Việt Nam đảm bảo quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận và dân chủ, nhân quyền

06:54 |
Hiện nay, các thế lực thù địch, phần tử cơ hội chính trị đã và đang ráo riết lợi dụng vấn đề “tự do báo chí, tự do ngôn luận, dân chủ, nhân quyền” để tuyên truyền, kích động, xuyên tạc, chống phá cách mạng nước ta, làm giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ. Chúng ta cần cảnh giác và đấu tranh vạch trần “bộ mặt thật” của chúng.
Vừa qua, một số tổ chức, như: “Ủy bản bảo vệ ký giả” (CPJ), “Phóng viên không biên giới” (RSF) đã liên tục cho ra các “Báo cáo”, “Thông cáo”,… cùng với những luận điệu xuyên tạc, đánh giá thiếu khách quan, phản ánh sai lệch tình hình tự do báo chí, tự do ngôn luận, dân chủ, nhân quyền tại Việt Nam. Họ còn trắng trợn vu cáo Việt Nam gia tăng bỏ tù các nhà báo, đàn áp, bắt giữ tùy tiện các blogger. Đồng thời, can thiệp vào tình hình nội bộ của Việt Nam, yêu cầu Việt Nam “hủy bỏ” những điều luật trong Bộ luật Hình sự mà họ cho là “những điều luật mơ hồ xúc phạm quyền con người ” và kêu gọi trả tự do vô điều kiện cho các cá nhân mà họ gọi là “nhà báo”, “nhà hoạt động nhân quyền”, “blogger bị bắt giữ tùy tiện” tại Việt Nam,.. còn đặt bịa ra là tại sao FH, CPJ, RSF đưa ra những đánh giá hồ đồ, sai lệch trên trong khi sự thật thì hoàn toàn ngược lại? phải chăng họ thiếu thiện chí với Việt Nam? Có thể, nhưng cũng không chỉ đơn giản là vậy, mà điều dễ nhận thấy ở đây là luận điệu họ đưa ra nhuốm màu thù địch. Bởi, nếu không thù địch thì hẳn sẽ không xuyên tạc trắng trợn đến vậy.
Thực tế trong những năm qua, khi các cơ quan chức năng của Việt Nam bắt giữ để điều tra, đưa ra xét xử công khai một số đối tượng phạm tội tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, ngay lập tức các tổ chức FH, CPJ,  RSF đã vội “chụp” cho các đối tượng này chiếc mũ “nhà dân chủ”, “cây viết độc lập” và đưa ra “Thông cáo” xuyên tạc, đòi Việt Nam phải trả tự do vô điều kiện cho họ. Không những thế, các tổ chức này còn thường xuyên tổ chức các cuộc trao giải thưởng “tự do báo chí quốc tế” để tôn vinh, động viên những cá nhân có quan điểm chống đối Việt Nam. Đặc biệt, một số đối tượng, trong đó có cả những người đã từng hoạt động trong cơ quan báo chí lợi dụng danh nghĩa nhà báo, tự do dân chủ, tự do ngôn luận, tự do báo chí, mạng in-ter-net, lập ra các trang blog,... để đăng tải nhiều bài viết có nội dung xuyên tạc, tuyên truyền phỉ báng sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước và cá nhân một số cán bộ cấp cao, cũng như thông tin sai lệch hoạt động của bộ máy quản lý, điều hành của chính quyền. Hơn thế, số này đã uốn cong ngòi bút, chuyển sang viết những lời thóa mạ, lạc lõng, cơ hội, vụ lợi, cổ súy cho những hành vi vi phạm pháp luật của một số đối tượng, đi ngược lại ý chí và nguyện vọng của nhân dân, dân tộc; đồng thời, gieo rắc vào suy nghĩ người đọc rằng “chính quyền xử tội những nhà dân chủ, những thanh niên, sinh viên yêu nước”. Những hành vi này, đã vi phạm quy định tại Điều 258, Bộ luật Hình sự nước Cộng hòa XHCN Việt Nam. Mặc dù khi làm việc với các cơ quan chức năng, tất cả các đối tượng này đã khai nhận toàn bộ hành vi vi phạm và xin được hưởng sự khoan hồng của pháp luật. Thế nhưng, FH, CPJ, RSF đã không ít lần thể hiện “sự quan tâm đặc biệt” với số này và đưa ra những đòi hỏi vô lối yêu cầu Việt Nam phải “trả tự do vô điều kiện” cho họ. Thực chất, đây rõ ràng là sự can thiệp phi lý vào nội bộ của Việt Nam và cổ súy cho các đối tượng xấu chống Đảng, Nhà nước Việt Nam; thể hiện cái nhìn thiếu thiện chí của FH, CPJ, RSF… về tình hình tự do, dân chủ, nhân quyền ở nước ta.
Có thể nói, tất cả các trường hợp “điển hình” mà các tổ chức FH, CPJ, RSF,… thường lấy làm dẫn chứng cho sự vi phạm về tự do, dân chủ, nhân quyền đều là những cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật của Việt Nam. Và sự thật đã rõ, các “Báo cáo”, “Thông cáo”,… mà một số tổ chức, trong đó có FH, CPJ, RSF đưa ra, thực chất chỉ là những bản đánh giá sai lệch về bản chất, thiếu tính khách quan khi chỉ dựa vào một số cá nhân vi phạm pháp luật của Việt Nam, để từ đó hồ đồ đưa ra cái gọi là “Báo cáo”, “Thông báo” của mình. Chính FH, CPJ, RSF đã tự biến mình thành trò hề trong “cuộc chơi” tự do, dân chủ, nhân quyền mà một số cá nhân, tổ chức có quan điểm thù địch với Việt Nam thường xuyên sử dụng như một “liều thuốc đặc trị”, nhằm chống Đảng, Nhà nước Việt Nam. Thực chất, đằng sau cái gọi là “vi phạm nhân quyền”, “vi phạm tự do báo chí”, “đàn áp, bắt giữ các blogger, nhà báo”,… mà một số tổ chức, cá nhân, trong đó có FH, CPJ, RSF thường “gán” cho Việt Nam chỉ là một “màn kịch” đã được dựng sẵn, nhằm kích động, tiếp tay, cổ súy cho các phần tử xấu chống Đảng, Nhà nước Việt Nam.
Hiện nay, Việt Nam đang xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN, mọi hoạt động của xã hội được quản lý và điều chỉnh theo luật pháp. Ở Việt Nam, mọi người đều bình đẳng trước pháp luật, nếu vi phạm pháp luật đều bị xử phạt theo quy định; pháp luật phải được thượng tôn, không ai đứng ngoài pháp luật, đứng trên pháp luật. Một số trường hợp, như: Trần Huỳnh Duy Thức, Tạ Phong Tần, Lê Quốc Quân, Hoàng Khương, Nguyễn Hữu Vinh (Anh Ba Sàm), Trương Duy Nhất, Võ Thanh Tùng,... cũng không phải ngoại lệ. Như vậy, trên thực tế, ở Việt Nam không có phóng viên hay nhà báo nào bị bỏ tù mà chỉ có người vi phạm pháp luật bị xử lý theo quy định của pháp luật.
Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn tôn trọng và bảo đảm các quyền con người, trong đó có quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận của mọi công dân. Và cũng như các quốc gia khác, nhằm giữ gìn kỷ cương, bảo đảm sự ổn định để phát triển, Nhà nước Việt Nam không cho phép lợi dụng những quyền này để tuyên truyền, kích động lật đổ chính quyền, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Trên thực tế, Ðảng và Nhà nước Việt Nam luôn lắng nghe, tôn trọng ý kiến đóng góp của mọi tầng lớp nhân dân đối với việc xây dựng, thực thi chính sách, pháp luật, thông qua các hình thức phản biện xã hội, qua hệ thống báo chí, truyền thông. Nhân dân được tạo điều kiện thực hiện quyền phản biện thông qua đại diện của mình là Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể, như: Hội Nông dân, Hội Phụ nữ, Ðoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, v.v. Ðây là cầu nối giữa nhân dân với Ðảng và chính quyền các cấp, Mặt trận và các đoàn thể xã hội. Thông qua đó, để tuyên truyền, phổ biến, động viên nhân dân chấp hành tốt đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và các quy định của địa phương, cơ quan, đơn vị; thực hiện nghiêm Quy chế Dân chủ cơ sở để người dân phát huy quyền làm chủ trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, tạo cơ hội để họ phản ánh nguyện vọng chính đáng của mình.
Hiện nay, Việt Nam có 845 cơ quan báo chí in, trong đó có 199 cơ quan báo in, 646 tạp chí và 01 hãng thông tấn quốc gia (tăng 07 cơ quan báo chí in so với năm 2013); 98 báo, tạp chí điện tử (tăng 06 báo, tạp chí điện tử so với năm 2013); 67 đài phát thanh, truyền hình Trung ương và địa phương;180 kênh phát thanh, truyền hình trong nước và 40 kênh phát thanh, truyền hình ở nước ngoài; 05 đơn vị phát sóng truyền hình số mặt đất và 03 nhà cung cấp dịch vụ truyền hình vệ tinh; 27 nhà cung cấp dịch vụ truyền hình cáp. Số lượng thuê bao truyền hình số mặt đất đạt 7.000.000, tăng gấp đôi so với năm 2013; 973.000 thuê bao truyền hình số vệ tinh và 4.300.000 thuê bao truyền hình cáp. So với các quốc gia khác, Việt Nam có số lượng người dùng in-tơ-nét nhiều thứ 8 trong khu vực châu Á và đứng vị trí thứ 3 ở khu vực Đông Nam Á. Việt Nam hiện có gần 18 nghìn nhà báo được cấp thẻ Nhà báo và hơn 19 nghìn hội viên nhà báo cùng cộng tác viên trên khắp cả nước, là bộ phận xã hội hết sức quan trọng, thường xuyên bám sát thực tiễn cuộc sống, phản ánh một cách trung thực tình hình kinh tế - xã hội của đất nước, những tấm gương điển hình tiên tiến, gương “người tốt, việc tốt” trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; luôn đi đầu trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, quan liêu, lãng phí. Từ đó, đề xuất, phản biện một cách khoa học về các chủ trương, đường lối của Ðảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Báo chí Việt Nam thật sự là một kênh thông tin, phản biện xã hội rộng rãi, công khai, dân chủ, nhanh chóng, có hiệu quả.
Về vấn đề dân chủ, nhân quyền, Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn quan tâm tới việc phát huy dân chủ, quyền con người trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Điển hình là Hiến pháp năm 2013 đã dành sự ưu tiên đặc biệt đến quyền con người và thể hiện sự tiến bộ rõ nét trong nhận thức về quyền con người. Trong đó, đã dành 38 điều quy định về quyền con người, đồng thời đưa chương quy định về Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân lên vị trí trang trọng (Chương II) ngay sau chương Chế độ chính trị (Chương I). Đồng thời, khẳng định nguyên tắc nhà nước “công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội”; “Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe cộng đồng”. Nội dung tiến bộ và dân chủ này đã thể hiện rõ quan điểm tiên quyết của Đảng, Nhà nước Việt Nam trong việc đề cao trách nhiệm, giải quyết mối quan hệ giữa quyền con người và quyền công dân. Mặt khác, nó cũng “đóng khung”, “ngăn chặn” hành vi xâm phạm, hạn chế quyền công dân từ phía các cơ quan, nhân viên công quyền. Đây cũng là một hành động cụ thể, thể hiện Việt Nam tiếp thu quy định của Công ước quốc tế về quyền chính trị, dân sự; quyền kinh tế, văn hóa và Tuyên ngôn nhân quyền năm 1948, phù hợp với giai đoạn phát triển mới của đất nước, đánh dấu bước tiến bộ toàn diện hơn trong lịch sử lập hiến, lập pháp của Việt Nam. Từ đó có thể khẳng định, nhận thức, quyết tâm và hành động nghiêm túc của Việt Nam về vấn đề quyền con người và việc phát triển, hoàn thiện quyền con người luôn là mục tiêu, động lực trong định hướng phát triển đất nước ở Việt Nam.
Nhân dịp kỷ niệm 85 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam và đón Xuân Ất Mùi 2015, trả lời phỏng vấn Thông tấn xã Việt Nam, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: mọi chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước ta đều phải hướng tới mục tiêu cuối cùng là vì nhân dân, để đời sống nhân dân ngày càng tốt hơn, sung túc hơn. Như vậy, thực tế đã rõ, vấn đề tự do, dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam luôn được Đảng, Nhà nước Việt Nam hết sức quan tâm, chú trọng và đặt lên hàng đầu, mọi công dân Việt Nam đều có quyền bình đẳng trước pháp luật và được pháp luật bảo vệ. Không có cái gọi là “vi phạm dân chủ, nhân quyền”, “bắt giữ tùy tiện” nhằm vào những nhà báo hay blogger mà một số tổ chức đã đưa ra.
Việt Nam là một đất nước có tự do, độc lập, con đường phát triển của dân tộc Việt Nam do chính người dân Việt Nam lựa chọn. Việt Nam không bao giờ chấp nhận một thế lực bên ngoài can thiệp, sắp đặt và lại càng không để cho bất cứ ai xuyên tạc, phỉ báng, kích động gây rối nội bộ, kìm hãm sự phát triển của đất nước. Thiết nghĩ, những ai đó luôn cho rằng tự do báo chí, tự do ngôn luận là “tối thượng” và lợi dụng quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận, dân chủ, nhân quyền để hô hào, cổ súy cho những hành động đi ngược lại lợi ích của dân tộc Việt Nam thì tự họ phải xem xét lại.
ANH VŨ


