关于俄罗斯总统普京访问越南的舆论
18:22 |
2013年11月12日,应越南国家主席张晋创的邀请,俄罗斯联邦总统弗拉基米尔·普京对越南进行国事访问。此次访问受到世界上诸多国家的关注,国际媒体也围绕该事件进行了大量的报道,同时赞誉越
– 俄两国之间的良好关系。
普京总统访问越南成为俄罗斯几乎所有通讯社、电视台,报社的焦点。俄罗斯的RIA新社、今日俄罗斯电视台、莫斯科时报、文传电讯社、俄罗斯之声等主要通讯社、电视台都对围绕本次访问进行了隆重的报道,认为普京总统的此次访越是两国传统的友谊与合作关系的重要进步;本次方位具有重要的政治与经济意义,证明越- 俄两国在亚太地区具有共同的发展道路。越 – 俄的伙伴关系正真正成为亚太地区国际关系的主要因素。
另外,俄罗斯的诸多政治家、科学家都一致认为本次访问是非常重要的时间,开辟了一个全新的,前途光明的双边合作关系。越南是东南亚地区第一个在和领域中受到俄罗斯关于建设基础设施,直接培训技术人员的帮助的国家(现有99名越南大学生在俄罗斯学习该专业)。国防合作也是两国关系的战略领域。俄罗斯曾经并正在为越南装备现代武器以保护国家并且巩固世界与地区和平稳定创造了最有利的条件。越
– 俄关系是传统多年的战略伙伴关系,在相互信任基础上得到发展。
与此同时,中国媒体也密切关注俄罗斯总统的此次访越。中国的诸多媒体都对此次访问进行报道、分析、评论,认为越南也是今年继中国之后,普京访问的第二个亚太国家。普京总统此次访越体现了两国之间通过定期举行的高层互访不断巩固与发展的相互信任与友谊关系。两国高层领导人一直保持互访,每年都定期举行关于外交及国防安全的战略对话,定期举行两国外交部的政治磋商。在国际和地区事务上,两国也一直保持密切合作,并经常向对方表示支持。在国际和地区事务上,两国也能保持密切合作。值得注意的是,中国媒体评论称国防合作是越– 俄关系最突出的合作领域。越南正在进行全面现代化国防力量,并近年来成为了俄罗斯主要的武器进口国家。俄罗斯通过到2016年出售6艘基洛级潜艇合同帮助越南建立潜艇力量。普京总统关于加强与越南的国防合作,向越南军队提供现代的武器装备可是使中国在东海问题继续紧张的背景下感到担忧;俄罗斯向越南转让现代武器制造技术奖改变俄罗斯与中国的全球战略。
与此同时,国际媒体也对本次访问给予高度关注。日本媒体认为虽然俄罗斯仍继续推动与中国在多项领域中的合作,但仍继续保持并推动与越南的全面战略伙伴关系,认为越南是抗衡中国崛起的战略李毅亮点。本次访问是俄罗斯“向东”战略的重要部分,与日本、朝鲜、韩国、越南、印度形成制约中国的封锁带。
另外,据英国(路透社)、法国(AFP)、美国(AP)等通讯社报道,能源与国防合作是越-俄合作关系的两大支柱。两国将推进在越南大陆架的勘探与开发油气合作,同时俄罗斯将继续加强向越南提供现代军事装备。
一些国际评论专家认为越南在俄罗斯的亚太对外战略中具有非常重要的位置,因为越南正成为东南亚地区具有战略实力的国家,同时也是东盟的积极成员国,而俄罗斯正希望在亚太地区扮演更具重要的角色。所以,俄罗斯的此次访越不仅对俄
– 越的经济、贸易合作增加新动力,同时也是俄罗斯联邦“向东”战略中重要的一部分以增加俄罗斯在亚太地区的地位。
另外,一部分舆论认为越南是从1950年期连续维持与俄罗斯的外交关系少数的东南亚国家。虽然上世纪90年后俄 – 越关系受到冲击,总体来看这是个传统多年的友谊关系。这也形成越南与俄罗斯联邦关系“特殊性质”的重要因素。
俄罗斯总统的此次访越一行圆满结束,两国签署了16个合作文件。此次访问对两国人民以及国际社会留下了深刻的印象。我们更加坚定越南 – 俄罗斯联邦关系的美好未来的信心。
Dư luận về chuyến thăm Việt Nam của Tổng thống Putin
18:20 |
Ngày
12/11/2013, nhận lời mời của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, Tổng thống Nga
VladimirPutin đã thực hiện chuyến thăm cấp nhà nước Việt Nam. Chuyến thăm đã
thu hút được sựquan tâm đặc biệt của nhiều nước trên thế giới và truyền thông
quốc tế đã đưa tin đậm nét xung quanh sự kiện này, đồng thời ca ngợi mối quan
hệ tốt đẹp giữa hai nước.
