15 năm gia nhập WTO - Việt Nam khẳng định vị thế trên đại lộ hội nhập
Nhìn
lại chặng đường 15 năm được kết nạp là thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới
(WTO) đến nay (7/11/2006-7/11/2011), Việt Nam đã có một bước tiến dài trên đại
lộ hội nhập.
Với
17 hiệp định thương mại tự do (FTA) đã và đang đàm phán; trong đó, có 15 hiệp định
thương mại tự do đã ký kết, có hiệu lực và 2 hiệp định thương mại tự do đang
đàm phán đã đưa Việt Nam trở thành một nền kinh tế có độ mở tới 200% tổng sản
phẩm quốc nội (GDP).
Đặc
biệt, quá trình hội nhập cũng được khai thác hiệu quả, gắn tăng trưởng xuất khẩu
với kiểm soát có hiệu quả hoạt động nhập khẩu giúp cán cân thương mại chuyển từ
nhập siêu sang xuất siêu. Vì vậy, WTO được ví như cánh cửa lớn được mở ra để Việt
Nam tự tin bước tới sân chơi toàn cầu.
Tận dụng cơ hội
Đại
diện Cục Xuất Nhập khẩu (Bộ Công Thương) cho biết kể từ năm 2006 trở lại đây là
giai đoạn hội nhập kinh tế sâu rộng bởi Việt Nam trở thành thành viên thứ 150 của
WTO.
Vì
thế, tiếp nối các chính sách và chiến lược ngoại thương của những giai đoạn trước,
tận dụng cơ hội này, các doanh nghiệp Việt Nam đã khai thác tối đa lợi thế để
thúc đẩy xuất khẩu và thâm nhập vào những thị trường mới.
Cùng
với đó, hàng hóa xuất khẩu cũng dần được chuyển dịch cơ cấu theo hướng công
nghiệp hóa, hiện đại hóa, tập trung nâng nhanh tỷ trọng các sản phẩm xuất khẩu
có giá trị gia tăng cao, sản phẩm chế biến sâu, sản phẩm có hàm lượng công nghệ
cao và thân thiện với môi trường.
Thống
kê cho thấy, nếu như năm 2006 tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của cả nước chỉ ở mức
84,7 tỷ USD; trong đó kim ngạch xuất khẩu là 39,8 tỷ USD và nhập khẩu là 44,9 tỷ
USD thì đến năm 2020 tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đã lên tới 545,3 tỷ USD,
tăng 5,3% so với năm 2006; trong đó xuất khẩu đạt 282,6 tỷ USD và nhập khẩu đạt
262,7 tỷ USD.
Riêng
10 tháng năm 2021, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đã đạt 537,31 tỷ USD; trong đó
xuất khẩu đạt 267,93 tỷ USD và nhập khẩu đạt 269,38 tỷ USD.
Đặc
biệt, cán cân thương mại được cải thiện rõ nét, từ mức 14,2 tỷ USD năm 2007 và
3,7 tỷ USD năm 2015. Từ năm 2016 đến nay, cán cân thương mại luôn đạt thặng dư
với mức xuất siêu tăng dần qua các năm từ 1,77 tỷ USD năm 2016; 2,1 tỷ USD năm
2017; 6,8 tỷ USD năm 2018; 10,9 tỷ USD năm 2019. Năm 2020, tiếp tục ghi nhận xuất
siêu kỷ lục trên 19 tỷ USD.
Đáng
chú ý, cơ cấu hàng hóa xuất khẩu tiếp tục cải thiện theo chiều hướng tích cực.
Tỷ trọng hàng công nghiệp chế biến tăng từ 80,3% kim ngạch xuất khẩu năm 2016
lên mức 85,1% năm 2019 và 85,2% trong năm 2020.
Trong
khi đó, tỷ trọng nhóm hàng nhiên liệu, khoáng sản giảm từ 2% tổng kim ngạch xuất
khẩu năm 2016 xuống còn 1% năm 2020. Số mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu đạt
trên 1 tỷ USD tăng dần, từ 28 mặt hàng năm 2016 lên 31 mặt hàng năm 2020.
Hơn
nữa, việc khai thác các Hiệp định thương mại tự do cũng góp phần phát triển xuất
khẩu nhanh và bền vững, giảm dần phụ thuộc vào một hay một vài thị trường. Tổng
kim ngạch xuất khẩu sử dụng các loại C/O ưu đãi theo FTA trung bình đạt
32%-34%/năm. Kết quả này phản ánh doanh nghiệp và hàng hóa xuất khẩu từ Việt
Nam đang dần nâng cao tỷ lệ tận dụng ưu đãi thuế quan tại các thị trường có FTA
với Việt Nam.
Nhận
định về vấn đề này, Thứ trưởng Bộ Công Thương Trần Quốc Khánh nhấn mạnh báo cáo
Rà soát thống kê thương mại thế giới năm 2020 của WTO đã ghi nhận trong số 50
nước có nền thương mại hàng hóa lớn nhất thế giới, Việt Nam có mức tăng trưởng
lớn nhất khi dịch chuyển từ vị trí thứ 39 vào năm 2009 lên vị trí thứ 23 vào
năm 2019. Điều này cho thấy Việt Nam là đất nước “mở” sau khi gia nhập WTO và
thực thi nghiêm túc các cam kết gia nhập.