Đọc thêm...

越南引进外资—亮点和缺陷

06:52 |
仅在2017年最后两个季度,越南吸引外资突飞猛进,提前两个月完成全年目标任务,使越南吸收外资规模创10年来历史新高。在尝到台塑河静钢厂造成越南中部海洋环境污染事故的苦果之后,专家们建议应对引进外资质量进行全面评估。
好因缘必须来自双方
谈到越南引进外资过程,前合作与投资国家委员会副主任阮迈教授、博士可能是最了解的人之一。他回想2011年曾经参加过由越南邮政通信集团(VNPT)主办的十分特别的事件。
该事件是越南邮政通信集团与澳电讯公司的商业合作合同签订十周年纪念典礼,该合同于2001年结束,这也是越南邮政通信集团对合作伙伴表达谢意的契机。在越南邮政通信集团与澳电讯公司建立合作关系的时候,美国没有解除禁运,但澳电讯公司依然协助越南邮政通信集团构建一个更接近消费者的商业模式,加强人力资源培训工作、其中许多人以后担任公司的重要职务,并提升越南合作伙伴的企业管理水平。除了外汇流入之外,这就是我们对外国投资所期待的。资本流入的质量将在这些因素上得到充分体现,其造成较强的辐射效应并促使经济回暖。
现在还有这样成功的故事吗?这位教授的回答是肯定的。例如辅助工业已释放积极信号。在于2014年首次举办的辅助工业研讨会吸引了数百企业参加、可是结果不如所望之后,三星集团已改变做法。该集团考察和选择最具潜力的国内生产商,派遣专家队伍直接与企业合作。该队伍没有收到企业的薪金,只注重支持企业提高管理水平、投入三星集团所需要的技术、降低能耗、减少库存量和降低成本等。三个多月后,入选企业已成为三星集团的一级供应商。
阮迈教授认为,好因缘必须来自双方的。国内企业应自信、主动与外资企业对接沟通,推动技术创新、提高人力资源素质和积极加入供应链。与此同时,外资企业应制定合作战略,主动帮助越南企业提高能力、满足外企的需求并寻找针对每个产品的合适合作模式。
扶持政策必不可少
不仅谈及日本投资商对不同地区的投资趋向和投资活动趋势(即扩大对中小型企业的投资规模、增加投资资本、加大对服务业投资力度等),日本国际协力机构(JICA)顾问博明里七咖还为与日本企业成功开展合作总结了三个因素。即是实施企业治理原则和符合国际标准的规则,追求效率和利润。此外,令人吃惊的一个因素是保持车间干净整洁。他称,为了正确地评估伙伴的能力,日本投资商宁愿观察厂房而不阅读有关公司的大批材料。然而,实际上越南企业没有把重点放在这个方面,所以错失了许多机会。
国内外专家认定,不仅在2017年或2018年,而且到2022年、2023年,越南依然是最具吸引力投资目的地。这是一个好机会,可是我们还需要一个“过滤器”来消除对国家可持续发展带来的风险。为了充分利用这个机会,在双方企业共同努力的同时,国家也要在制定优惠政策方面起着举足轻重的作用。
阮迈教授认定,美好的前景是否变成现实还取决于政府为推进行政审批制度改革、构建足够透明、开放及稳定的政策体系和严格执行政策等所作出的努力
Đọc thêm...

FDI, điểm sáng và khoảng lặng

06:51 |
Chỉ trong hai quý cuối năm 2017, thu hút vốn đầu tư nước ngoài (FDI) đã bật tăng mạnh mẽ để về đích trước hai tháng so với kế hoạch, đưa con số của cả năm đạt kỷ lục cao nhất trong 10 năm trở lại đây. Sau những trả giá vì "trái đắng Formosa", các chuyên gia khuyến nghị, cần phải nhìn nhận lại một cách đầy đủ, toàn diện về chất lượng vốn đầu tư nước ngoài.
"Nhân duyên" tốt đẹp phải từ hai phía
Nói về quá trình thu hút đầu tư nước ngoài của Việt Nam, GS, TSKH Nguyễn Mại, nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Nhà nước về Hợp tác và Ðầu tư, có lẽ là một trong những người am tường nhất. Ông nhớ lại, năm 2011 từng được tham dự một sự kiện rất đặc biệt do Tập đoàn Bưu chính - Viễn thông Việt Nam (VNPT) tổ chức.
"Ðó là lễ kỷ niệm 10 năm kết thúc hợp đồng hợp tác kinh doanh với Telstra (Ô-xtrây-li-a), nghĩa là hợp đồng đó kết thúc vào năm 2001; là dịp mà VNPT bày tỏ sự cảm ơn đối với đối tác của mình. Ở thời điểm VNPT và Telstra hợp tác với nhau, Mỹ còn chưa bỏ cấm vận nhưng Telstra đã giúp xây dựng được ở VNPT phương thức kinh doanh tiếp cận người tiêu dùng, đào tạo nhân lực, trong đó có nhiều người sau này nắm giữ những vị trí chủ chốt ở VNPT và đặc biệt là đã "nâng cấp" trình độ quản lý doanh nghiệp cho đối tác Việt Nam. Bên cạnh dòng ngoại tệ chảy vào, đây chính là những yếu tố mà chúng ta mong muốn ở đầu tư nước ngoài. Chất lượng của dòng vốn đầu tư thể hiện ở những yếu tố như thế, tạo ra sức lan tỏa mạnh mẽ, làm ấm nền kinh tế", ông Mại kể lại nhân khi nói về những trăn trở trong thu hút đầu tư FDI.
Muốn tìm những câu chuyện thành công như vậy lúc này, có hay không? Câu trả lời của vị giáo sư là có. Chẳng hạn như tín hiệu tích cực từ phát triển công nghiệp hỗ trợ. Sau hội thảo công nghiệp hỗ trợ đầu tiên vào năm 2014 thu hút hàng trăm doanh nghiệp tham gia, nhưng kết quả thu được không đáp ứng kỳ vọng, Tập đoàn Samsung đã thay đổi cách làm. Họ tìm hiểu, lựa chọn các nhà sản xuất trong nước có tiềm năng, cử chuyên gia đến làm việc trực tiếp với doanh nghiệp. Ðội ngũ này không nhận lương của doanh nghiệp và chỉ tập trung vào hỗ trợ nâng cao trình độ quản lý doanh nghiệp, đầu tư đúng công nghệ mà Samsung yêu cầu, giảm tiêu hao năng lượng, giảm hàng tồn kho, chi phí phân phối… Chỉ sau hơn ba tháng, các doanh nghiệp được lựa chọn, hỗ trợ đã trở thành nhà cung cấp cấp một của Samsung.
GS Nguyễn Mại đúc kết: "Một nhân duyên tốt đẹp phải đến từ cả hai phía. Các doanh nghiệp trong nước cần tự tin, chủ động tiếp cận doanh nghiệp FDI; đầu tư, đổi mới công nghệ và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; tìm kiếm phân khúc phù hợp để tham gia vào chuỗi cung ứng. Ngược lại, doanh nghiệp FDI cần có chiến lược hợp tác, kết nối với doanh nghiệp Việt Nam, chủ động giúp doanh nghiệp Việt Nam nâng cao năng lực, đáp ứng đúng nhu cầu của mình và tìm ra mô hình hợp tác thích ứng với từng sản phẩm", ông nói.
Không thể thiếu "bà đỡ" chính sách
Không chỉ đề cập rất cụ thể đến những khuynh hướng đầu tư từ Nhật Bản vào các vùng, miền khác nhau trên toàn quốc, cũng như những xu hướng của hoạt động đầu tư (như mở rộng đầu tư vào doanh nghiệp vừa và nhỏ; thường xuyên tăng vốn đầu tư, quan tâm đầu tư vào ngành dịch vụ), ông Hi-rô-ai-ki Y-a-shi-rô, Cố vấn Cơ quan Hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA) về cải thiện môi trường đầu tư còn đúc kết ba yếu tố để hợp tác thành công với các doanh nghiệp Nhật Bản. Ðó là thực hiện nguyên tắc quản trị doanh nghiệp và quy tắc tuân thủ theo tiêu chuẩn quốc tế; theo đuổi hiệu quả và lợi nhuận. Thêm nữa, một chi tiết nhỏ và khá bất ngờ - là giữ nhà xưởng sạch sẽ và ngăn nắp. Ông cho biết, đối với các nhà đầu tư Nhật Bản, qua việc quan sát nhà xưởng, họ sẽ đánh giá được năng lực của đối tác chính xác hơn là đọc một tập tài liệu dày giới thiệu về công ty… Nhưng trên thực tế chưa có nhiều DN Việt Nam chú trọng điều đó, vậy nên, nhiều cơ hội đã bị bỏ qua.
Theo nhận định của các chuyên gia trong nước và nước ngoài, không chỉ năm 2017 hay năm 2018 mà đến cả năm 2022, 2023, Việt Nam vẫn là một điểm đến hấp dẫn của nhà đầu tư nước ngoài. Ðiều đó là cơ hội, nhưng chúng ta cũng cần đến "lưới lọc" để loại bỏ những trường hợp mang lại rủi ro cho phát triển bền vững của quốc gia. Và để tận dụng tối đa cơ hội, ngoài việc cả hai bên đối tác doanh nghiệp cùng thật lòng cố gắng, thì vai trò của Nhà nước cũng hết sức quan trọng để tạo nên hệ thống chính sách mang tính động lực thu hút đầu tư.
"Triển vọng tốt đẹp có thành hiện thực hay không còn phụ thuộc nhiều vào nỗ lực của Chính phủ trong việc cải cách, đơn giản hóa thủ tục hành chính; xây dựng hệ thống chính sách đủ minh bạch, công khai, ổn định và thực thi nghiêm chỉnh", GS Nguyễn Mại nhìn nhận.