Chuyến
thăm Việt Nam của Tổng thống Putin đã trởthành tâm điểm của hầu hết các hãng
thông tấn, báo chí, truyền hình lớn ở Nga. Các hãng thông tấn, truyền hình lớn
ở Nga (RIA-Novosti, Truyền hình RT – Russia Today, The Moscow Times, Interfax,
The Voice of Russia,…) đều trang trọng đăng tải thông tin về chuyến thăm, cho
rằng chuyến thăm lần này của Tổng thống Putin là một bước tiến quan trọng giữa
hai đất nước vốn đã có truyền thống hữu nghị,hợp tác lâu đời mà theo Tổng thống
Putin “mối quan hệ này còn trên cả quan hệ đối tác chiến lược”; chuyến thăm có
ý nghĩa quan trọng cả về chính trị lẫn kinh tếvà chứng minh một điều là hai
nước Nga, Việt đang có cùng chung một đường hướng phát triển trong khu vực châu
Á – Thái Bình Dương. Quan hệ đối tác Nga – Việtđang thực sự trở thành yếu tố
chủ đạo của toàn bộ hệ thống quan hệ tại châu Á –Thái Bình Dương.
Các
chính trị gia, nhà khoa học Nga cũngđưa ra nhiều đánh giá, nhận định rằng
chuyến thăm là sự kiện quan trọng, mở ra một thời quan hệ hợp tác hoàn toàn mới
mẻ và đầy triển vọng giữa hai nước. Việt Nam là nước đầu tiên ở Đông Nam Á được
Nga giúp đỡ về xây dựng cơ sở vật chất, trực tiếp đào tạo đội ngũ cán bộ kỹ
thuật về lĩnh vực hạt nhân cho Việt Nam (hiện có 99 sinh viên Việt Nam đang
theo học ngành này tại Nga). Một yếu tố mang tầm chiến lược là vấn đề hợp tác
quân sự. Trên thực tế, Nga đã và đang tạo mọi điều kiện tốt nhất để giúp đỡ
Việt Namtrang bị vũ khí trong công cuộc bảo vệ đất nước và góp phần củng cố vị
thế hòa bình trong khu vực và trên thế giới. Quan hệ Việt Nam – Nga là mối quan
hệ đối tác chiến lược được phát triển trên cơ sở quan hệ lâu đời, tin cậy lẫn
nhau từ thời Xô Viết.
Trong
khi đó, dư luận Trung Quốc cũng dõi theo chuyến thăm Việt Namcủa Tổng thống
Putin. Báo chí và các trang tin điện tử Trung Quốc đã đưa tin, phân tích, bình
luận về chuyến thăm, cho rằng Việt Nam là quốc gia thứ hai ở khu vực châu Á –
Thái Bình Dương sau Trung Quốc mà Tổng thống Putin đến thăm trong năm nay.
Chuyến thăm Việt Nam của Tổng thống Putin thể hiện sự tin tưởng lẫn nhau của hai
nước không ngừng phát triển và củng cố qua các chuyến thăm cấp cao diễn ra
thường xuyên. Mỗi năm hai nước đều định kỳ tổ chức đối thoại chiến lược về
ngoại giao và an ninh – quốc phòng, định kỳ tổ chức tham vấn chính trị giữa hai
BộNgoại giao. Trong các vấn đề khu vực và quốc tế, hai nước thường có sự hợp
tác mật thiết và luôn giành sự ủng hộ cho nhau. Chuyến thăm lần này nhằm thúc
đẩy quan hệ đối tác chiến lược toàn diện giữa hai nước lên tầm cao mới. Đáng
chú ý, các hãng thông tấn Trung Quốc đánh giá hợp tác quốc phòng là điểm nổi
bật nhất trong mối quan hệ Nga – Việt. Việt Namđang tiến hành hiện đại hóa toàn
diện quân đội và những năm gần đây Việt Nam đã trở thành một trong những nước
nhập khẩu vũ khí chủ yếu của Nga. Nga đã giúp đỡViệt Nam xây dựng lực lượng tàu
ngầm thông qua việc chuyển giao 6 chiếc tàu ngầm Kilo hiện đại cho Việt
Namtrước năm 2016. Cam kết của Tổng thống Putin về việc tăng cường hợp tác quân
sự,cung cấp vũ khí hiện đại cho Quân đội Việt Nam có thể khiến Trung Quốc lo
ngại, nhất là trong bối cảnh căng thẳng trên Biển Đông tiếp tục kéo dài; việc
Nga chuyển giao các dây chuyền chế tạo vũ khí hiện đại cho Việt Nam sẽ làm thay
đổi chiến lược toàn cầu của Nga và Trung Quốc.
Bên
cạnh đó, báo chí quốc tế cũng dành sựquan tâm chú ý tới sự kiện này. Báo chí
Nhật Bản cho rằng mặc dù Nga vẫn đang tăng cường thúc đẩy hợp tác toàn diện với
Trung Quốc trên nhiều lĩnh vực, nhưng vẫn tiếp tục duy trì và nâng tầm quan hệ
đối tác toàn diện với Việt Nam, coi Việt Nam là điểm nhấn lợi ích mang tính
chiến lược nhằm đối trọng với sự lớn mạnh của Trung Quốc. Chuyến thăm Việt Nam
lần này nằm trong chiến lược “hướng Đông” của Nga trong quan hệ với Nhật Bản,
Triều Tiên, Hàn Quốc, Việt Nam và Ấn Độ nhằm tạo vành đai phong tỏa, kiềm chế
Trung Quốc.
Còn
theo các hãng thông tấn lớn của Anh (Reuters), Pháp (AFP), Mỹ (AP), hợp tác
năng lượng và quân sự là hai trụ cột trong quan hệ giữa Việt Nam và Nga. Hai
nước sẽ thúc đẩy hợp tác trong thăm dò và khai thác dầu khí trên thềm lục địa
Việt Nam,đồng thời Nga sẽ tiếp tục tăng cường cung cấp các thiết bị quân sự
hiện đại cho Việt Nam.
