美国在东海的利益 (继续)
19:03 |
军事利益
东海市美国防守系统中重要的交通路线,以便对付像在马六甲海峡的海盗与恐怖威胁的传统与非传统安全问题。2004年4月,美国为了加强与该地区的各国家的伙伴关系,通过国家法律与国内法律加强对航行威胁的控制与制止能力提出了“地区航行安全倡议”。该倡议允许美国将海军力量带到马六甲海峡,进行对恐怖、海盗,毒品走私与人口贩运的制止。
美国维持在日本和菲律宾的军事基地,旨在实现保护日本和菲律宾同盟的任务,从此巩固美国在东海的利益和肯定美国在该领域的地位。当美国和菲律宾于1995年签署“两国间交换军事协议”后,美国第7舰队被允许停靠在菲律宾东海的各海港。
美国认为中国加强军事力量,特别是在东海的海军力量已经影响到美国的角色和在亚洲-太平洋区域的力量平衡,虽然目前美国仍然评价自己的军事实力远远超过中国的实力。
美国对东海问题的政策
美国对亚太地区实行了一贯多年的政策。该政策在奥巴马政府期间继续延续下去。
美国在东海的对外政策重点在于保护美国以及同盟的利益,美国希望在东海地区看到和平与发展而并不是武装冲突。美国希望与该地区的沿海国家维持平衡关系。另外,东南亚在美国亚太战略中占据着非常重要的地位。从冷战末期以来,美国一直力求控制东南亚地区,获得地缘政治优势,从而实现遏制其他大国的崛起。
在很长的一段时间中,美国对东海争议实现“不干预”政策。从冷战结束后,美国开始更加关注东海的争议。美国并未对参与正义的任何一方表示支持,但支持这些国家通过和平方式解决争议。
美国一直认为“各国间的海洋主权问题,特别是发生海洋主权争议时,需要各国通过联合国海洋法公约进行划分,但美国自己对联合国海洋法公约却比较复杂。这曾经成为美国内部在四分之一世纪中的一个引起争议的问题。美国国会支持联合国海洋法公约,美国总统于1994年签署了该公约。但该公约尚未得到美国上议院的批准,因为其认为该公约将损害美国的利益,例如冲突写上问题、深水区域的资源开发权、联合国国际官员机构的合法全力等。
在中国与菲律宾于1995年2月发生美济礁(Mischief Reef)争端后,克林顿政府的反应比较谨慎,并重复美国一直以来对东海地区的政策观点。美国外交部表示美国强烈反对任何国家使用武力或威胁使用武力肯定对海洋海岛主权。美国不倾向与参与正义的任何一方,并支持东海争议中的和平解决方案。美国也对限制在东海地区的航行自由的任何宣布深表关切。
巩固与同盟与合作伙伴的关系
为了保护自己的利益,美国巩固与日本、菲律宾等盟国的关系,加强部署军事力量,保证区域安全与美国在东海地区的地位。与东盟有相关活动的美 – 日安全联盟可以帮助促进东海问题的长久解决方案。
美国鼓励亚洲国家发展多边安全关系。为了解决长沙群岛的争议问题,美国强调与菲律宾的军事联盟的重要性,并支持东盟建立多边机制的努力。
加强与中国的关系
美国对中国在东海的主权主张以及中国军事预算的不断增加、各种肯定主权的经济与军事活动,同时否认其他国家的主权等表现深表关切。但同时,美国继续加强与中国的关系,合作开发油气以保护经济利益,合作打击海盗以保护东海航行的安全。美国还希望加强美 - 中的海军合作以维持亚太地区及东海地区的安全。
近期连续发生美国与中国军舰的冲突。虽然美国以主动改善与中国的关系,但情况仍不如所愿,例如中国因美国公布向台湾出售武器而停止两国间的军事交流活动。
支持与鼓励东盟
美国支持与鼓励东盟合作解决东海争议,维持地区的稳定。美国已发展一项正式的合作机制,该机制被认为将减少紧张以及冲突危机。美国希望各方一起营造和平与稳定的国际环境。美国也打算开始加入东盟友谊与合作协定的进程,从此干预东亚峰会进程。东盟对美国来说占据着非常重要的位置,是美国努力营造的亚洲地区合作机制的核心。
东盟与中国已于2002年11月4日签署了东海各方行为宣言(DOC)。这是东盟与中国之间第一个有关东海的官方政治文件。美国评论称DOC并没有存在任何帮助解决争议的约束力,但该文件的作用在于帮助各方保持克制,并尊重东海地区海上与空上航行自由。DOC 以及在将来形成的COC 都只能减轻紧张局势,推动合作,建立东盟与中国间的互信,而并不是 管理与防治潜在冲突有效的机制。
总之,美国国内舆论近期认为美国利益因东海争议升级而受到威胁,并对中国现代化海军力量表示关注。美国海军上将蒂莫西·J·基廷表示中国海军力量近期的战略动态体现了改过的野心。所以,有观点认为美国“不干预”政策不再完全保护美国在东海的利益,美国要更多参与到该地区的事务。美国似乎正在改变对东海地区沿海国家的对外政策从“不干预”到“部分干预”的战略政策。
Mỹ được lợi gì ở Biển Đông (Tiếp theo Kỳ I)
19:00 |
Lợi ích quân sự
Biển Đông là tuyến đường giao thông quan trọng
trong hệ thống phòng thủ của Mỹ nhằm đối phó với các thách thức an ninh truyền
thống và phi truyền thống như chống hải tặc và khủng bố, đặc biệt tại eo biển
Malacca. Mỹ đã đưa ra “Sáng kiến an ninh hàng hải khu vực” hồi tháng 4/2004 nhằm
phát triển quan hệ đối tác với các nước trong khu vực có khả năng kiểm soát và
ngăn chặn các mối đe dọa hàng hải thông qua luật quốc tế và trong nước. Sáng kiến
này có thể cho phép Mỹ đưa lực lượng hải quân tới eo biển Malacca để ngăn chặn
khủng bố, hải tặc, buôn lậu ma túy và người.
Mỹ duy trì các căn cứ quân sự tại Nhật Bản và Philippines
nhằm thực hiện nhiệm vụ bảo vệ đồng minh Nhật Bản và Philippines, từ đó củng cố
lợi ích và khẳng định vị thế của Mỹ ở Biển Đông. Sau khi Mỹ và Philippines ký “Hiệp
định trao đổi quân sự giữa hai nước” năm 1995, hạm đội 7 của Mỹ đã được phép
neo đậu lại tại các cảng của Philippines ở Biển Đông.