Đọc thêm...

越南人权领域新进步

06:41 |
无可否认,在此前的历史时期,如:1945-1975年的民族解放革命、抗战保卫祖国、国家统一时期和1975-1986年按旧式社会主义形态建设社会主义时期,由于种种原因,我党、我国没有条件完全保障各项人权。苏联解体后,东欧社会主义各国倒台,国内外敌对势力加强实施“和平演变”战略,破坏我国社会主义制度,妄图将我国制度转化成外来的“民主、人权”模式。在这一背景下,我党和国家一方面坚持民族独立和社会主义目标,另一方面创造性地运用和发展马列主义、胡志明思想改变建设社会主义形势,从旧模式转变为新模式。我党肯定:“我国人民建立的社会主义社会是一个民富、国强、民主、公平、文明的社会……”且“人是发展战略的重心,同时也是发展的主体。”由此,我国人权问题取得了一些重要成就。这是我国人权不可否认的新进步。
首先,在法理方面,在我党迄今为止的纲领路线基础上,越南已加入了几乎所有关于人权的主要国际公约。2013年,越南宪法第一次辟出独立的一章对“人权、公民基本权利和义务”做出规定。可以说2013年宪法以及我国现行法律系统不仅与各个关于人权的国际公约互相适应,还被国际社会评价为世界领先的法律系统之一。正因如此,越南已成为2014-2016届联合国人权组织成员、2016-2018届联合国经济社会理事会成员,近期也被当选为2016-2021届联合国法律委员会会员。
几年来,人权在经济、社会和文化领域得到我党和国家的关心,并取得重大成果:经济发展维持较高增长。人均收入预计由2008年的1024美元增至2016年的2200美元。越南自2010年已成为中低收入国家,贫困户比例快速下降,由2008年的13.7%下降至2015年的5%
其次,人权在民事、政治方面已取得重大成果。第十四届国会代表选举就是一个例证。选民总数达67,485,480人;选民投票率达99.35%。代表机构方面,500名代表当中有86人为少数民族,133名妇女,21名党外人士。第十届国会代表文化程度为历届最高:大学以上310人,占62.5%,大学文化180人,占36.3%,大学以下6人。国会中妇女及少数民族代表比例与地区内多个国家相比较高,越南首次拥有了一位女国会主席。
再次,舆论、报章的自由权利得到尊重和扩大。如今全国有105份报刊杂志,与2014年相比增加7份。其中包括83份机关报及电子杂志,22份独立电子杂志。经过许可的机关报纸综合电子信息网站为248个。5年共增加44家机关电子报。广播电视方面,全国现有67家;其中国家级的是越南电视台和越南广播电台。
除了国内信息、报纸、传媒系统外,如今越南人民可以解除数十家通讯社、报纸和外国电视台,如:Reuters, BBC, VOA, AP, AFP, CNN及多家大型国际报刊杂志。
可以说在越南迄今为止已拥有“平面世界”的几乎所有技术基础。从网络搜索、留存信息工具如谷歌、雅虎、YouTube等到各个国内外社交网络,各家网站、个人博客都能随时接入。多个国际组织认定,Facebook在越南的发展是区内最快的。
第四,我党和国家视尊重和保障宗教信仰自由、少数民族权力为自身的义务,甚至是全民族大团结的基础和力量。实际上,我党和国家一直关注宗教信徒的物质和精神生活,保证各宗教和谐发展,与民族同行。在越南,没有哪个在法律框架内活动的宗教被禁止。没有哪位公民被强制遵从或不存从某个宗教信仰。
为了保障各少数民族同胞的经济社会权利,我国特别注意建设基础设施。如今已有92%的乡有公路直通乡中心,95%的乡通电,80%的乡有小型水利设施;65%的乡通水。保证接受教育的权利是越南发展政策的基本目标。少数民族地区各乡的物质基础系统已与村寨学校、民族学校、民办学校基本同步,再加上对贫困生的生活补助政策已帮助少数民族同胞有机会入学,接受教育。医疗系统,尤其是基础医疗网络,包括在偏远地区、少数民族都得到巩固和广泛发展,。医疗站网络已覆盖全国99%的乡。
第五,社会弱势群体,包括妇女儿童的权益得到我党和国家的特别关心。每年,劳动、伤兵及社会保障部配合有关部委、组织和地方发动“为了儿童行动月”旨在发动全社会携手保护和照顾儿童,为儿童体质、知识、精神的全面发展创造安全健康的生活环境。医疗方面也得到我国特别注意。
妇女权益方面,自2010年至今,国会已颁布40条法律。其中,女性权利已完整纳入国家法律系统。国家2016-2020年关于性别平等的行动以“在一些有性别不平等现象或性别不平高危的领域、行业、地区、地方减少性别距离、提高妇女地位,努力实现国家2011-2020性别平等战略。”
在党的第十二届领导机关中,有三位女性成员公职政治部,占15.78%,半数以上的中央部委机关主要干部为女性。在劳动就业领域,全国的劳动者中女性劳动者比例仍维持在48.3%的高水平,妇女参与企业调度、管理的比例达24.9%。在健康领域,产妇死亡比例已下降三倍,从1990年的233/十万人下降到2014年的59/十万人,预计2015年将降至58.3/十万人。
第六、人权领域上的国际合作得到国家积极促进。首先,这是国家的政治体制,我们的社会制度已得到各国尊重。在20137月,由时任国家主席张晋创和美国总统巴拉克•奥巴马共同签署的全面合作伙伴文件中已肯定:“各方的原则是尊重联合国宪章、国际法,互相尊重政治体制、独立、主权和领土完整。”这一原则等同于美国尊重我党领导下的社会主义制度,尊重越南法律系统。双方的一些差异只能通过对话与平等合作来减少。
保障人权是世界各国的目标。越南取得的人权成果巨大、世所罕见,无可否认。然而,月男仍面临多个挑战。能够在安全健康的环境中生活这一点已得到国际社会视为每个人基本和重要的权利。但是,环境严重污染是我们人权问题面临的大挑战。
在市场经济背景下保障民事、政治权利领域对于我们现在的大挑战是道德和生活方式的衰退,部分党员干部官僚、贪污、小集团等现象,第十一、十二届中央四号决议也已指出,这不仅给人民对于党和制度的信任带来消极影响,还对保障我国人权造成负面影响。
然而,我们有足够的理由相信,沿着马列主义的路线,落实党的纲领、政策和国家法律,我国人民一定有机会享有更完整的人权。(完)
作者:胡志明国家政治学院高德泰博士
Đọc thêm...

