Việt Nam không giới hạn sử dụng Internet và mạng xã hội
Hằng năm, tổ chức
Freedom House có trụ sở tại Mỹ đã tự khoác cho mình chiếc áo nhân quyền, công bố
bản báo cáo về tự do Internet của hơn 60 quốc gia trên thế giới. Trong đó, tổ
chức này nhiều lần xếp Việt Nam vào nhóm các quốc gia không có tự do Internet.
Đây là một đánh giá thiếu khách quan, phản ánh không đúng những gì đang diễn ra
thực tế ở Việt Nam.
Chúng ta chỉ cần lấy
một ví dụ, từ năm ngoái đến năm nay, cả nước tập trung cho phòng, chống dịch
Covid-19. Trên các trang báo điện tử, đặc biệt là mạng xã hội có rất nhiều ý kiến,
sáng kiến, những tâm tư, nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân gửi tới lãnh đạo
Đảng và Nhà nước. Lãnh đạo Đảng và Nhà nước cũng rất cầu thị, tiếp thu ý kiến của
nhân dân để kịp thời điều chỉnh sao cho chính sách phòng, chống dịch Covid-19
càng ngày càng hoàn thiện hơn. Ai cũng có thể thấy việc tự do trình bày ý kiến,
tự do sử dụng các mạng xã hội ở Việt Nam. Nếu như ai đó nói rằng, “Việt Nam
ngăn cản” hoặc “bóp nghẹt quyền công dân” là hoàn toàn không đúng thực tiễn.
Chúng ta thấy rằng,
Việt Nam được đánh giá là một trong những quốc gia có tốc độ phát triển và sử dụng
Internet cao nhất trên thế giới. Sau 20 năm xuất hiện Internet tại Việt Nam (từ
năm 1997), chúng ta đã có tới hơn 60 triệu người sử dụng Internet, trong đó
riêng mạng xã hội Facebook có gần 50 triệu người sử dụng, đồng thời Nhà nước Việt
Nam cũng tạo điều kiện để hình thành một số mạng xã hội của riêng mình hoặc
liên kết giữa Việt Nam và các nước. Ví dụ như mạng Zalo, Viber, Zingme… Điều đó
cho thấy, mạng xã hội rất phổ biến ở Việt Nam. Tự do báo chí, tự do trình bày
các quan điểm và sử dụng mạng xã hội ở Việt Nam phù hợp với sự phát triển của
thế giới, khu vực cũng như sự phát triển của đất nước trong thời gian vừa qua.
Trung ương và các bộ,
ngành, đặc biệt là cá nhân Thủ tướng rất quan tâm đến việc tạo điều kiện cho
nhân dân, các cơ quan, doanh nghiệp sử dụng tối đa việc chuyển đổi số, sử dụng
mạng Internet và mạng xã hội phục vụ cho công việc, học tập. Chính vì vậy, những
khu vực vùng sâu, vùng xa cũng được tạo điều kiện hết mức để có thể tiếp cận Ỉnternet.
Ví dụ như chương trình Sóng và máy tính cho em, cũng là một chương trình rất
nhân đạo, giảm giá cước cho các thuê bao, tạo điều kiện cho người dân tiếp cận
với Internet và mạng xã hội. Chúng tôi cho rằng, thực tế đó minh chứng rằng, Đảng và Nhà nước chúng ta
tạo điều kiện tối đa cho người dân trong việc sử dụng Internet và mạng xã hội,
góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống.
Mỗi một con người,
trước tiên là trong cuộc sống xã hội phải ứng xử sao cho phù hợp. Vậy thì việc
sử dụng mạng xã hội cũng vậy. Khi bày tâm tư, nguyện vọng, những ý kiến trên mạng
xã hội thì chúng ta cũng phải có trách nhiệm, trách nhiệm đối với đất nước,
trách nhiệm với cộng đồng và trách nhiệm đối với bản thân mình. Cho nên mọi lời
nói, phát ngôn cũng như bày tỏ nguyện vọng trên mạng xã hội cũng cần có sự ứng
xử phù hợp. Nhà nước tạo điều kiện và không cấm công dân có quyền trình bày.
Tuy nhiên, khi trình bày, họ cũng phải tuân thủ những nguyên tắc. Đối với quốc
gia phải tuân thủ pháp luật, đối với cộng đồng phải tuân thủ quy chế, đối với
gia đình và bản thân mình phải có văn hóa ứng xử cho nó phù hợp, để làm sao những
điều mà mình nói ra, mình phát biểu ra phải tạo ra một môi trường xã hội lành mạnh
và con người sống thân thiện với nhau nhằm mục tiêu xây dựng và phát triển đất
nước.
Khi nghiên cứu về
an ninh quốc gia thì có chủ quyền quốc gia. Trước đây, chúng ta thường nhấn mạnh
chủ quyền quốc gia liên quan đến thể chế chính trị, đến vùng đất, vùng trời,
vùng biển. Ngày nay, thì chúng ta quan tâm rất nhiều đến không gian mạng. Mỗi một
quốc gia, trong đó có Việt Nam đều có chủ quyền được xác lập trên không gian mạng
của mình. Luật An ninh mạng, Luật an toàn thông tin của chúng ta xác định rất
rõ, bất cứ một hành vi nào sử dụng mạng xã hội để vi phạm chủ quyền không gian
mạng quốc gia của Việt Nam thì sẽ bị xử lý theo các quy định, từ xử lý hình sự
cho đến xử phạt hành chính. Cho nên, công dân hoàn toàn có quyền nêu ý kiến,
nguyện vọng của mình trên mạng xã hội. Tuy nhiên, phải đảm bảo rằng, những ý kiến
đó không xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích của xã hội và lợi ích của
công dân, trong đó có lợi ích của chính bản thân mình.
Để ngăn chặn ý đồ làm nhiễu loạn thông tin trên môi trường, việc đầu tiên là chúng ta phải kiểm soát được việc sử dụng mạng xã hội. Thứ hai, chúng ta phải tăng cường thông tin chính thống kịp thời để những thông tin giả mạo không còn “đất sống”. Vấn đề thứ ba là bản thân mỗi người cũng phải kiểm định xem những thông tin mình nhận được đúng - sai ra sao để tự mình sáng lọc, miễn nhiễm với những thông tin sai trái, trước tiên cho bản thân mình và sau đó là ngăn ngừa những thông tin xấu đối với người thân, gia đình, bạn bè, đồng nghiệp của mình.





Comments[ 0 ]
Đăng nhận xét