Mỹ cho rằng Trung Quốc tăng cường sức mạnh
quân sự, nhất là hải quân ở biển Đông ảnh hưởng đến vai trò của Mỹ và
sự cân bằng lực lượng ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương mặc dù hiện
nay Mỹ vẫn đánh giá sức mạnh quân sự của nước này vượt xa Trung
Quốc.
Chính sách của Mỹ đối với vấn đề Biển Đông
Chính sách của Mỹ đối với khu vực châu Á - Thái
Bình Dương được duy trì nhất quán trong nhiều năm và đường lối chính sách này vẫn
tiếp tục dưới thời chính quyền Obama.
Chính sách đối ngoại của Mỹ tại Biển Đông tập
trung vào việc bảo vệ lợi ích của Mỹ và đồng minh, Mỹ muốn thấy sự phát triển
chứ không phải là xung đột vũ trang xảy ra tại Biển Đông. Mỹ cũng muốn duy trì
quan hệ cân bằng với các nước ven biển ở khu vực. Ngoài ra, Mỹ coi Đông Nam Á rất
quan trọng trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Từ cuối chiến tranh lạnh, Mỹ
đã tìm kiếm quyền kiểm soát Đông Nam Á để giành lợi thế địa chính trị với mục
tiêu ngăn cản sự nổi lên của các cường quốc khác.
Trong một thời gian dài, Mỹ duy trì chính sách
“không can dự” vào các tranh chấp ở Biển Đông. Từ sau chiến tranh Lạnh, Mỹ bắt
đầu quan tâm nhiều hơn tới xung đột tại Biển Đông khi các tranh chấp tuyên bố
chủ quyền tại khu vực và các hoạt động đơn phương của các nước ven biển để hỗ
trợ lập trường đang tăng lên. Mỹ không ủng hộ bất kỳ bên nào trong các tranh chấp,
nhưng tin rằng các nước này nên giải quyết bằng phương pháp hòa bình.
Mỹ luôn cho rằng “Vấn đề quyền chủ quyền hàng hải
giữa các nước, đặc biệt khi có những bất đồng, phải được các nước thiết lập theo
Công ước Luật biển của Liên Hợp Quốc” nhưng quan điểm của Mỹ đối với Công ước
Luật biển Liên Hợp Quốc khá phức tạp. Đây đã từng là một vấn đề gây tranh cãi của
nội bộ Mỹ trong một phần tư thế kỷ. Quốc hội Mỹ ủng hộ Công ước Luật biển Liên
Hợp Quốc và Tổng thống Clinton đã ký công ước này năm 1994. Nhưng Công ước này
chưa được Thượng viện thông qua vì cho rằng công ước sẽ gây rủi ro cho lợi ích
của Mỹ, như việc thỏa thuận xung đột, quyền khai thác tài nguyên tại vùng nước
sâu, và quyền hành hợp pháp của bộ máy quan chức quốc tế thuộc Liên Hợp Quốc.
Sau vụ tranh chấp tại bãi đá Vành Khăn giữa Trung
Quốc và Philippines tháng 2/1995, chính quyền Clinton đã phản ứng thận trọng và
lặp lại quan điểm chính sách lâu nay trong vấn đề Biển Đông. Bộ Ngoại giao Mỹ
cho biết Mỹ phản đối mạnh mẽ việc đe dọa hay sử dụng vũ lực để khẳng định chủ
quyền của bất kỳ nước nào. Mỹ không đứng về phía bất kỳ nước nào đang có tuyên
bố tranh chấp và mong muốn ủng hộ giải pháp hòa bình trong tranh chấp tại Biển
Đông. Mỹ cũng quan ngại sâu sắc tới các tuyên bố hàng hải hay hạn chế hoạt động
hàng hải tại Biển Đông không tuân theo luật quốc tế.
Củng cố quan hệ với đồng minh và đối tác
Để bảo vệ lợi ích của mình, Mỹ củng cố quan hệ với
đồng minh như Nhật Bản và Philippines để triển khai lực lượng quân sự, đảm bảo
an ninh khu vực và vị thế tại Biển Đông. Liên minh an ninh Mỹ - Nhật, đang hoạt
động liên kết với ASEAN, có thể thúc đẩy một giải pháp lâu dài tại Biển Đông.
Mỹ khuyến khích các nước châu Á phát triển quan hệ
an ninh đa phương. Để giải quyết với vấn đề tranh chấp tại quần đảo Trường Sa,
Mỹ nhấn mạnh tầm quan trọng của liên minh quân sự với Philippines và ủng hộ nỗ
lực xây lực cơ chế đa phương của ASEAN.
Tăng cường quan hệ với Trung Quốc
Mỹ quan ngại tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc tại
Biển Đông, ngân sách quân sự ngày càng tăng, các hoạt động kinh tế và quân sự để
khẳng định chủ quyền trong khi phủ nhận chủ quyền của các nước khác. Nhưng đồng
thời Mỹ tăng cường quan hệ với Trung Quốc, hợp tác khai thác dầu khí để bảo vệ lợi
ích kinh tế, chống hải tặc để bảo vệ an toàn hàng hải ở Biển Đông. Mỹ còn muốn
tăng cường hợp tác hải quân giữa Mỹ và Trung Quốc nhằm duy trì an ninh ở châu
Á- Thái Bình Dương và Biển Đông.
Gần đây xảy ra liên tiếp các vụ đụng độ giữa tàu hải
quân Mỹ và Trung Quốc, mặc dù Mỹ đã đi đầu trong việc cải thiện quan hệ với
Trung Quốc, nhưng mối quan hệ này không được như mong muốn. Ví dụ như việc
Trung Quốc ngừng hoạt động trao đổi quân sự giữa hai nước do Mỹ công bố bán vũ khí
cho Đài Loan.
Ủng hộ và khuyến khích ASEAN
Mỹ ủng hộ và khuyến khích ASEAN hợp tác để giải
quyết hòa bình các tranh chấp ở Biển Đông, duy trì ổn định trong khu vực. Mỹ đã
phát triển một cơ chế hợp tác chính thức giúp hài hòa cả hai bên dựa trên luật
quốc tế như Công ước Luật biển Liên Hợp Quốc, và cơ chế này được tin là sẽ tối
thiểu hóa các căng thẳng. Mỹ muốn các bên tạo ra môi trường ổn định và hòa
bình. Mỹ cũng dự định bắt đầu tiến trình tiến tới gia nhập Hiệp định Hữu nghị
và Hợp tác của ASEAN, can dự vào tiến trình Thượng đỉnh Đông Á. ASEAN có vị trí
rất quan trọng đối với Mỹ và là nòng cốt chủ chốt trong cơ chế hợp tác khu vực
đang nổi lên tại châu Á nơi Mỹ có cam kết sâu sắc.