Những bước tiến mới trên lĩnh vực quyền con người của Việt Nam

06:40 |
Tôn trọng và bảo đảm quyền con người luôn là mục tiêu hàng đầu của Đảng và Nhà nước ta. Trong các thời kỳ khác nhau, quyền con người ở Việt Nam đạt được những kết quả tương xứng. Những năm qua, việc bảo đảm quyền con người ở nước ta có những bước tiến mới, đó là hiện thực mà không một ai có thể phủ nhận được.
Không phủ nhận rằng, trong những thời kỳ lịch sử trước đây, như: trong cách mạng giải phóng dân tộc, kháng chiến bảo vệ Tổ quốc, thống nhất đất nước (1945 - 1975) và trong thời kỳ xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa theo mô hình chủ nghĩa xã hội kiểu cũ (1975 - 1986), do nhiều yếu tố, Đảng, Nhà nước ta chưa có điều kiện để bảo đảm đầy đủ các quyền con người.
Sau khi Liên Xô tan rã, các nước theo chế độ xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu sụp đổ, các thế lực thù địch trong và ngoài nước đã đẩy mạnh thực hiện chiến lược “Diễn biến hòa bình” chống phá chế độ xã hội, Nhà nước ta, hòng chuyển hóa chế độ ta sang mô hình “dân chủ, nhân quyền” ngoại nhập. Trong bối cảnh đó, Đảng và Nhà nước ta một mặt, kiên trì mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; mặt khác, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh thay đổi mô hình xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa, từ mô hình kiểu cũ sang mô hình kiểu mới. Đảng ta khẳng định: “Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh;… ”1 và “Con người là trung tâm của chiến lược phát triển, đồng thời là chủ thể phát triển. Tôn trọng và bảo vệ quyền con người, gắn quyền con người với quyền và lợi ích của dân tộc, đất nước và quyền làm chủ của nhân dân”2. Do vậy, quyền con người ở nước ta đạt được những thành tựu quan trọng. Đó là những bước tiến mới về nhân quyền ở nước ta không thể phủ nhận.
Trước hết, về mặt pháp lý, dựa trên Cương lĩnh, đường lối của Đảng cho đến nay, Việt Nam đã gia nhập hầu hết các công ước quốc tế chủ chốt về quyền con người. Trong đó có 2 công ước cơ bản quy định đầy đủ các quyền con người. Đó là “Công ước quốc tế về các Quyền Dân sự, Chính trị”, 1966; “Công ước quốc tế về các Quyền Kinh tế, Xã hội và Văn hóa”, 1966. Đồng thời, Việt Nam đã ký kết, gia nhập các công ước chuyên biệt. Đó là “Công ước về Xóa bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc”, “Công ước về Xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ”,... và gần đây (năm 2014) là “Công ước chống Tra tấn”. Việt Nam cũng đã tham gia 20 công ước của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), trong đó có 5 công ước cơ bản về lao động, việc làm, v.v. Thực hiện các cam kết quốc tế, Nhà nước ta đã nội luật hóa các công ước nói trên vào hệ thống pháp luật quốc gia.
Năm 2013, lần đầu tiên, Hiến pháp Việt Nam đã dành cả một chương - chương II - quy định về “Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân”. Khoản 1, Điều 14 của Hiến pháp quy định: “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật”. Có thể nói, Hiến pháp năm 2013 cùng với hệ thống pháp luật hiện nay của Nhà nước ta không chỉ tương thích với các công ước quốc tế về quyền con người, mà còn được cộng đồng quốc tế đánh giá là một trong những hệ thống pháp luật tiến bộ hàng đầu trên thế giới. Chính vì vậy, Việt Nam đã trở thành thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc (nhiệm kỳ 2014 - 2016), Hội đồng Kinh tế - Xã hội (2016 - 2018) và gần đây, được bầu vào Ủy ban Pháp luật Liên hợp quốc (nhiệm kỳ 2016 - 2021)3.
Trong những năm qua, các quyền con người trên lĩnh vực kinh tế, xã hội và văn hóa được Đảng và Nhà nước quan tâm và đạt được những thành quả to lớn: tốc độ tăng trưởng kinh tế được duy trì ở mức khá, thu nhập bình quân đầu người từ 1.024 USD/năm (năm 2008) đã tăng lên 2.200 USD (ước tính năm 2016). Việt Nam đã gia nhập nhóm các nước thu nhập trung bình thấp từ năm 2010; tỷ lệ hộ nghèo giảm nhanh, từ 13,7% năm 2008 xuống dưới 5% vào năm 2015.
Là quốc gia còn nghèo, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chính sách hỗ trợ cho nhóm nghèo, đồng bào vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số. Chương trình 135 “hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng, hỗ trợ phát triển sản xuất cho các xã đặc biệt khó khăn” là một ví dụ. Chương trình 135 giai đoạn III (2016 - 2020)4 đã được Nhà nước đầu tư 239.316,6 tỷ dành cho xây dựng nông thôn mới và giảm nghèo bền vững. Nhà nước đã dành gói hỗ trợ 30 nghìn tỷ đồng (triển khai từ tháng 6-2013) giúp người thu nhập thấp ở đô thị cải thiện chỗ ở.
Gần đây, Nhà nước đã quyết định giao cho Ngân hàng Chính sách xã hội thực hiện mức lãi suất thấp cho người vay là 4,8%/năm, thời hạn cho vay tối thiểu là 15 năm và tối đa không quá 25 năm, kể từ ngày giải ngân khoản vay đầu tiên. Tương tự như chính sách đối với người nghèo, cho đến nay, Ngân hàng Chính sách xã hội đã cho hàng trăm ngàn học sinh, sinh viên nghèo vay với lãi suất thấp.
Trên một bình diện khác, việc bảo đảm, bảo vệ quyền con người, tất yếu phải đấu tranh với những cá nhân, tổ chức lợi dụng chức vụ, địa vị xâm hại các nguồn lực kinh tế của xã hội và Nhà nước. Trong thời gian qua, theo sự chỉ đạo của Đảng, nhiều vụ việc, vụ án đã được điều tra, hoặc đưa ra xét xử. Đó là việc Chính phủ giao cho cơ quan chức năng thanh tra Dự án Núi Pháo tại Thái Nguyên về nhiều mặt; Dự án Mobifone (mua 95% cổ phần của Công ty cổ phần nghe nhìn Toàn Cầu (AVG) đang thua lỗ lớn, có dấu hiệu mờ ám về tài chính), gây thất thoát hàng nghìn tỷ đồng ngân sách nhà nước. Hoặc đưa ra xét xử vụ án Ngân hàng Xây dựng Việt Nam do Phạm Công Danh (nguyên Chủ tịch Hội đồng quản trị) làm thất thoát hơn 9.000 tỷ đồng.
Liên quan đến các dự án xây dựng đường giao thông theo hình thức BOT, Chính phủ đã yêu cầu Bộ Giao thông Vận tải tổng kết và đánh giá lại 5 năm thực hiện xã hội hóa đầu tư hạ tầng giao thông (bao gồm tiến hành kiểm toán, quyết toán chặt chẽ các dự án BOT để xác định mức phí và thời hạn thu phí); kiểm tra phí đường bộ (theo phương thức BOT) yêu cầu nhà đầu tư phải minh bạch về chi phí, thu phí trước công luận. Đây là những ví dụ về việc bảo vệ lợi ích của người dân một cách thiết thực.