Một
số chuyên gia quốc tế nhận định Việt Nam có vai trò rất quan trọng trong chính
sách đối ngoại của Nga ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương vì Việt Nam đang nổi
lên là một nước có sức mạnh chiến lượcở Đông Nam Á và là một thành viên tích
cực của ASEAN trong khi Nga muốn có vai trò lớn hơn trong khu vực châu Á – Thái
Bình Dương. Vì vậy, chuyến thăm lần này của Tổng thống Nga không chỉ tăng thêm
động lực mới cho quan hệ kinh tế, thương mại Nga – Việt mà còn là một phần
trong chính sách “hướng Đông” của Liên bang Nga nhằm tạo vị thế của Nga ở khu
vực châu Á – Thái Bình Dương.
Ngoài
ra, một số dư luận cho rằng Việt Nam là một trong số rất ít nước ở Đông Nam Á
duy trì quan hệ liên tục với Nga kể từkhi thiết lập quan hệ ngoại giao năm
1950. Mối quan hệ Nga – Việt cũng có thời kỳ tạm lắng do bối cảnh của hậu Xô
Viết vào những năm 90. Tuy nhiên, nhìn chung thì bức tranh toàn cảnh vẫn đậm
nét hữu nghị truyền thống. Đây cũng là một trong những yếu tố tạo nên “tính
chất đặc biệt” trong mối quan hệ giữa Việt Nam và Liên bang Nga.
Chuyến thăm Việt
Nam của Tổng thống Putin đã kết thúc với kết quả hết sức tốt đẹp và để lại ấn
tượng sâu đậm trong lòng nhân dân hai nước cũng như với dư luận quốc tế. Chúng
ta có niềm tin vững chắc về một tương lai tương sáng trong quan hệ hai nước
Việt Nam – Liên bang Nga.
越南当选联合国人权理事会成员的意义
10:58 |
2013年11月12日,第68届联合国大会投票改选2014-2016年度联合国人权理事会14个成员国,越南在14个候选国中以最高票数(192票中获得184赞成票)首次当选为联合国人权理事会成员。
这是个具有重大意义的事件,充分体现了国际社会对越南在革新时期的政策,努力和在建设法治国家、发挥民主、保障人民权益等领域中所取得的成就的高度的评价。
虽然近期,特别是在越南候选联合国人权理事会期间,各方敌对势力通过各种方式与手段歪曲宣传越南的民主、人权、宗教自由情况但事实仍旧是事实,国际社会不会被这些歪曲的宣传所蒙蔽,他们不可能否认越南在发展人民权益中所取得的巨大成果,体现在越南人民的日常生活。
这些年来,越南在民事、政治、经济、文化、社会等各个领域的人权保障工作中取得了诸多成就。国家的所有成就都是为了人民。党和政府的所有政策都出发于给人民带来利益的基础上。人民的基本自由权益在宪法与法律文献均有具体规定,并在现实生活中得到保障。越南人民积极参与到社会生活的各方面。人权得到保障与发挥是越南社会和谐稳定以及越南革新取得重大成就的重要因素。像世界上的所有国家一样,所有违法行为都要依法处理。越南是个法治国家,所有违法法律的行为均依照越南法律与国际法律规定处理,其中包括关于民事、政治权益的国际公约。所以,所有利用自由民主权益试图进行危害国家安全活动必然要受到处理,这是每个国家的平常事物,敌对势力没有任何理由因此高调宣称越南政府侵犯民主、人权、宗教自由。
另外,越南当选联合国人权理事会也是标志着我党与政府再展开对外政策进程中的新发展,体现了越南在国际舞台上日益提高的地位和威望。这并不是一个偶然的成功,它表明了我国日益发展的国力,是越南在东盟、亚太经合组织、亚欧会议的成功,以及国际社会支持越南举办2015年各国议会联盟大会和2017年亚太经济合作组织首脑会议的成功的延续。
在未来3年,作为联合国人权理事会成员,越南将以全面与深入融入国际社会精神积极与主动参与理事会的共同事物,履行联合国成员国以及联合国人权理事会成员的义务与承诺。越南也将努力与各成员国密切配合,在建设与负责任精神基础上对国际社会共同关注的人权问题做出贡献;积极推进对国际话,合作以及全面、平衡与彻底地解救而个人权问题;对提高人权理事会与联合国关于人权问题的其他机制的有效活动做出贡献。
作为人权理事会成员国,越南将有条件表明我党,政府关于人权和外交政策的观点、立场、一贯政策,分享越南在保障人权问题,特别是建设法治国家,巩固与提高过会地位,改革司法过程中的成功经验;尊重与保障人民在经济、社会、文化,政治,民事领域中的权益的实际情况;越南在减贫、粮食安全、社会保障、实现千年发展目标的积极结果,从而对反驳关于越南民主任泉情况的歪曲信息做出贡献。
另外,参与联合国人权理事会工作也是我国提高干部队伍能力的好机会,为在国际一体化背景下更加深入地参与到各重要的多边机制做好准备。
联合国人权理事会的基本信息
联合国人权理事会(英语:United
Nations Human Rights Council)是联合国大会的下属机构,于3006年3月15日依照A/RES/60/251决议取代被各国认为运行低效的人权委员会(CHR)而成立。2006年6月19日联合国人权理事会首次会议在瑞士日内瓦召开,100多个国家参加了会议,墨西哥籍的Luis
Alfonso de Alba被选为人权理事会主席。
联合国人权理事会共包括代表全世界所有地区的47个成员国,每届任期3年。 人权理事会是联合国保护与推进人权的最重要机构。联合国人权理事会办事机构包括咨询委员会、人权事务高级专员办事处、由特别报告员、特别代表、独立专家和工作组组成的特别程序、投诉程序、特别是普遍定期审议。普遍定期审议(UPR)是一个独特的程序,涉及对所有联合国成员国的人权记录进行审议,每个国家借此机会公开其为改善国内人权状况而采取的行动及其履行人权义务的情况。
保护和促进人权是主要的国际问题之一,是联合国的三大支柱活动之一。鉴于人权问题的重要性,建立人权理事会,对联合国和联合国各组织进行改革的主要行动之一。
Ý nghĩa của việc Việt Nam trúng cử Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc
10:56 |
Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc trong một phiên họp
Ngày 12/11/2013, trong cuộc bỏ phiếu kín tại Đại hội đồng
Liên Hợp Quốc lần thứ 68 ở New York, Việt Nam đã trúng cử thành viên Hội đồng
Nhân quyền nhiệm kỳ 2014-2016 với số phiếu cao nhất (184/192) trong số 14 nước
thành viên mới được bầu.