ASEAN và Trung Quốc đã ký Tuyên bố chung về ứng xử
của các bên ở Biển Đông (DOC) ngày 4/11/2002. Đây là văn bản chính trị chính thức
đầu tiên liên quan đến Biển Đông giữa ASEAN và Trung Quốc. Mỹ đánh giá DOC là một
văn kiện không có sự ràng buộc để giải quyết tranh chấp nhưng có tác dụng giúp
các bên học cách kiềm chế và tôn trọng tự do hàng hải và trên không. DOC và COC
nếu được xây dựng chỉ có tác dụng làm giảm căng thẳng, thúc đẩy hợp tác và xây
dựng lòng tin giữa ASEAN và Trung Quốc, chứ chưa phải là một cơ chế hiệu quả quản
lý và ngăn chặn các xung đột tiềm năng.
Tóm lại, các giới ở Mỹ gần đây cho là lợi ích của
Mỹ bị đe dọa do tranh chấp Biển Đông leo thang đồng thời quan tâm hơn tới việc
hiện đại hóa lực lượng hải quân của Trung Quốc trong khu vực. Đô đốc Timothy J.
Keating cho biết động thái chiến lược gần đây của lực lượng hải quân Trung Quốc
thể hiện tham vọng của nước này. Do đó, đã có ý kiến cho rằng chính sách “không
can dự” của Mỹ không còn hoàn toàn bảo vệ lợi ích của Mỹ tại Biển Đông, Mỹ cần
dính líu hơn vào khu vực này. Mỹ dường như đang thay đổi từ “không can dự” tới “can
dự một phần” trong chính sách đối ngoại với các nước ven biển và ASEAN tại Biển
Đông.
湄公河上的水坝:老挝与湄公河下游国家间关系的测试题
18:56 |
本着不断增加电力出口量的目标,老挝正在努力提高各原有水电站的发电量,同时邀请投资建立新的水电站。据统计,到目前为止老挝共有发电能力为3199MW的14个大型水电站已投入运营,8个水电站正在建立期间,并且还有20个水电站在完成开始建立的准备工作期间。
老挝打算把国家电力生产总量的75%到80% 向邻国及地区内的国家出口。老挝的各大型水电站项目,除了规模已意外,还受到了国际金融机构的高度关注。南屯水电站工程是个典型的例子,该水电站于2010年完工,功率为1086MW,同时也是标志着国际金融机构在为老挝的大型水电站项目提供投资资金的重新关注。这为老挝在将来完成功率为1260MW的Xayaburi水电站工程创造有利条件。依靠地质、地形、水资源的优势,水电正成为老挝经济的主要收入来源领域之一,为老挝经济近几年来不断增长作出重要的贡献。随意,老挝共产党与政府正在并且将继续优先发展自己国家的水电领域。
但是,水电是一个要求投入资金大、科技含量非常高的领域,所以以老挝目前的条件与能力而言,发展水电站项目主要依靠外国合作伙伴。另一方面,老挝水电领域的过快发展被警告将对环境及下游国家造成无数的潜在影响,特别是有关水流量、泥沙、水产产量以及沿江人民生计的影响。有研究项目表明,如果老挝继续建设在湄公河上的水电站,流向越南南方平原和柬埔寨洞里薩湖的水流量将严重减少,给这些地方的农业与渔业造成严重的破坏。在泰国,该国媒体质疑称老挝水电站工程所带来的廉价电力是否值得换取该国东北地区本就贫穷的渔民的重大损失。面对这些警告,老挝继续展开建设Xayaburi, Beng Pak等水坝。最近,老挝与2013年10月4日向湄公河委员会提供关于建设Don Sahong水电工程的通告。虽然这些水电站工程给对湄公河下游国家的生态环境及经济造成众多潜在威胁,有老挝、越南、柬埔寨、泰国等死过为了促进各国间在使用、发展与保护水资源领域的合作而建立的湄公河委员会仍未能提出彻底解决问题的办法。老挝在未能得到湄公河委员会其他成员国统一的情况下建设水电站工程违背了湄公河委员会的原则、违背了该组织的美好目标。
湄公河由于要背上很多不仅服务于经济利益,而且还为其他目的的水电大坝而正逐渐正在逐渐枯竭。湄公河富饶的泥沙以及自由流向演讲富庶村庄的景象还会存在多久?水资源是湄公河周边国家人民代代共享的最宝贵的资源,是养活下游国家数千万居民的宝贵资源,但湄公河正慢慢死去。谁该负起该责任?不是受到直接利益的湄公河周边国家吗?虽然清楚每个国家都有不同的发展经济社会战略,但请回忆泰国人在15年前对Pak Moon水坝的痛苦经历。Pak Moon水坝是水电工程的全面失败,而且还给生态环境造成重大破坏,以至于泰国人民强烈要求拆除该水坝、如果老挝为了眼前的利益而忘记了对生态环境的长远隐患,老挝将失去很多其他机会,而最直接的是老挝人民可以生活在一个健康发展环境的机会。
Những con đập Mê Công: Phép thử mối quan hệ giữa Lào và các nước Hạ lưu Mê Công
18:53 |
Với mục tiêu ngày một gia tăng lượng điện của các nhà máy thủy điện xuất
khẩu, Lào đang tiếp tục nâng cao sản lượng điện của các nhà máy thủy điện đồng
thời mời gọi các nhà đầu tư đến với các dự án thủy điện mở rộng hoặc xây mới.
Theo thống kê, đến nay có 14 nhà máy thủy điện cỡ lớn với công suất khoảng
3.199 MW đã đi vào hoạt động, 8 nhà máy đang trong quá trình xây dựng lắp đặt
và 20 nhà máy đang trong quá trình hoàn tất các công tác chuẩn bị khởi công xây
dựng.