Dân làng Plei Tơ Nghia, thành phố Kon Tum biểu diễn cồng chiêng mừng Ngày bầu cử, ngày 22-5-2016. (Ảnh: nhandan.com.vn)
Thứ hai, quyền con người về mặt dân sự, chính trị đã có những thành quả to lớn. Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIV là một ví dụ. Tổng số cử tri đi bầu lên đến 67.485.480 người; số cử tri đã bỏ phiếu đạt 99,35%. Về cơ cấu đại biểu, trong số 500 đại biểu có 86 người là dân tộc thiểu số, 133 người là phụ nữ, 21 người ngoài Đảng, v.v. Trình độ văn hóa của đại biểu Quốc hội khóa XIV cao nhất so với các khóa trước: trên đại học 310 người (chiếm 62,50%), đại học 180 người (36,30%), dưới đại học 6 người. Tỷ lệ đại biểu là phụ nữ và là người dân tộc thiểu số của Quốc hội ta so với nhiều quốc gia ở khu vực thuộc vào loại cao. Lần đầu tiên Việt Nam có Chủ tịch Quốc hội là nữ.
Hoạt động Quốc hội trong những năm qua, nhất là những năm 2015, 2016 đã có những đổi mới theo hướng thực hiện tốt hơn cơ chế “kiểm soát” quyền lực, xem xét kỹ các Báo cáo của Chính phủ và các ngành. Đồng thời, các đại biểu cũng đã chuyển tải khá đầy đủ ý kiến của cử tri đến diễn đàn Quốc hội, v.v. Theo dõi các kỳ họp Quốc hội, người ta thấy các đại biểu đã đặt nhiều câu hỏi thẳng thắn yêu cầu các thành viên Chính phủ phải minh bạch hóa các thông tin và giải trình những chương trình, dự án (như dự án thủy điện, dự án vay vốn nước ngoài, dự án xây sân bay, điện hạt nhân,…) mà người dân và giới khoa học quan tâm. Mới đây, sự kiện Công ty Hưng Nghiệp Formosa Hà Tĩnh xả thải gây ra sự cố môi trường nghiêm trọng, hủy hoại môi trường biển, ảnh hưởng cuộc sống của gần 300 ngàn người ở 4 tỉnh miền Trung; hoặc “sự cố truyền thông” (tháng 10-2016) liên quan đến thông tin về Asen trong nước mắm do Hội Bảo vệ người tiêu dùng công bố, đã trở thành những chủ đề “nóng” trong sinh hoạt Quốc hội, v.v.
Trong thời gian qua, nhằm đưa Hiến pháp năm 2013 (trong đó có quyền con người) vào cuộc sống, ba vụ trọng án đã được đưa ra xem xét lại. Đó là vụ án ông Nguyễn Thanh Chấn bị bắt và tù oan từ năm 2003, vụ án ông Huỳnh Văn Nén bị bắt và tù oan từ năm 1998, vụ án ông Trần Văn Thêm bị bắt và tù oan từ năm 1970 đến nay đã được minh oan, công khai xin lỗi và bồi thường.
Thứ ba, quyền tự do ngôn luận, báo chí được tôn trọng, mở rộng. Hiện nay cả nước có 105 báo, tạp chí (tăng 7 báo so với năm 2014). Trong đó có 83 báo, tạp chí điện tử của cơ quan báo chí in và 22 báo, tạp chí điện tử độc lập. Tổng số trang thông tin điện tử tổng hợp của các cơ quan báo chí được cấp phép hoạt động là 248. Trong 5 năm qua, đã tăng 44 cơ quan báo chí điện tử. Về phát thanh, truyền hình, hiện cả nước có 67 đài; trong đó, có các đài quốc gia là Đài Truyền hình Việt Nam và Đài Tiếng nói Việt Nam.
Ngoài hệ thống thông tin, báo chí, truyền thông trong nước, người dân Việt Nam ngày nay còn được tiếp cận với hàng chục hãng thông tấn, báo chí và kênh truyền hình nước ngoài, như: Reuters, BBC, VOA, AP, AFP, CNN và nhiều báo, tạp chí quốc tế lớn khác.
Có thể nói ở Việt Nam cho đến nay đã có gần như đầy đủ cơ sở hạ tầng kỹ thuật cho “thế giới phẳng”. Các công cụ tìm kiếm, lưu trữ thông tin trên in-tơ-nét, như: Google, Yahoo, YouTube,… đến các trang mạng xã hội trong và ngoài nước, các web, blog cá nhân đều có thể truy cập bất cứ lúc nào. Theo đánh giá của nhiều tổ chức quốc tế, mạng Facebook ở Việt Nam phát triển nhanh nhất khu vực. Với in-tơ-nét, người dân Việt Nam có thể trực tiếp thể hiện trên cả hai tư cách: người tiếp cận thông tin và người sử dụng in-tơ-nét. “Cư dân mạng” lúc nào cũng có thể đọc tin, viết bài, bình luận, chia sẻ trên mạng về bất cứ vấn đề gì. Có người cho rằng, ở Việt Nam, in-tơ-nét đã trở thành một phần không thể thiếu trong đời sống tinh thần xã hội.
Tuy nhiên, để bảo vệ quyền con người với tư cách là lợi ích xã hội và quyền của cá nhân, Nhà nước ta đã phải xử lý những trường hợp lợi dụng quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do sử dụng in-tơ-nét vi phạm pháp luật, vi phạm quyền cá nhân. Vừa qua, Cơ quan An ninh điều tra, Công an tỉnh Khánh Hòa đã tống đạt quyết định khởi tố bị can, thực hiện lệnh bắt tạm giam và khám xét đối với Nguyễn Ngọc Như Quỳnh về tội “Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” (quy định tại Điều 88, Bộ luật Hình sự). Hoặc Bộ Thông tin và Truyền thông đã tạm thời đình chỉ báo PetroTimes và thu thẻ nhà báo của Tổng biên tập vì đã đăng tải bài trả lời phỏng vấn của “Người buôn gió”5 - Bùi Thanh Hiếu, trả lời phỏng vấn về vụ Trịnh Xuân Thanh. Bài phỏng vấn đã đưa tin sai sự thật và xâm phạm danh dự của cá nhân, tổ chức.
Thứ tư, Đảng và Nhà nước ta xem việc tôn trọng và bảo đảm các quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; quyền của các dân tộc thiểu số là nghĩa vụ của mình, hơn nữa là một phần nền tảng, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc. Trên thực tế, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm, chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho tín đồ tôn giáo, bảo đảm cho các tôn giáo phát triển hài hòa, đồng hành cùng dân tộc. Giáo hội các tôn giáo khi được Nhà nước công nhận tư cách pháp nhân đều được chính quyền các cấp bảo hộ, quan tâm và tạo thuận lợi để hoạt động bình thường. Ở Việt Nam, không một tôn giáo nào (hoạt động trong khuôn khổ pháp luật) bị cấm đoán. Không một công dân nào bị ép buộc theo hoặc không theo một tín ngưỡng, tôn giáo nào.