Đây là sự kiện có ý nghĩa hết
sức quan trọng thể hiện sự ghi nhận và đánh giá cao của cộngđồng quốc tế đối với
chính sách, nỗ lực và thành tựu của Việt Nam trong công cuộc Đổi mới toàn diện,
trong đó có việc xây dựng Nhà nước pháp quyền, phát huy dân chủ và bảo đảm ngày
càng tốt hơn các quyền của người dân.
Mặc dù, thời gian qua, đặc
biệt là trong dịp Việt Nam ứng cử thành viên Hội đồng Nhân quyền LHQ, các thế lực
thù địch bằng nhiều hình thức, thủ đoạn ra sức tuyên truyền xuyên tạc, bóp méo
tình hình dân chủ, nhân quyền, tự do tôn giáo ở Việt Nam nhằm chống phá chính
quyền Việt Nam nhưng sự thật vẫn là sự thật, cộng động quốc tế đã không bị các
luận điệu xuyên tạc nói trên làm mờ mắt, họ không thể phủ nhận những thành quả
của Việt Nam đã đạt được trong việc phát triển quyền con người được hiển hiện
trong đời sống hàng ngày của người dân Việt Nam.
Trong những năm qua, Việt
Nam đã đạt được nhiều thành tựu to lớn trong việc đảm bảo quyền con người trên
tất cả các lĩnh vực dân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội. Mọi thành tựu của
đất nước đều hướng tới người dân. Tất cả các chủ trương, chính sách của Đảng và
Nhà nước đều dựa trên cơ sở mang lại quyền lợi cho người dân. Các quyền tự do
cơ bản của người dân được quy định cụ thể trong Hiến pháp và các văn bản pháp
luật và được đảm bảo trên thực tế. Người dân Việt Nam tích cực tham gia vào mọi mặt của
đời sống xã hội. Quyền con người được đảm bảo và phát huy là nhân tố quan trọng
tạo sự đồng thuận xã hội, đưa đến thành công của công cuộc đổi mới ở Việt Nam . Như ở bất
cứ quốc gia nào, mọi hành vi vi phạm pháp luật đều phải bị xử lý. Việt Nam là
một Nhà nước pháp quyền. Tại Việt Nam, các hành vi vi phạm pháp luật được xử lý
theo đúng các quy định của pháp luật Việt Nam, phù hợp với các quy định của luật
pháp quốc tế, trong đó có Công ước Quốc tế về các quyền dân sự, chính trị. Do
đó, các phần tử cơ hội chính trị, biến chất lợi dụng các quyền tự do dân chủ để
âm mưu hoạt động chống phá Nhà nước Việt Nam đương nhiên phải bị truy tố, xét xử,
đây là việc làm bình thường đối với mỗi quốc gia, không có lý do gì để các thế
lực thù địch vin cớ rêu rao rằng chính quyền Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền,
tự do tôn giáo.
Bên cạnh đó, việc Việt Nam
trúng cử Hội đồng Nhân quyền LHQ là thành công to lớn, đánh dấu bước tiến mới
trong nỗ lực triển khai chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta, phản ánh
vị thế và uy tín của đất nước ngày càng được nâng cao trên trường quốc tế.
Thành công này không đến một cách ngẫu nhiên, nó thể hiện thế và lực của đất nước
đang ngày một vững chắc hơn, là sự tiếp nối của những thành công của Việt Nam
trong ASEAN, APEC, ASEM cũng như thành công trong việc cộng đồng quốc tế ủng hộ
Việt Nam đăng cai Đại hội đồng Liên minh Nghị viện thế giới năm 2015 và Hội nghị
cấp cao APEC năm 2017.