Lào dự tính sẽ dành từ 75% đến 80% tổng sản lượng điện quốc gia để xuất
khẩu sang các nước láng giềng và trong khu vực. Các dự án thủy điện của Lào, nhất
là các dự án lớn, ngoài ý nghĩa về tầm vóc còn cho thấy các dự án này đã và
đang nhận được sự quan tâm nhiều hơn của các thể chế tài chính quốc tế. Thủy điện
Nặm Thơm là một ví dụ, đây là nhà máy thủy điện có công suất lớn nhất ở Lào hiện
nay (1.086 MW, hoàn thành năm 2010) và cũng là dự án đánh dấu sự quan tâm trở lại
của các thể chế tài chính quốc tế trong việc cung cấp vốn cho các dự án thủy điện
cỡ lớn ở Lào. Điều này tạo điều kiện cho Lào hướng đến việc hoàn thành thủy điện
Xayaburi với công suất 1.260 MW trong thời gian tới. Với lợi thế về địa chất, địa
hình, nguồn nước để phát triển thủy điện và trên thực tế, thủy điện là một
trong những lĩnh vực đem lại nguồn thu chủ yếu cho nền kinh tế, góp phần quan
trọng cho sự tăng trưởng liên tục của kinh tế Lào trong những năm qua do đó Đảng
và Chính phủ Lào đã và đang tiếp tục ưu tiên cho phát triển thủy điện của quốc
gia mình.
Tuy nhiên đây là lĩnh vực đòi hỏi nguồn vốn lớn, công nghệ kỹ thuật và
nguồn nhân lực tay nghề cao vì vậy với điều kiện và khả năng của Lào như hiện
nay việc phát triển thủy điện chủ yếu phụ thuộc vào đối tác nước ngoài. Mặt
khác, phát triển thủy điện ồ ạt tại Lào còn được cảnh báo tiềm ẩn vô vàn tác động
và ảnh hưởng tiêu cực tới các nước hạ lưu, đặc biệt là những ảnh hưởng về dòng
chảy, phù sa, dinh dưỡng, sản lượng thủy sản và sinh kế của người dân ven sông.
Có nhiều chứng minh rằng nếu Lào xây các đập trên sông Mê Công, lượng chảy hàng
năm vốn đem lại phù sa màu mỡ cho châu thổ miền Nam rộng lớn của Việt Nam và Biển
Hồ của Campuchia (Tonle Sap-hồ nước ngọt lớn nhất Đông Nam Á) sẽ giảm đáng kể
và thậm chí tắc nghẽn, đồng thời ngư nghiệp khu vực cũng sẽ bị tàn phá nặng nề.
Tại Thái Lan, truyền thông đặt câu hỏi liệu lợi ích từ nguồn điện rẻ của các dự
án tại Lào có đáng so với thiệt hại được dự báo trước cho cộng đồng ngư dân ven
sông ở khu vực Đông Bắc vốn đã đói nghèo của nước này. Bất
chấp những cảnh báo đó, Lào vẫn tiếp tục triển khai xây dựng một số đập như
Xayaburi, Beng Pak. Mới đây nhất, vào ngày 4/10/2013, Lào đã gửi thông báo lên Ủy
hội Sông Mê Công về việc xây dựng đập thủy điện Don Sahong. Mặc dù đã có
những nỗ lực trong việc ngăn chặn, phản đối xây dựng các con đập, song với những
diễn biến dồn dập như trên và nguy cơ, tác hại về môi sinh cũng như kinh tế của
những con đập hạ lưu gần như là hiển hiện thì Ủy Hội Sông Mekong – Tổ chức liên
chính phủ của bốn nước Lào, Việt Nam, Campuchia, Thái Lan nhằm thúc đẩy hợp tác
giữa các quốc gia thành viên trong việc sử dụng, phát triển và bảo vệ tài
nguyên nước và các tài nguyên liên quan một cách bền vững vì lợi ích chung của
các quốc gia thành viên và phúc lợi của người dân trong lưu vực vẫn không có giải
pháp triệt để nào khác. Việc Lào tiến hành xây dựng các đập thủy điện mà không
có sự đồng thuận là vi phạm nguyên tắc hoạt động của Ủy hội Sông Mê Công, đi
ngược lại mục tiêu tốt đẹp của tổ chức.
Gánh
trên mình những con đập thủy điện không chỉ nhằm phục vụ những nhu cầu về kinh
tế mà còn thể hiện mục đích khác, sông Mê Công đang dần suy kiệt. Hình ảnh một
dòng Mê Công đầy ấp phù sa, tự do lưu chuyển qua những vùng quê trù phú ven
sông liệu sẽ còn tồn tại được bao lâu? Nguồn
nước là tài nguyên thiên nhiên quý báu nhất mà các dân tộc chung một dòng sông
đời đời cùng chia sẻ vậy mà sông Mê Công đã và đang nuôi sống hàng chục triệu
cư dân ở các nước hạ nguồn đang từ từ bị giết chết. Trách nhiệm này thuộc về
ai? Không phải trước hết là chính những nước tiểu vùng Mê Công, những
quốc gia được hưởng lợi trực tiếp hay sao? Dẫu biết rằng mỗi quốc gia đều
có một chiến lược phát triển kinh tế xã hội riêng, song hãy nhìn người dân Thái
Lan phải trải qua kinh nghiệm đắng cay về con đập Pak Moon 15 năm trước đây thì
thấy Pak Moon là một con “đập-dòng-chảy / run-of-river” trên sông Moon, phụ lưu
sông Mekong, cao 17m, hoàn tất tháng 11/1994 với công suất 136 MW là con đập đầu
tiên có thang cá / fish ladder, nhưng cá đã chẳng có trí thông minh như người đề
biết “leo thang” về nguồn. Đập Pak Moon rõ ràng là một thất bại toàn diện về điện
năng với thêm bao nhiêu tác hại cho nguồn cá và môi sinh đến mức cư dân Thái
đòi hỏi phá con đập. Nếu Lào vì những lợi ích trước mắt mà quên đi những hiểm họa
lâu dài về môi sinh Lào sẽ đánh mất nhiều cơ hội khác mà trước hết là cơ hội được
sống trong một môi trường bền vững của chính người dân Lào./.
美国在东海的利益 (第一期)
19:38 |
东海对许多国家, 包括美国在内,是一个热点地区。被允许在东海开采石油的外国公司(其中包括不少美国公司)因在该海域的领海主权争端而受影响。在近几十年来,东海海域上的军事摩擦日益增加。美国的一些国会议员已经呼唤美国颁布议决支持该区域的和平与稳定。1995年5 月10日,克林顿(Clinton)政府已宣布反对使用或威胁使用武器来解决东海海域上的争端,不过在宣布中并未提及中国。
然而,在目前国际环境中,美国同中国都希望“建设积极、全面合作关系以解决共同的挑战,把握共同机会,“分享共同利益”。奥巴马政府要与中国合作解决 全球经济危机,同时中国也要与美国建设良好关系以达到自己的国际政治目标。因此美国与中国已经在许多事件中互相妥协。另一方面,美国也支持各国通过外交和平的方式解决东海领土争端问题,但如果发生冲突美国也愿意援助军事来对付中国。
从这引出一个问题:“在这些看似充满矛盾的行为下,美国在东海有什么利益和意图?”