Để bảo đảm các quyền về kinh tế - xã hội của đồng bào các dân tộc thiểu số, Nhà nước ta đặc biệt chú ý đến xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật. Hiện đã có 92% số xã có đường ô tô đến trung tâm xã; 95% số xã có điện; 80% số xã có thủy lợi nhỏ; 65% số xã có công trình nước sinh hoạt. Việc bảo đảm quyền tiếp cận giáo dục là mục tiêu cơ bản trong chính sách phát triển của Nhà nước Việt Nam. Hệ thống cơ sở vật chất đã được xây dựng tương đối đồng bộ ở tất cả các xã vùng dân tộc thiểu số cùng hệ thống điểm trường ở thôn, bản, hệ thống các trường dân tộc nội trú, trường bán trú dân nuôi, cùng với chính sách hỗ trợ sinh hoạt phí cho học sinh nghèo đã giúp cho con em đồng bào dân tộc thiểu số có cơ hội đến trường, tiếp cận nền giáo dục quốc gia. Đến năm 2012, tỷ lệ biết chữ (phạm vi từ 10 tuổi trở lên) trong đồng bào dân tộc thiểu số là 83,8% - một con số rất đáng mừng so với thời kỳ trước năm 1975. Hệ thống y tế, đặc biệt là mạng lưới y tế cơ sở được củng cố và phát triển rộng khắp, kể cả ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Mạng lưới trạm y tế đã phủ tới 99% số xã. Hệ thống bệnh viện đa khoa tuyến huyện bao phủ tất cả các huyện vùng đồng bào dân tộc thiểu số trong cả nước.
Thứ năm, quyền của nhóm xã hội dễ bị tổn thương, yếu thế (trong đó có nữ giới, trẻ em) được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm. Hiện nay, cả nước có hơn 26 triệu trẻ em, trong đó có khoảng 1,5 triệu trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt và gần 2,5 triệu trẻ em có nguy cơ rơi vào hoàn cảnh đặt biệt6. Hằng năm, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội phối hợp với các bộ, ngành, tổ chức liên quan và các địa phương phát động “Tháng hành động vì trẻ em” (tháng 6) nhằm vận động toàn xã hội chung tay bảo vệ, chăm sóc trẻ em, tạo môi trường sống an toàn, lành mạnh để trẻ em phát triển toàn diện về thể chất, trí tuệ, tinh thần. Chăm sóc về y tế được Nhà nước ta đặc biệt chú ý.
Chương trình “Trái tim cho em” do Đài Truyền hình Việt Nam và Tập đoàn Viễn thông Quân đội Viettel tổ chức, sau 7 năm thực hiện đã quyên góp được 90 tỷ đồng và hỗ trợ phẫu thuật thành công cho 2.700 em nhỏ dưới 16 tuổi mắc bệnh tim bẩm sinh, có hoàn cảnh khó khăn.
Về quyền của nữ giới, từ năm 2010 đến nay, Quốc hội đã ban hành 40 đạo luật. Trong đó, quyền của nữ giới đã được lồng ghép đầy đủ trong hệ thống pháp luật Quốc gia. Chương trình hành động Quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2016 - 2020 với mục tiêu “Giảm khoảng cách giới và nâng cao vị thế của phụ nữ trong một số lĩnh vực, ngành, vùng, địa phương có bất bình đẳng giới hoặc có nguy cơ bất bình đẳng giới cao, góp phần thực hiện thành công Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011 – 2020”7.
Trong cơ quan lãnh đạo Đảng (khóa XII) có tới 3 thành viên của Bộ Chính trị là nữ, chiếm 15,78%; hơn 50% trong các bộ, ngành, cơ quan trung ương có cán bộ nữ giữ vị trí chủ chốt.
Trong lĩnh vực lao động - việc làm, hiện nay lao động nữ vẫn duy trì ở mức cao và đạt 48,3% trong tổng số lực lượng lao động cả nước; phụ nữ tham gia điều hành, quản lý doanh nghiệp đạt 24,9%. Trong lĩnh vực sức khỏe, tỷ lệ tử vong ở người mẹ đã giảm hơn 3 lần, từ 233 bà mẹ/100.000 trẻ vào năm 1990 xuống còn 59 bà mẹ/100.000 trẻ vào năm 2014 và ước năm 2015 là 58,3 bà mẹ/100.000 trẻ.
Thứ sáu, hợp tác quốc tế trên lĩnh vực quyền con người đã được Nhà nước ta thúc đẩy mạnh mẽ. Trước hết, đó là thể chế chính trị của Nhà nước, chế độ xã hội ta đã được các quốc gia tôn trọng. Trong Văn kiện đối tác Toàn diện được Chủ tịch nước Trương Tấn Sang và Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama ký kết (7-2013) đã khẳng định: “nguyên tắc các bên tôn trọng Hiến chương Liên hợp quốc, luật pháp quốc tế, tôn trọng thể chế chính trị, độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau”. Nguyên tắc này đồng nghĩa với việc Hoa Kỳ tôn trọng chế độ xã hội do Đảng ta lãnh đạo, tôn trọng hệ thống pháp luật Việt Nam. Những khác biệt nào đó giữa hai bên chỉ có thể rút ngắn thông qua đối thoại và hợp tác bình đẳng. Trong những năm qua, Nhà nước ta đã thực hiện đối thoại về nhân quyền với nhiều quốc gia, tổ chức và đón nhiều đoàn đại diện của cơ quan nhân quyền của Liên hợp quốc. Gần đây, Việt Nam đã đối thoại với Australia, Hoa Kỳ, Thụy sỹ, EU, v.v.
Bảo đảm quyền con người là mục tiêu của mọi quốc gia. Thành quả về quyền con người của Việt Nam là rất lớn, đã và đang hiện hữu mà không ai có thể phủ nhận được. Tuy nhiên, Việt Nam vẫn đang đứng trước nhiều thách thức. Được sống trong môi trường trong lành đã được cộng đồng quốc tế xem là một quyền cơ bản và quan trọng của mọi người. Thế nhưng, tình trạng môi trường bị ô nhiễm nghiêm trọng là một thách thức lớn về quyền con người của chúng ta.
Trên lĩnh vực bảo đảm quyền dân sự, chính trị trong bối cảnh kinh tế thị trường, thách thức lớn đối với chúng ta hiện nay là tình trạng suy thoái về đạo đức, lối sống, tình trạng quan liêu, tham nhũng, lợi ích nhóm,… của một bộ phận cán bộ, đảng viên mà Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI, XII) đã chỉ ra không chỉ tác động tiêu cực đến niềm tin của nhân dân đối với Đảng và chế độ, mà còn tác động tiêu cực đến việc bảo vệ quyền con người của nhân dân ta.
Tuy nhiên, chúng ta có đầy đủ cơ sở để tin rằng, đi theo con đường của chủ nghĩa Mác – Lê-nin, thực hiện Cương lĩnh của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước, nhất định nhân dân ta sẽ ngày càng có cơ hội hưởng thụ đầy đủ hơn các quyền con người.