Hơn
nữa, việc ký kết và thực thi một loạt các FTA, Việt Nam đã đạt được những kết
quả rất tích cực về thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), tạo động lực
cho việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Theo
đánh giá và xếp hạng của Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF), trong 10 năm, chỉ số
Năng lực cạnh tranh toàn cầu (GCI) của Việt Nam đã cải thiện được 13 bậc, từ thứ
hạng 68/131 vào năm 2007 đã lên 55/137 vào năm 2017 và chuyển từ nhóm nửa dưới
của bảng xếp hạng cạnh tranh toàn cầu lên nhóm nửa trên. Năm 2019, WEF đã nâng
hạng GCI của Việt Nam tăng 10 bậc so với năm 2018, xếp thứ 67/141 nền kinh tế.
Bên
cạnh các chỉ số về kinh tế, theo khảo sát và đánh giá của Liên hợp quốc, chỉ số
phát triển bền vững (SDG) của Việt Nam đã liên tục gia tăng từ vị trí 88 vào
năm 2016 lên 57 vào năm 2018 và 49 vào năm 2020. Tỷ lệ hộ nghèo đã giảm từ
9,88% cuối năm 2015 xuống dưới 3% vào năm 2020, với mức giảm trung bình là trên
1,4% mỗi năm.
Theo
Thứ trưởng Trần Quốc Khánh, để đạt được những thành tựu này không phải chỉ sau
một đêm mà đó là kết quả của quá trình dài nỗ lực, bền bỉ và kiên định thực hiện
đồng bộ nhiều chính sách đổi mới, cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô
hình tăng trưởng; nâng cao năng suất và sửa đổi các quy định pháp luật.
Cùng
với đó là quá trình cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh theo hướng hiện đại,
minh bạch, tạo sự cạnh tranh công bằng, bình đẳng cho doanh nghiệp và tiệm cận
với chuẩn mực quốc tế.
Hướng tới bền vững
Tuy
nhiên, giới phân tích đã chỉ ra rằng, từ sau khi Việt Nam hội nhập đến nay,
tăng trưởng xuất khẩu tuy nhanh nhưng chưa vững chắc, rất dễ bị tổn thương bởi
các cú sốc từ bên ngoài.
Hơn
nữa, tính gia công của sản xuất, tính đại lý của thương mại còn rất lớn; các
doanh nghiệp FDI cũng đang thích ứng và tận dụng các ưu thế do các FTA tốt hơn
so với các doanh nghiệp Việt Nam.
Ngoài
ra, những mặt hàng có tốc độ tăng trưởng nhanh và chiếm tỷ trọng lớn đều hạn chế
về năng suất, diện tích, khả năng khai thác (nhóm nông, thủy sản và khoáng sản)
hoặc phụ thuộc quá nhiều vào công nghệ và nguyên liệu hay thị trường ngoài nước
nên giá trị gia tăng thấp (dệt may, da giày). Song song đó là số lượng các vụ
việc điều tra phòng vệ thương mại mới với hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam cũng
gia tăng.
Kể
từ vụ kiện chống bán phá giá đầu tiên với gạo nhập khẩu của Việt Nam vào
Columbia năm 1994, đến nay trung bình mỗi năm có từ 2 đến 3 vụ kiện chống bán
phá giá được tiến hành với hàng xuất khẩu từ Việt Nam. Riêng năm 2020, với 37 vụ
việc - mức cao nhất từ trước đến nay, tăng 2,3 lần so với năm 2019.
Hơn
nữa, việc tập trung quá lớn vào một số thị trường đã làm suy giảm khả năng thực
hiện mục tiêu mở rộng thị trường mới, dẫn tới nguy cơ đánh mất thị trường, khó
có thể phát triển bền vững và duy trì tốc độ tăng trưởng cao cũng như khả năng
chen chân vào các thị trường ngách.
Đáng
lưu ý, lượng phát thải khí nhà kính (GHG) của Việt Nam thực sự đáng báo động, đặc
biệt ở hai lĩnh vực mũi nhọn là nhóm ngành công nghiệp chế biến, chế tạo và xuất
khẩu hàng hóa.
Theo
ông Ngô Chung Khanh - Phó Vụ trưởng Vụ Chính sách thương mại đa biên (Bộ Công
Thương), nhằm hỗ trợ doanh nghiệp tận dụng nhanh, hiệu quả cơ hội từ các FTA
mang lại, ngoài việc cắt giảm thủ tục hành chính, Bộ Công Thương sẽ tiếp tục
tuyên truyền để doanh nghiệp hiểu đúng, đầy đủ và nhanh nhất về các FTA.
Đặc
biệt, Bộ Công Thương sẽ xây dựng Cổng thông tin điện tử FTA (FTAP) là cổng một
cửa. Hiện, chương trình này đã được Chính phủ thông qua, có hơn 20 bộ, ngành sẽ
tham gia Tổ công tác để vận hành và nâng cấp FTAP này.