美国在东海的利益
美国在东海的利益是美国作为一个全球大国在东亚-西太平洋地区丰富多样的利益中的一部分。在近期的一份报告中,美国国家安全利益包括:保护美国领土、公民、同盟和美国的利益;(2)稳定区域局势,并消除所有将任何对美国的机会和利益造成威胁或阻碍的大国或大国集团;(3)发展区域,促进自由贸易,打开市场;(4) 确保世界稳定安全与无核;(5)促进全球性价值, 例如民主、人权和宗教自由;(6)确保海上自由,决定区域稳定和保护美国权益的首要条件。就算是美国政府有改变的话,这些利益还是维持不变。美国加强干预到亚洲-太平洋也就是因为为上面所提到的利益。其中美国特别关注下面几个领域的国家利益。
海上航行自由利益
海上航行自由是美国的核心利益,也是美国最重要的经济与安全利益。东海是世界上最重要的运输航线之一,美国认为东海是国际海域,军用船只与商业船只被允许自由通过该海域。美国的一项分析报告称“所有对东海的海上航行自由的威胁将严重破坏地区的经济。美国经济的增长与安全保障将取决于军舰与商船航行自由的维持”。美国一直支持世界上包括东海地区在内的航行自由,美国对该地区的海上运输航线拥有重要的利益,所以美国一直对和平解决黄沙群岛与长沙群岛的以及东海地区的主权争议表示关注。
对东海紧张局势身为关切,约瑟夫·奈当负责国际安全的美国国防部长助理时曾表示:“如果在长沙群岛出现军事行动,并且对海上航行自由造成阻碍时,美国将做出反应并保证海上航行自由继续进行。
经济安全利益
东海蕴含丰富的石油与天然气储量,被确定是世界上10个蕴藏石油与天然气储量最多的海域之一。从1972年,西方国家的油气公司已经进行开采和勘探, 并在黄沙和长沙群岛周围发现巨大油漆储量。据美国能源部的预测,东海的油气储量约达70亿桶油,而据美国地质勘探中心预算东海海域上包括已被发现和潜在的油气总量约达280亿桶。中国宣布东海的油气储量可达2000亿油桶,足够为中国每天提供一百万至两百万桶油, 相当于中国每天消耗油气的25%。
美国在2008年油价危机中受到严重的打击。虽然美国已经发展太阳能、风能等代替能源,但油气仍然是美国主要的能源,所以美国仍然需要东海的油气。
但是,东海地区中的油气储量并不算太多,而且并未得到确定。随着油价的不断增长,如果在东海地区发现可以提供商业活动的更加庞大的油气储量,那么东海局势将可能会蜂聚紧张与复杂。
Mỹ được lợi gì ở Biển Đông (Kỳ I)
19:34 |
Biển
Đông là một điểm nóng ngay cả với Mỹ. Các công ty nước ngoài trong đó có Mỹ được
cho phép khai thác dầu khí đã bị ảnh hưởng do những tranh chấp giữa các nước
tuyên bố chủ quyền ở khu vực này. Trong nhiều thập kỷ gần đây, va chạm quân
sự ở Biển Đông ngày càng gia tăng và liên quan tới cả lực lượng của Mỹ. Một số
thành viên Quốc hội Mỹ đã đưa ra nghị quyết kêu gọi Mỹ ủng hộ hòa bình và ổn định
trong khu vực. Ngày 10/5/1995, Chính quyền Clinton đã tuyên bố chống lại việc sử
dụng hay đe dọa sử dụng vũ lực để giải
quyết tranh chấp ở Biển Đông, nhưng lại không nêu tên Trung Quốc trong tuyên bố.
Tuy
nhiên, trong môi trường quốc tế hiện nay, cả Mỹ và Trung Quốc muốn “xây dựng mối
quan hệ tích cực, hợp tác và toàn diện để giải quyết những thách thức chung, nắm
lấy cơ hội chung và “chia sẻ lợi ích chung”. Chính quyền Obama cần sự hợp tác của
Trung Quốc để giải quyết cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu và Trung Quốc cũng cần
xây dựng quan hệ tốt với Mỹ để tiến tới mục tiêu chính trị quốc tế của mình. Vì
vậy, hai nước Mỹ và Trung Quốc đã đồng ý giải quyết êm thấm nhiều vụ việc. Mặt
khác, Mỹ hoan nghênh các nước giải quyết tranh chấp lãnh thổ ở Biển
Đông bằng con đường ngoại giao hòa bình nhưng cũng sẵn sàng hỗ trợ
quân sự đối đầu với Trung Quốc nếu xảy ra xung đột vũ trang.
Điều
này đặt ra câu hỏi: “Vậy lợi ích và ý đồ sau những hành động tưởng
chừng mâu thuẫn của Mỹ ở đây là gì?”
Lợi
ích của Mỹ tại Biển Đông
Lợi
ích của Mỹ tại Biển Đông nằm trong lợi ích đa dạng và trải rộng của Mỹ tại Đông
Á-Tây Thái Bình Dương với tư cách là một cường quốc khu vực và toàn cầu. Trong
một báo cáo gần đây, lợi ích an ninh quốc gia của Mỹ được chỉ ra bao gồm: (1) Bảo
vệ lãnh thổ Mỹ, người dân Mỹ, đồng minh và lợi ích của Mỹ; (2) Ổn định khu vực
và loại bỏ bất kỳ cường quốc vượt trội hay nhóm cường quốc nào sẽ đe dọa hay cản
trở cơ hội cũng như lợi ích của Mỹ; (3) Phát triển khu vực và thúc đẩy tự do
thương mại và mở cửa thị trường; (4) Đảm bảo một thế giới ổn định, an toàn và
phi hạt nhân; (5) Thúc đẩy các giá trị toàn cầu, như quản lý tốt, dân chủ, nhân
quyền và tự do tôn giáo; (6) Đảm bảo tự do hàng hải, điều kiện tiên quyết để ổn
định khu vực và bảo vệ lợi ích của Mỹ. Những lợi ích này luôn được duy trì cho
dù chính quyền Mỹ có thay đổi. Mỹ gia tăng dính líu vào khu vực châu Á - Thái
Bình Dương cũng là để phục vụ các lợi ích kể trên. Trong đó, Mỹ đặc biệt quan
tâm đến lợi ích quốc gia trên những lĩnh vực sau:
Lợi ích tự do hàng hải
Tự do hàng hải là lợi ích then chốt và cũng là lợi
ích kinh tế và an ninh quan trọng nhất đối với Mỹ. Biển Đông là tuyến đường
thương mại quan trọng nhất và Mỹ coi tuyến đường này là vùng nước quốc tế cho
phép tàu thuyền quân sự và thương mại tự do qua lại. Một phân tích của Mỹ nêu
“Mối đe dọa đối với tự do hàng hải qua Biển Đông sẽ phá vỡ nghiêm trọng đến
kinh tế khu vực. Sự tăng trưởng của kinh tế và an ninh của Mỹ phụ thuộc vào việc
duy trì tự do hàng hải với cả tàu buôn và tàu quân sự”. Mỹ luôn ủng hộ tự do
hàng hải trên thế giới, bao gồm cả Biển Đông, và có lợi ích tại các tuyến đường
biển trong khu vực và do đó quan tâm đến việc giải quyết hòa bình tranh chấp tại
hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cũng như các vùng khác.