Với tinh thần đẩy mạnh hội nhập quốc
tế sâu rộng và toàn diện, trong
nhiệm kỳ 3 năm sắp tới làm thành viên Hội đồng Nhân quyền, Việt Nam sẽ tham
gia tích cực và chủ động đóng góp vào công việc chung của Hội đồng, thực hiện tốt
các nghĩa vụ và cam kết của một quốc gia thành viên Hội đồng Nhân quyền và
thành viên LHQ. Việt Nam cũng sẽ phối hợp chặt chẽ với các nước thành viên nhằm
tăng cường đóng góp trên tinh thần xây dựng và có trách nhiệm vào các vấn đề
nhân quyền mà cộng đồng quốc tế quan tâm; tích cực thúc đẩy đối thoại, hợp tác
quốc tế và việc tiếp cận các vấn đề nhân quyền một cách cân bằng, tổng thể và
toàn diện; đóng góp vào việc nâng cao hiệu quả hoạt động của Hội đồng Nhân quyền
và các cơ chế khác của LHQ về nhân quyền.
Là một quốc gia thành viên của Hội đồng,
Việt Nam sẽ có điều kiện đề cao quan điểm, lập trường, chính sách nhất quán của
Đảng, Nhà nước ta về quyền con người và các định hướng lớn trong chính sách đối
ngoại của ta, đồng thời chia sẻ các kinh nghiệm thành công của Việt Nam trong
việc bảo đảm quyền con người, đặc biệt về xây dựng Nhà nước pháp quyền, tăng cường
vai trò của Quốc hội, cải cách tư pháp; thực tế tôn trọng và đảm bảo các quyền
con người về kinh tế, xã hội, văn hóa và dân sự,chính trị tại Việt Nam, kết quả
tích cực về xóa đói giảm nghèo, đảm bảo an ninh lương thực, an sinh xã hội, thực
hiện tốt các Mục tiêu Thiên niên kỷ về Phát triển. Qua đó góp phần phản bác các
thông tin sai lệch, các luận điệu tuyên truyền xuyên tạc về tình hình dân, chủ,nhân
quyền tại Việt Nam .
Ngoài ra việc tham gia vào các công
việc của Hội đồng Nhân quyền cũng là cơ hội tốt để ta nâng cao năng lực của đội
ngũ cán bộ, sẵn sàng tham gia sâu hơn vào các cơ chế đa phương quan trọng trong
bối cảnh tăng cường hội nhập quốc tế.
Một số thông tin cơ bản về Hội động
Nhân quyền LHQ
Hội đồng Nhân quyền LHQ (tiếng Anh:
United Nations Human Rights Council) là một tổ chức trực thuộc Đại Hội đồng LHQ được thành lập vào ngày 15/3/2006 theo Nghị quyết
A/RES/60/251 nhằm thay thế Ủy ban Nhân quyền (CHR) bị các nước phê phán hoạt động
kém hiệu quả. Nghị quyết trên nhận được sự ủng hộ của hầu hết các thành viên LHQ,
trừ Mỹ, Israel, Palau và quần đảo Marshall bỏ phiếu chống và Belarus,
Iran và Venezuela
bỏ phiếu trắng. Ngày 19/6/2006, Hội đồng Nhân quyền LHQ đã họp phiên đầu tiên tại Genève
(Thụy Sĩ) với sự tham gia của trên 100 quốc gia và tại phiên họp, ông Luis Alfonso de Alba (người
Mexico)
đã được bầu là Chủ tịch Hội đồng Nhân quyền.
Hội đồng Nhân quyền gồm 47 quốc gia thành viên đại diện cho tất cả các khu
vực, được bầu với nhiệm kỳ 3 năm, là cơ quan chịu trách nhiệm chính và quan trọng
nhất của LHQ trong việc thúc đẩy và bảo vệ nhân quyền trên thế giới. Hội đồng
có nhiều cơ chế giúp việc như Ủy ban Tư vấn, Văn phòng Cao ủy Nhân quyền, các
Thủ tục đặc biệt gồm 48 Báo cáo viên đặc biệt, Chuyên gia độc lập hoặc Nhóm làm
việc, Thủ tục Khiếu nại và đặc biệt là Cơ chế Kiểm điểm phổ cập định kỳ (UPR)
mà theo đó, tất cả các nước phải định kỳ nộp báo cáo và kiểm điểm trước Hội đồng
Nhân quyền về việc đảm bảo quyền con người tại nước mình.
Bảo vệ và thúc đẩy quyền con người là một trong những vấn đề quốc tế lớn,
là một trong ba trụ cột hoạt động chính của LHQ, bên cạnh các vấn đề hòa bình,
an ninh quốc tế và hợp tác phát triển. Với tầm quan trọng như vậy của vấn đề
quyền con người, việc thành lập Hội đồng Nhân quyền là một trong những hành động
nhằm cải tổ LHQ và các tổ chức thuộc LHQ.
第5次东海问题国际学术研讨会开幕
10:45 |
外交部外交学院11月11日在河内举行题为“东海:为地区安全与发展合作”的第5次东海问题国际学术研讨会,吸引来自东盟各国、中国、日本、美国等国政府代表、学者、专家和越南外交使团等的200名代表参加。
第5次东海问题国际学术研讨会共举行9 场讨论会,涵盖的主题包括东海最近形势、东盟和东海问题、大国与东海问题的关系、国际法、1982年《联合国海洋法公约》与东海问题、涉及东海问题的国际法的进展、 处理海上争端的国际和地区经验、对《东海各方行为宣言》的内容和实施情况进行评价、突发事件管理和东海的未来等。
将来,东海仍存在许多不确定性、且为世界上争端最为复杂的地区之一。本次研讨会是各国领导、东海问题专家学者就维护东海和平、稳定、安全和航行安全为各国带来的共同利益;提出加强安全与合作以及解决东海争端等的措施;制定有效管理东海争端和预防冲突发生的有效机制等问题深入讨论并增进了解的平台。
本次研讨会将于2013年11月12日结束。
Hội thảo khoa học quốc tế về Biển Đông lần thứ 5
10:43 |
Ngày 11-11, Hội
thảo khoa học quốc tế về Biển Đông lần thứ 5 với chủ đề “Biển Đông: Hợp tác vì
an ninh và phát triển trong khu vực”, khai mạc tại Hà Nội. Hội thảo diễn ra
trong hai ngày 11 và 12-11 với sự tham dự của khoảng 200 đại biểu đại diện
chính phủ, giới học giả, chuyên gia các nước từ ASEAN, Trung Quốc, Nhật Bản,
Mỹ… và ngoại giao đoàn tại Việt Nam.