Trên
FTAP, doanh nghiệp quan tâm đến một sản phẩm xuất khẩu, chỉ cần đánh mã HS sẽ
nhận về đầy đủ thông tin từ thị trường, đối thủ cạnh tranh, quy tắc xuất xứ được
cắt giảm thuế, các hướng dẫn để xuất khẩu đạt hiệu quả cao.
Thứ
trưởng Trần Quốc Khánh khẳng định Việt Nam sẽ tiếp tục thúc đẩy các chính sách
thương mại một cách toàn diện, đồng bộ và hướng tới mục tiêu phát triển kinh tế
đi liền với tăng trưởng bền vững, nâng cao đời sống người dân và đóng góp vào sự
thịnh vượng chung của khu vực và thế giới.
Bên cạnh đó, Việt Nam cũng sẽ thực hiện hiệu quả các cam kết quốc tế và FTA hiện hành cũng như tìm kiếm các đối tác tiềm năng để xúc tiến việc đàm phán các FTA mới, góp phần mở rộng quan hệ thương mại trong tương lai./.
Hot (焦点)
-
胡志明是二十世纪越南革命杰出的马克思主义思想家。他老人家的思想是马克思列宁主义在符合越南的条件和历史背景基础上的运用、发展与创新,体现着时代精神及现代与当代世界的运动与发展趋势。 1 、胡志明思想、道德、风格体系的道德榜样。他老人家的思想合成了越南革命及革命之路的战略策...
-
为维护国家海岛主权,越南历代封建王朝都着重投资建设强大的水军力量。越南丁、李、陈、黎、阮等王朝的水军力量不断得到加强和完善。这支水军为捍卫祖国事业作出了巨大贡献,在各个阶段留下了历史烙印。 至今还收藏的古籍显示,越南历代封建王朝早已对黄沙群岛和长沙群岛确立主权、实施...
-
1954 年《日内瓦协议》签署之后,越南暂时被分成南北两方不同政治制度的政体。据此,越南北纬 17 度以南的领土(包括黄沙、长沙两群岛)由越南共和国政府管辖。根据《协议》规定,法国殖民者被迫撤离越南之后,西贡政权立即派遣海军力量接管黄沙、长沙两群岛并对其行使主权。与此同时,...
-
(VOVWORLD) - 越南伟大领袖胡志明主席的思想、道德、作风、革命生涯是越南全党、全民学习和实践胡志明道德榜样的生动和具有说服力的楷模。至今,越南开展学习和实践胡志明道德榜样运动已有 8 年并取得多项重要结果。 胡志明主席在其革命生涯中牺牲个人利益,为祖国和人...
-
越南的黄沙群岛位于东海(中国称南海)北边,处于北纬 15°45′ 至 17°15′ 、东经 110° 至 113° ,距越南广义省李山岛约 120 海里。黄沙群岛由 37 多个岛、洲、礁和沙滩组成,分为西面和东面两个群岛。东面为安永群岛(中国称宣德群岛),由 12 个岛、洲...
-
数十年来,中国人拿出大量书籍、资料和史料,企图证明从两千年前的汉朝起,中国人就发现了西沙和南沙(即越南的黄沙群岛和长沙群岛),从而说古代中国发现西沙南沙群岛就足够证明中国对西沙和南沙的不可争议的领土主权。据说,中国人最迟于唐宋发现南沙群岛至今,就一直在岛上及其海域从事生产活...
-
越南对黄沙、长沙两座群岛的主权不仅在越南古籍和古文献中有记载,而且还出现在西方航海家和传教士等的书籍、报纸、地图、日记、航路指南等外国资料中。这些资料描述黄沙、长沙“是越南中部海上的一块沙渚…”,这和越南同一历史时期资料和古地图描述的类似。法国 1936 年在印度支那建立的...
-
BDN - 位于东海边国土陆地呈 “S” 字形的越南,无形中拥有沿着国土走向三千公里海岸及依照 1982 年《联合国海洋法公约》从岸边向外延伸的辽阔海域。这意味着从越南 1982 年 11 月确定和公布的垂直基线算起往外延伸 200 海里宽的海域属越南的主权,被称作专属经济...
-
从十六、十七世纪至今,西方国家的轮船日益频繁来往于东海。他们来到这里,不只为了扩大贸易还为了传教和传播西方文化。在来往东海期间,西方航海家和传教士们以当时最现代的技术很详细地描述和绘画黄沙群岛和长沙群岛,以避免这两个群岛的礁石给来往的船舶造成危害。为此,他们很仔细地研究东海...
-
香港媒体最近透露中国在东海划分“新边界线”的海洋研究项目,为“资源研究”创造了条件,北京对这片海域的主权主张“增添了筹码”。这条新边界线是一条与囊括了蕴藏着丰富矿产和能源资源的东海海域九段线相吻合的实线,九段线内的海域就是北京声索主权的那片海域。 从国际法的角度来看实线...




Comments[ 0 ]
Đăng nhận xét