Quan ngại sâu sắc về căng thẳng tại Biển Đông,
Joseph Nye khi còn là Trợ lý Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ về an ninh quốc tế cho biết
“Nếu xảy ra hành động quân sự tại quần đảo Trường Sa và cản trở tự do trên biển,
thì Mỹ sẽ chuẩn bị ứng phó và đảm bảo tự do hàng hải được tiếp tục”.
Lợi
ích an ninh kinh tế
Các đảo
có tranh chấp tại Biển Đông được cho là chứa một trữ lượng dầu với các ước tính
khác nhau. Biển Đông được xác định là một trong 10 vùng biển có trữ lượng dầu
khí lớn nhất thế giới. Từ năm 1972, các công ty dầu khí phương Tây đã khai thác
và khám phá trữ lượng dầu mỏ lớn trong khu vực quanh quần đảo Hoàng Sa và Trường
Sa. Theo Bộ Năng lượng Mỹ, trữ lượng dầu mỏ ở Biển Đông khoảng 7 tỷ thùng dầu,
trong khi Trung tâm khảo sát địa chất Mỹ ước tính tổng trữ lượng dầu mỏ bao gồm
cả những nguồn năng lượng đã được khám phá và tiềm tàng ở ngoài khơi Biển Đông
khoảng 28 tỷ thùng. Trung Quốc tuyên bố trữ lượng có thể lên tới 200 tỷ thùng,
đủ để cung cấp cho Trung Quốc 1 đến 2 triệu thùng dầu mỗi ngày, tương đương 25%
lượng tiêu thụ dầu mỏ hàng ngày của Trung Quốc hiện nay là 8 triệu thùng.
Nền
kinh tế Mỹ đã bị tổn hại nghiêm trọng do cuộc khủng hoảng giá dầu năm 2008. Mặc dù Mỹ đã
phát triển các nguồn năng lượng thay thế như năng lượng gió, mặt trời… nhưng dầu
mỏ đến nay vẫn là nguồn năng lượng tiêu thụ chính của Mỹ, nên Mỹ vẫn cần nguồn
năng lượng tại biển Đông.
Tuy nhiên, trữ lượng dầu mỏ ở Biển Đông vẫn chưa
được xác định chắc chắn và vẫn còn ở mức thấp. Với tốc độ giá dầu ngày càng
tăng như hiện nay, tình hình tranh chấp tại Biển Đông có thể căng thẳng hơn nếu
người ta tìm thấy bằng chứng về trữ lượng dầu mỏ đủ cho mục đích thương mại. (Xem tiếp Kỳ sau)
中国在东海争议中的优势与劣势
18:26 |
东海争议正日益复杂,而导致其状况的最主要原因就是中国的挑衅态度与行为。在提出“九段线”主权要求以及宣布东海是其核心利益的同时,中国不断增强海军力量,进行实弹演习、油气勘探、在中国占领的海岛上兴建基础设施等。在东海争议中,与其他有关争议的国家相比较,中国依靠其大国地位而具有不少的优势,但同时也遇到很多劣势。
中国的优势
其一,与其他有关争议的国家相比,中国在军事、经济、外交的实力与地位上拥有绝对的优势。是世界第二大经济体、世界大国,中国有条件通过经济手段给其他国家施加影响,从而获得其他国家的支持。近期,中国不断给老挝与柬埔寨增加投资与资金援助,从而增加对这两个国家的影响力以分裂越南与这两个国家的关系。与此同时,中国依靠其强大的军事力量威胁其他参与争议的弱小国家。中国媒体曾多次大声恐吓将对越南、菲律宾进行军事攻击以“给其一个沉重的教训”。
其三,中国的宣传活动做得非常完美。长久以来,中国通过多种宣传方式就东海主权进行了从中央到地方具有连续性、统一性的宣传战略。据非官方统计,中国已进行数百项有关东海问题的大规模的研究项目,许多国际著名科学杂志刊登了包括中国“九段线”地图在内的论文,甚至谷歌网站的在线地图也曾出现过九段线。中国拥有大量专门研究东海问题的科学专家,并且对其提供大量的研究资金。也正因此,中国一步步获得了国际社会的同情与支持。
中国的劣势
其一,和平、合作与发展是当今世界的大趋势,多边合作被认为是处理世界共同面临的问题问题最为有效的方式。在这样的背景下,东海地区的“和平,稳定与发展”颇受国际社会的关心与支持。世界各国,特别是美国、日本、澳大利亚等世界大国均强调通过和平方式,遵守国际法律,特别是1982年联合国海洋法公约(UNCLOS)解决东海争议,严格落实DOC并加快建设COC,
支持多边谈判,反对使用武力或威胁使用武力。
其二,中国大多数的宣布都不符合国际法律的规定,特别是中国的“九段线”要求完全违反了UNCLOS的规定,所以受到国际社会的强烈反对。国际学者认为中国的该要求于2009年才正式公布,而并不是中国所宣布的1947年。另外,九段线并没有具体的坐标点,所以国际社会认为中国的“九段线”主权要求是模糊的,没有任何法律依据的,并且对东海地区的航行自由造成极大的障碍。
美国“重返亚太”的战略使中美在亚太地区以及东海地区的竞争有位激烈。2011年7月在越南河内举办的第17届东盟地区论坛(ARF)上,美国外长希拉里·克林顿宣布美国拥有在东海地区的航行自由权的国家利益。这可以视为美国在东海争议问题中最为强硬的宣布。虽然美国的正是立场是不偏袒东海争议中的任何一方,但美国宣布将保护海上安全域自由,反对使用武力或威胁使用武力。美国“重返亚太”的深层次目的是遏制中国的崛起。美国在亚太地区以及东海地区的存在将是中国在东海政策上要保持谨慎态度。
Những thuận lợi và khó khăn của Trung Quốc trong tranh chấp Biển Đông
18:52 |
Tranh
chấp Biển Đông đang ngày càng diễn biến phức tạp mà nguyên nhân chủ yếu xuất
phát từ sự gây hấn, ngang ngược của TQ. Cùng với việc đưa ra yêu sách “Đường
lưỡi bò” và tuyên bố Biển Đông là “lợi ích cốt lõi”, TQ tăng cường sức mạnh hải
quân, liên tiếp có những động thái nhằm khẳng định chủ quyền của mình trên thực
địa như khảo sát dầu khí, tập bắn đạn thật, tập trận, xây dựng các công trình cơ
sở vật chất trên các đảo Trung Quốc chiếm đóng… Trong tranh chấp ở Biển Đông,
với vị thế nước lớn, Trung Quốc có những lợi thế so với các nước liên quan đến
tranh chấp, tuy nhiên, Trung Quốc cũng gặp không ít những bất lợi trong quá
trình khẳng định chủ quyền của mình tại khu vực này.