Hội thảo tập trung
vào các chủ đề: Những diễn biến gần đây tại Biển Đông; ASEAN và vấn đề Biển
Đông; quan hệ giữa các nước lớn và vấn đề Biển Đông; Luật pháp quốc tế, Công
ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 và vấn đề Biển Đông; những phát triển
gần đây của luật pháp quốc tế và Biển Đông; kinh nghiệm quốc tế và khu vực
trong xử lý các tranh chấp biển; đánh giá nội dung và việc thực thi Tuyên bố về
Ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC); quản lý căng thẳng và tương lai của Biển
Đông. Hội thảo lần này là dịp để trao đổi, tăng cường hiểu biết vềlợi ích chung
trong việc duy trì hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn hàng hải ởBiển Đông, đề
xuất các biện pháp tăng cường an ninh và hợp tác cũng như giải pháp cho các
tranh chấp tại Biển Đông.
Quan điểm của Đại tướng Võ Nguyên Giáp lúc sinh thời trong vấn đề biển đảo Việt Nam
10:37 |
Đại tướng Võ Nguyên Giáp - vị tướng “khai quốc
công thần” với những chiến công “truyền quốc sử” trong hai cuộc kháng chiến
thần kỳ của dân tộc, vốn xuất thân là thầy giáo dạy sử - địa. Ông hiểu sâu sắc
tầm quan trọng chiến lược của biển đảo quê hương cả về quốc phòng và kinh tế.
Tầm nhìn trong giải phóng các đảo ở Biển Đông
Đại tướng là người đầu tiên nghĩ đến phải đồng
thời giải phóng Trường Sa khi giải phóng Sài Gòn. Khi chiến trường Tây nguyên
mở ra, đánh Buôn Ma Thuột, Đại tướng đã đặt vấn đề hải quân cần giải phóng tất
cả các đảo khi ấy do chế độ Sài Gòn nắm giữ. Đại tướng nói phải chiếm lại ngay,
kẻo chậm thì người khác sẽ chiếm mất. Đại tướng Võ Nguyên Giáp là người ra lệnh
giải phóng các đảo, trong đó có quần đảo Trường Sa.
Sau chiến thắng Buôn Ma Thuột, Tây Nguyên tháng
3-1975, Đại tướng Võ Nguyên Giáp không chỉ nhận ra thời cơ chiến lược thống
nhất đất nước mà còn nghĩ ngay đến việc giải phóng các đảo trên biển Đông. Đại
tướng đã kiến nghị với Bộ Chính trị: “Vừa chuẩn bị cho trận quyết chiến chiến
lược cuối cùng, vừa tiến hành giải phóng các đảo và quần đảo…”. Kiến nghị này
được Bộ Chính trị đồng ý ghi vào Nghị quyết ngày 25.3.1975.
Ngày 2.4.1975, Đại tướng Võ Nguyên Giáp trực tiếp
chỉ thị cho đồng chí Lê Trọng Tấn: phải nắm lực lượng Khu 5 và Hải quân để tổ
chức tiến công giải phóng các đảo, đặc biệt là quần đảo Trường Sa. Lệnh của Đại
tướng rất rõ: khi thấy quân đội Sài Gòn nguy khốn thì lập tức tổ chức đánh
chiếm các đảo. Trường hợp nước ngoài thừa cơ chiếm đảo thì ta kiên quyết chiếm
lại, gặp khó khăn gì phải báo cáo Tổng Hành dinh.
Ngày 9/4/1975, quân báo thông báo quân ngụy bắt
đầu rút khỏi Biển Đông, Quân ủy Trung ương đã điện tối khẩn cho đồng chí Chu
Huy Mân và đồng chí Võ Chí Công: “Có tin quân ngụy chuẩn bị rút khỏi Trường Sa.
Các anh cho kiểm tra lại ngay và chỉ thị cho lực lượng ta hành động kịp thời theo
phương án đã định. Nếu để chậm, có thể quân nước ngoài chiếm trước, vì hiện nay
một số nước đang có ý đồ xâm chiếm”.
Nhận được lệnh lực lượng ta đã dùng đặc công bí
mật tiếp cận, nhanh chóng đổ bộ, bất ngờ chiếm mục tiêu, lần lượt giải phóng
các đảo. Ngày 29.4.1975, ta đã hoàn thành nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược này.
Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã ký điện khen: “Nhiệt liệt khen ngợi các đơn vị đã
hoàn thành nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược”.
