和发展
- Ứng phó linh hoạt, quyết tâm hành động để thúc đẩy phục hồi và phát triển
- 新闻自由必须在法律框架内
- Tự do báo chí phải trong khuôn khổ của pháp luật
Hot (焦点)
-
胡志明是二十世纪越南革命杰出的马克思主义思想家。他老人家的思想是马克思列宁主义在符合越南的条件和历史背景基础上的运用、发展与创新,体现着时代精神及现代与当代世界的运动与发展趋势。 1 、胡志明思想、道德、风格体系的道德榜样。他老人家的思想合成了越南革命及革命之路的战略策...
-
为维护国家海岛主权,越南历代封建王朝都着重投资建设强大的水军力量。越南丁、李、陈、黎、阮等王朝的水军力量不断得到加强和完善。这支水军为捍卫祖国事业作出了巨大贡献,在各个阶段留下了历史烙印。 至今还收藏的古籍显示,越南历代封建王朝早已对黄沙群岛和长沙群岛确立主权、实施...
-
1954 年《日内瓦协议》签署之后,越南暂时被分成南北两方不同政治制度的政体。据此,越南北纬 17 度以南的领土(包括黄沙、长沙两群岛)由越南共和国政府管辖。根据《协议》规定,法国殖民者被迫撤离越南之后,西贡政权立即派遣海军力量接管黄沙、长沙两群岛并对其行使主权。与此同时,...
-
(VOVWORLD) - 越南伟大领袖胡志明主席的思想、道德、作风、革命生涯是越南全党、全民学习和实践胡志明道德榜样的生动和具有说服力的楷模。至今,越南开展学习和实践胡志明道德榜样运动已有 8 年并取得多项重要结果。 胡志明主席在其革命生涯中牺牲个人利益,为祖国和人...
-
越南的黄沙群岛位于东海(中国称南海)北边,处于北纬 15°45′ 至 17°15′ 、东经 110° 至 113° ,距越南广义省李山岛约 120 海里。黄沙群岛由 37 多个岛、洲、礁和沙滩组成,分为西面和东面两个群岛。东面为安永群岛(中国称宣德群岛),由 12 个岛、洲...
-
数十年来,中国人拿出大量书籍、资料和史料,企图证明从两千年前的汉朝起,中国人就发现了西沙和南沙(即越南的黄沙群岛和长沙群岛),从而说古代中国发现西沙南沙群岛就足够证明中国对西沙和南沙的不可争议的领土主权。据说,中国人最迟于唐宋发现南沙群岛至今,就一直在岛上及其海域从事生产活...
-
越南对黄沙、长沙两座群岛的主权不仅在越南古籍和古文献中有记载,而且还出现在西方航海家和传教士等的书籍、报纸、地图、日记、航路指南等外国资料中。这些资料描述黄沙、长沙“是越南中部海上的一块沙渚…”,这和越南同一历史时期资料和古地图描述的类似。法国 1936 年在印度支那建立的...
-
BDN - 位于东海边国土陆地呈 “S” 字形的越南,无形中拥有沿着国土走向三千公里海岸及依照 1982 年《联合国海洋法公约》从岸边向外延伸的辽阔海域。这意味着从越南 1982 年 11 月确定和公布的垂直基线算起往外延伸 200 海里宽的海域属越南的主权,被称作专属经济...
-
从十六、十七世纪至今,西方国家的轮船日益频繁来往于东海。他们来到这里,不只为了扩大贸易还为了传教和传播西方文化。在来往东海期间,西方航海家和传教士们以当时最现代的技术很详细地描述和绘画黄沙群岛和长沙群岛,以避免这两个群岛的礁石给来往的船舶造成危害。为此,他们很仔细地研究东海...
-
香港媒体最近透露中国在东海划分“新边界线”的海洋研究项目,为“资源研究”创造了条件,北京对这片海域的主权主张“增添了筹码”。这条新边界线是一条与囊括了蕴藏着丰富矿产和能源资源的东海海域九段线相吻合的实线,九段线内的海域就是北京声索主权的那片海域。 从国际法的角度来看实线...
Comments[ 0 ]
Đăng nhận xét