Về yếu tố thuận lợi:
Thứ nhất, Trung Quốc có sức mạnh và vị
thế vượt trội về ngoại giao, kinh tế, quân sự so với các nước liên quan tranh
chấp Biển Đông. Là nền kinh tế đứng thứ hai thế giới và với vị thế nước lớn,
Trung Quốc có điều kiện để lôi kéo, tác động gây ảnh hưởng nhằm tranh thủ sự
ủng hộ của các nước, nhất là Trung Quốc đã dùng sức mạnh kinh tế, quân sự để gây
chia rẽ, phân hóa lập trường của các nước ASEAN trong vấn đề Biển Đông. Điển
hình là thời gian gần đây, Trung Quốc đã tăng cường đầu tư, cung cấp các khoản
viện trợ lớn cho Lào và Campuchia nhằm lôi kéo, gia tăng ảnh hưởng và chia rẽ
hai nước này với Việt Nam. Bên cạnh đó, Trung Quốc dùng sức mạnh quân sự để răn
đe các nước yếu hơn trong tranh chấp Biển Đông. Báo chí Trung Quốc nhiều lần
đăng tải các thông tin kích động cuộc tấn công quân sự nhằm vào Việt Nam,
Philippines…
Thứ
hai, chiến dịch tuyên truyền vận động của Trung Quốc rất bài bản và thống
nhất. Từ rất lâu, Trung Quốc đã chủ động tuyên truyền về chủ quyền Biển Đông
một cách toàn diện từ địa phương đến trung ương, bằng nhiều hình thức và các
kênh khác nhau một cách thống nhất và liên tục. Theo thống kê không chính thức,
TQ đã có hàng trăm công trình nghiên cứu tầm cỡ về Biển Đông, đã có rất nhiều
công trình khoa học, tạp chí nổi tiếng thế giới đã đăng tải bản đồ, bài viết có
ảnh minh họa thể hiện rõ “Đường lưỡi bò” của Trung Quốc, thậm chí trang web
Google cũng đã từng đăng bản đồ trực tuyến có “Đường lưỡi bò”. Trung Quốc có
đội ngũ chuyên gia nghiên cứu về Biển Đông đông đảo và được đầu tư cẩn thận. Trung
Quốc đã có những bước đi đầy chủ ý, lấn dần từng bước với mục đích tranh thủ sự
đồng tình của cộng đồng quốc tế.
Về yếu tố bất lợi:
Thứ nhất, xu thế hòa bình, hợp tác cùng
phát triển là xu thế chủ đạo, chi phối cục diện thế giới và khu vực; hợp tác đa
phương được coi là phương thức hữu hiệu để xử lý các vấn đề chung của thế giới.
Trong bối cảnh đó, “hòa bình, ổn định và phát triển” ở Biển Đông được cộng đồng
quốc tế quan tâm và ủng hộ. Các nước, đặc biệt là các nước lớn (Mỹ, Nhật Bản,
Australia,..) đều có chung lập trường giải quyết tranh chấp Biển Đông thông qua
biện pháp hòa bình, tuân thủ luật pháp quốc tế, nhất là Công ước Liên Hợp Quốc
về Luật Biển năm 1982 (UNLOS) và thực thi nghiêm chỉnh DOC tiến tới xây dựng Bộ
Quy tắc ứng xử (COC); ủng hộ đàm phán đa phương, phản đối đe dọa hoặc sử dụng
vũ lực.
Thứ hai, phần lớn các tuyên bố của Trung
Quốc là không có cơ sở về luật pháp quốc tế, đặc biệt là yêu sách “Đường lưỡi
bò” hoàn toàn trái với UNLOS và bị cộng đồng quốc tế phản đối mạnh mẽ. Các học
giả quốc tế cho rằng yêu sách trên của Trung Quốc lần đầu tiên được công bố
chính thức vào năm 2009 chứ không phải năm 1947 như Trung Quốc đã tuyên bố,
“Đường lưỡi bò” không thể hiện tọa độ cụ thể và dư luận quốc tế cho rằng tuyên
bố chủ quyền của Trung Quốc thể hiện qua “Đường lưỡi bò” là mập mờ, khó hiểu,
không có cơ sở pháp lý, là trở ngại đối với tự do hàng hải ở Biển Đông.
Thứ ba, chiến lược quay trở lại châu Á –
Thái Bình Dương của Mỹ đã tạo ra cuộc cạnh tranh ảnh hưởng quyết liệt tại khu
vực này nói chung và Biển Đông nói riêng giữa Mỹ và Trung Quốc. Tại ARF 17 (Hà
Nội, tháng 7/2011), Ngoại trưởng Mỹ Hilary Clinton tuyên bố nước Mỹ có “lợi ích
quốc gia” về tự do hàng hải trên Biển Đông. Đây được coi là tuyên bố mạnh nhất
của Mỹ đối với vấn đề tranh chấp Biển Đông. Mặc dù lập trường chính thức của Mỹ
là không đứng về bên nào trong tranh chấp Biển Đông nhưng Mỹ tuyên bố sẽ đảm
bảo an ninh và tự do hàng hải, phản đối mọi đe dọa hoặc sử dụng vũ lực của bất
kỳ bên nào. Mục đích sâu xa của chiến lược quay trở lại châu Á – Thái Bình
Dương của Mỹ là nhằm phong tỏa, kiềm chế sự trỗi dậy của Trung Quốc. Với sự
hiện diện của Mỹ ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương nói chung và Biển Đông nói
riêng khiến Trung Quốc phải dè chừng, thận trọng hơn trong chính sách Biển Đông.