Đặt trong hoàn cảnh dồn sức giải phóng miền Nam,
ít người nghĩ chuyện giải phóng đảo, càng thấy đó là quyết định vĩ đại. Nếu Đại
tướng không làm vậy, nước khác sẽ lấy các đảo trên, còn chúng ta khó có thể
giành lại được. Chưa kể, nếu ra chiếm đảo của Việt Nam Cộng hòa tức là ta tiếp
quản chính quyền theo đúng luật pháp quốc tế.
Phát triển kinh tế biển
Năm 1977, trên cương vị Phó thủ tướng, Đại tướng
Võ Nguyên Giáp đã đề xuất một chiến lược về khoa học biển và kinh tế miền biển
rất ấn tượng. Nói chuyện với các nhà khoa học, Đại tướng nhấn mạnh: “Chúng ta
cần phải nhanh chóng khắc phục sự lạc hậu trong hiểu biết về biển cả, để góp
phần thúc đẩy việc khai thác tốt hơn những nguồn lợi mà biển cả sẽ đem lại cho
đất nước ta”.
Về hướng khai thác kinh tế biển, Đại tướng chỉ ra
những vấn đề vượt thời gian: “Việc khai thác dầu khí ngoài biển Việt Nam đã là
chuyện trước mắt. Việc sử dụng năng lượng thủy triều ở bờ biển nước ta cũng
phải đặt ra rồi. Độ chênh lệch của thủy triều nước ta chứa đựng một tiềm năng
quan trọng về năng lượng là rất quý. Có thể có những kiểu máy điện thủy triều
được không? Các đồng chí vật lý biển phải trả lời vấn đề này, ngành cơ khí phải
đi trước một bước”… “Ngành sinh học biển phải đi sâu, thúc đẩy phương hướng
kinh tế này. Cần phải từ đặc điểm của từng vùng biển có những điều kiện vật lý
như nhiệt độ, độ mặn, ánh sáng chiếu xuống như thế nào, rồi áp suất sóng, thủy
động lực, dòng chảy như thế nào, để kết luận xem những vùng nào nuôi được loại
cá nào là thích hợp nhất”…
Trong chỉ đạo phát triển kinh tế biển, ngay từ
năm 1977, Đại tướng đã có những chỉ đạo chiến lược rất sâu sắc: Kinh tế vùng
biển phải từ đất liền mà phát triển ra biển và các hải đảo. Đưa dân ra làm kinh
tế biển đảo, vừa cải thiện được đời sống của dân, vừa có lực lượng để thực hiện
quốc phòng toàn dân, để giữ vững chủ quyền biển, đảo.
Năm 1985, trước khi có Đổi mới, Đại tướng Võ
Nguyên Giáp đã đề ra Chiến lược làm chủ biển với nội dung toàn diện và cụ thể.
Cho đến nay, những vấn đề đặt ra trong chiến lược này vẫn nóng hổi tính thời
sự. Chiến lược này là minh chứng lịch sử làm sáng rõ tư duy khoa học và tầm
nhìn chiến lược của Đại tướng Võ Nguyên Giáp về biển, đảo Tổ quốc.
Thế kỷ 21 là thế kỷ của đại dương và nhân loại
đang hướng ra biển cả. Khi tài nguyên trên đất liền cạn kiệt thì biển cả là cứu
cánh cuối cùng của loài người, là không gian sống và sinh tồn của nhân loại.
Quyền lợi từ biển đem lại cho các quốc gia thật là to lớn nhưng do đó cũng đã
có nhiều tranh chấp quyết liệt trên biển. Chính vì vậy, trong tấm lòng và bộ óc
mẫn tiệp của Đại tướng Võ Nguyên Giáp luôn có một góc quan tâm đến biển đảo của
Tổ quốc. Có lẽ, đến lúc về với cõi vĩnh hằng, người Đại tướng Tổng tư lệnh kính
yêu của nhân dân vẫn hướng ra biển xanh. Từ trên ngọn núi Mũi Rồng vươn ra Biển
Đông, di hài của Người vẫn đang “bảo vệ” biển trời cho đất nước Việt Nam.

越南基洛(Kilo)潜艇的真正实力 (继续)
10:33 |
有关越南向俄罗斯购买6艘基洛级潜艇的舆论
越南向俄罗斯订购6艘基洛级潜艇的事情易筋经吸引了多国家的关心和注意,特别是在东海上发生争端的国家。中国的一系列新闻报纸和电子网址如全球时报、东方、Chinanews 等已经积极围绕该事件报道、分析和评论,并表示越南636基洛级潜艇跟中国之前向俄罗斯购买的同类潜艇相比更加强势,更加垫带,具备了更先进的技术。越南潜艇装备了先进的侦察系统,可以在更远的距离(3倒4倍)发现目标。消声器外壳使用了最新的技术来制造,有更优越性。同时,越南潜艇也被俄罗斯提供最新代的Club-S火箭,射击程可达290公里。越南海军拥有新代基洛级潜艇的事件是一次转折,扩大越南海军的活动范围从近岸到远岸,从水面上到水底下。
装备的基洛级潜艇以帮助越南有控制更深海域的能力,而不用增加太多水上船舰,有助于越南海军有足够捍卫海上主权和利益的能力。中国网络媒体分析哎,越南装备新代常规潜艇一事体现了他们不甘心近岸活动,而希望从更远的范围捍卫国家的领海主权。636 基洛级潜艇出现在越南海军力量中使东海海域上的权利平衡,这一事已经改变了海域作战的局面正成为世界上的热点。
国家各军事专家也对越南基洛级潜艇做出评价,并表示该潜艇比中国潜艇更加强势,并认为随着越南陆军力量发展的传统,现在已经正在转注意力为投资海军力量的现代化。越南向俄罗斯购买6艘636基洛级潜艇,、猎豹级护卫舰的反潜能力和最佳的远程战斗机苏-30MK2已经证明了这一点。
另外,Carl Thayer 教授、在澳大利亚国防学院工作的研究越南专家表示,东海上的军事实力秤杆自从今年年底越南接受俄罗斯的基洛级潜艇将有改变,据Thayer教授,越南新的潜艇力量与Su-30 战斗系统相结合将提高越南海军在东海的实力和加强防治侵犯的可能。
近期,东海情况演变复杂,不可预料。因此,各国家,特别是有关东海争端的国家加强海军力量,其中有越南。也同其他国家,有着和平和自卫的思想,越南人民军队拥有上面所说的现代潜艇的目的是捍卫祖国海岛主权目标,没有任何其他目的。作为一个拥有巨大海上潜能和领土的国家,在区域与世界军事纪实发展如风似爆的背景下,越南人民军队增加装备了基洛级潜艇将有助于提高我国在捍卫我国独立主权和领土的事业中做出应有的贡献。当一个向越南拥有海域的国家,除了战舰、飞机、火箭和其他现代工具外,再拥有潜艇舰队的话,越南在维持东海和平、稳定、安全与合作商的位置更加有分量。当越南海军拥有基洛级潜艇,越南人民感到自豪,并相信捍卫主权、利益和越南国家安全的事业。
Hot (焦点)
-
胡志明是二十世纪越南革命杰出的马克思主义思想家。他老人家的思想是马克思列宁主义在符合越南的条件和历史背景基础上的运用、发展与创新,体现着时代精神及现代与当代世界的运动与发展趋势。 1 、胡志明思想、道德、风格体系的道德榜样。他老人家的思想合成了越南革命及革命之路的战略策...
-
为维护国家海岛主权,越南历代封建王朝都着重投资建设强大的水军力量。越南丁、李、陈、黎、阮等王朝的水军力量不断得到加强和完善。这支水军为捍卫祖国事业作出了巨大贡献,在各个阶段留下了历史烙印。 至今还收藏的古籍显示,越南历代封建王朝早已对黄沙群岛和长沙群岛确立主权、实施...
-
1954 年《日内瓦协议》签署之后,越南暂时被分成南北两方不同政治制度的政体。据此,越南北纬 17 度以南的领土(包括黄沙、长沙两群岛)由越南共和国政府管辖。根据《协议》规定,法国殖民者被迫撤离越南之后,西贡政权立即派遣海军力量接管黄沙、长沙两群岛并对其行使主权。与此同时,...
-
(VOVWORLD) - 越南伟大领袖胡志明主席的思想、道德、作风、革命生涯是越南全党、全民学习和实践胡志明道德榜样的生动和具有说服力的楷模。至今,越南开展学习和实践胡志明道德榜样运动已有 8 年并取得多项重要结果。 胡志明主席在其革命生涯中牺牲个人利益,为祖国和人...
-
越南的黄沙群岛位于东海(中国称南海)北边,处于北纬 15°45′ 至 17°15′ 、东经 110° 至 113° ,距越南广义省李山岛约 120 海里。黄沙群岛由 37 多个岛、洲、礁和沙滩组成,分为西面和东面两个群岛。东面为安永群岛(中国称宣德群岛),由 12 个岛、洲...
-
数十年来,中国人拿出大量书籍、资料和史料,企图证明从两千年前的汉朝起,中国人就发现了西沙和南沙(即越南的黄沙群岛和长沙群岛),从而说古代中国发现西沙南沙群岛就足够证明中国对西沙和南沙的不可争议的领土主权。据说,中国人最迟于唐宋发现南沙群岛至今,就一直在岛上及其海域从事生产活...
-
越南对黄沙、长沙两座群岛的主权不仅在越南古籍和古文献中有记载,而且还出现在西方航海家和传教士等的书籍、报纸、地图、日记、航路指南等外国资料中。这些资料描述黄沙、长沙“是越南中部海上的一块沙渚…”,这和越南同一历史时期资料和古地图描述的类似。法国 1936 年在印度支那建立的...
-
BDN - 位于东海边国土陆地呈 “S” 字形的越南,无形中拥有沿着国土走向三千公里海岸及依照 1982 年《联合国海洋法公约》从岸边向外延伸的辽阔海域。这意味着从越南 1982 年 11 月确定和公布的垂直基线算起往外延伸 200 海里宽的海域属越南的主权,被称作专属经济...
-
从十六、十七世纪至今,西方国家的轮船日益频繁来往于东海。他们来到这里,不只为了扩大贸易还为了传教和传播西方文化。在来往东海期间,西方航海家和传教士们以当时最现代的技术很详细地描述和绘画黄沙群岛和长沙群岛,以避免这两个群岛的礁石给来往的船舶造成危害。为此,他们很仔细地研究东海...
-
香港媒体最近透露中国在东海划分“新边界线”的海洋研究项目,为“资源研究”创造了条件,北京对这片海域的主权主张“增添了筹码”。这条新边界线是一条与囊括了蕴藏着丰富矿产和能源资源的东海海域九段线相吻合的实线,九段线内的海域就是北京声索主权的那片海域。 从国际法的角度来看实线...