Thứ tư, vấn đề Biển Đông được đưa vào
nội dung, chương trình nghị sự tại các hội nghị, diễn đàn ASEAN và khu vực châu
Á – Thái Bình Dương. TQ luôn giữ lập trường giải quyết tranh chấp Biển Đông thông
qua đàm phán song phương giữa Trung Quốc và các nước tranh chấp vì điều này có
lợi cho Trung Quốc. Theo các học giả quốc tế, TQ càng ngăn cản thì vấn đề BĐ
càng được “quốc tế hóa”, trở thành chủ đề thường xuyên tại các diễn đàn quốc tế
và khu vực như Hội nghị cấp cao ASEAN, Diễn đàn An ninh khu vực (ARF), Hội nghị
Bộ trưởng quốc phòng ASEAN (AMM), Hội nghị cấp cao Đông Á (EAS), đặc biệt là
Hội nghị Bộ trưởng quốc phòng ASEAN mở rộng (AMM+) với sự tham dự của các nước
lớn (Mỹ, Nga…).
Thứ năm, mặc dù nội bộ ASEAN vẫn chưa
được thống nhất, đồng thuận trong vấn đề Biển Đông, chủ yếu là do một số nước
vì lợi ích của mình không muốn làm ảnh hưởng quan hệ với Trung Quốc, tuy nhiên,
ASEAN vẫn là một khối thống nhất để giải quyết vấn đề tranh chấp Biển Đông với
Trung Quốc, điển hình là việc ASEAN đang nỗ lực hết sức để cùng với Trung Quốc
đàm phán và đi đến ký kết Bộ Quy tắc ứng xử COC. Tích cực tham gia giải quyết
tranh chấp Biển Đông, ASEAN không những đảm
bảo được hoà bình, ổn định và phát triển trong khu vực mà còn nâng cao uy tín, vị
thế của khối trước cộng đồng quốc tế.
Ngoài
những vấn đề bất lợi nói trên, chính
sách ngoại giao nước lớn, bề trên của Trung Quốc thể hiện qua việc chèn ép các
nước nhỏ, cách hành xử ngang ngược, khiêu khích… đã khiến cộng đồng quốc tế
ngày càng không đồng tình, có cái nhìn thiếu thiện cảm đối với Trung Quốc. Đây
cũng chính là điều bất lợi nữa của Trung Quốc trong quá trình khẳng định chủ
quyền của mình ở Biển Đông.
Hot (焦点)
-
胡志明是二十世纪越南革命杰出的马克思主义思想家。他老人家的思想是马克思列宁主义在符合越南的条件和历史背景基础上的运用、发展与创新,体现着时代精神及现代与当代世界的运动与发展趋势。 1 、胡志明思想、道德、风格体系的道德榜样。他老人家的思想合成了越南革命及革命之路的战略策...
-
为维护国家海岛主权,越南历代封建王朝都着重投资建设强大的水军力量。越南丁、李、陈、黎、阮等王朝的水军力量不断得到加强和完善。这支水军为捍卫祖国事业作出了巨大贡献,在各个阶段留下了历史烙印。 至今还收藏的古籍显示,越南历代封建王朝早已对黄沙群岛和长沙群岛确立主权、实施...
-
1954 年《日内瓦协议》签署之后,越南暂时被分成南北两方不同政治制度的政体。据此,越南北纬 17 度以南的领土(包括黄沙、长沙两群岛)由越南共和国政府管辖。根据《协议》规定,法国殖民者被迫撤离越南之后,西贡政权立即派遣海军力量接管黄沙、长沙两群岛并对其行使主权。与此同时,...
-
(VOVWORLD) - 越南伟大领袖胡志明主席的思想、道德、作风、革命生涯是越南全党、全民学习和实践胡志明道德榜样的生动和具有说服力的楷模。至今,越南开展学习和实践胡志明道德榜样运动已有 8 年并取得多项重要结果。 胡志明主席在其革命生涯中牺牲个人利益,为祖国和人...
-
越南的黄沙群岛位于东海(中国称南海)北边,处于北纬 15°45′ 至 17°15′ 、东经 110° 至 113° ,距越南广义省李山岛约 120 海里。黄沙群岛由 37 多个岛、洲、礁和沙滩组成,分为西面和东面两个群岛。东面为安永群岛(中国称宣德群岛),由 12 个岛、洲...
-
数十年来,中国人拿出大量书籍、资料和史料,企图证明从两千年前的汉朝起,中国人就发现了西沙和南沙(即越南的黄沙群岛和长沙群岛),从而说古代中国发现西沙南沙群岛就足够证明中国对西沙和南沙的不可争议的领土主权。据说,中国人最迟于唐宋发现南沙群岛至今,就一直在岛上及其海域从事生产活...
-
越南对黄沙、长沙两座群岛的主权不仅在越南古籍和古文献中有记载,而且还出现在西方航海家和传教士等的书籍、报纸、地图、日记、航路指南等外国资料中。这些资料描述黄沙、长沙“是越南中部海上的一块沙渚…”,这和越南同一历史时期资料和古地图描述的类似。法国 1936 年在印度支那建立的...
-
BDN - 位于东海边国土陆地呈 “S” 字形的越南,无形中拥有沿着国土走向三千公里海岸及依照 1982 年《联合国海洋法公约》从岸边向外延伸的辽阔海域。这意味着从越南 1982 年 11 月确定和公布的垂直基线算起往外延伸 200 海里宽的海域属越南的主权,被称作专属经济...
-
从十六、十七世纪至今,西方国家的轮船日益频繁来往于东海。他们来到这里,不只为了扩大贸易还为了传教和传播西方文化。在来往东海期间,西方航海家和传教士们以当时最现代的技术很详细地描述和绘画黄沙群岛和长沙群岛,以避免这两个群岛的礁石给来往的船舶造成危害。为此,他们很仔细地研究东海...
-
香港媒体最近透露中国在东海划分“新边界线”的海洋研究项目,为“资源研究”创造了条件,北京对这片海域的主权主张“增添了筹码”。这条新边界线是一条与囊括了蕴藏着丰富矿产和能源资源的东海海域九段线相吻合的实线,九段线内的海域就是北京声索主权的那片海域。 从国际法的角度来看实线...