TS. CAO ĐỨC THÁI, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
Đọc thêm...

2018年——融入国际进程的重要节点

06:31 |
            2018年是在落实越南共产党第十二次全国代表大会决议过程中承上启下的关键一年,而融入国际是其中的重要环节。今年,越南迎来很多融入国际特别是国际经济的机会。利用好这些机会有助于促进国内经济社会发展,提高国家地位和影响力。
          在融入国际社会的背景下,从扩大关系和参与国际合作转为主动参与、积极倡导并参加制定合作机制是一个重要的转折点。越南2018年融入国际的方针就是如此。
          融入国际经济的重要节点
          融入国际经济是越南融入国际的重点任务。2018年,越南要履行各项重大的国际承诺,旨在推动融入国际事业更上一层楼。
          越南政府副总理兼外交部长范平明表示:“2018年是越南履行多个层级的国际经济承诺的一年。这给各个地方、各家企业造成不少影响。首先是11日生效的将有669种商品实施零关税的东盟商品贸易协定,其次是世贸组织有关承诺,以及按照与中国、韩国等伙伴国签署的自贸协定大幅度减少进口税等承诺。此外,今年,越南也计划完成越欧自贸协定签批,签署《全面且先进的跨太平洋伙伴关系协定》(CPTPP)。”
          显而易见,2018年,越南将继续参与标准和要求更加严格的更大舞台。这表明越南决心在更高层面上融入国际。
          越南工贸部部长陈俊英认为:“2018年,越南将迎来更大的机会。《越欧自贸协定》获批,或者《全面且先进的跨太平洋伙伴关系协定》得到签署的话,这将是巨大的转折点,标志着越南融入国际进程达到更高的水平。2000年,越南对欧出口额仅仅40亿美元,2017年则突破了450亿美元大关。凭借双方在越欧自贸协定中互相提供的优惠,越南对欧出口额将能实现1000亿美元的目标。”
          机会是有的。但有机会只是必要条件,关键是如何良好、有效开发这些机会。这就要看越南下一步改革的努力。
          陈俊英说:“我们都意识到,想要利用这些机会,就要付出新的努力。上述协议生效后,我们在落实协议过程中要大力改革国有企业,改革国企所享受的政策、机制和政府采购。越南各个部门和管理机关都充分认识到当前的挑战及要求。”
          促进多边外交 重申独立自主外交路线
          2017年亚太经合组织系列会议是越南多边外交活动水平有了提升,开始转为主动参加制定共同规则的生动之例证一。
          2017年多边外交良好发展的东风,越南2018年初成功举办了亚太议会论坛第26届年会(APPF 26)。2018年也是越南为2020年担任东盟轮值主席国,竞选20202021年度联合国安理会非常任理事国等重要多边外交活动做好准备的一年。
          越南外交部副部长裴青山说:“越南多年来奉行的独立、自主、全方位、多样化的外交政策从安全、发展到提高越南的国家地位等所有方面都充分发挥了作用。因此,开展2018年外交活动时,越南要继续坚持这一外交路线,但也要进行一些调整。首先,要继续协调有关利益,发挥越南在2017年亚太经合组织系列会议上提出并得到其他经济体支持的包容性发展、跨境电子商务等倡议的作用。其次,继续为东盟的发展贡献力量,维持东盟团结统一,协调利益,促进地区合作更好开展。最后是继续多样化与世界各国的关系,其中,欧盟是优先伙伴之一。”
          融入国际是世界各国实现发展时奉行的政策之一,越南也不例外。2018年,越南希望继续有效把握融入国际特别是国际经济的重要机会,实现经济社会高增长,国家地位不断提升。
Đọc thêm...

Năm 2018: thời điểm quan trọng trong lộ trình hội nhập quốc tế

06:29 |
Hội nhập quốc tế là lựa chọn chính sách của hầu hết các quốc gia để phát triển, và Việt Nam cũng không nằm ngoài xu hướng đó.
Năm 2018, năm bản lề thực hiện các nhiệm vụ của Đại hội XII của Đảng CSVN, trong đó hội nhập quốc tế là một mắt xích quan trọng. Trong năm này, Việt Nam đứng trước nhiều cơ hội hội nhập, đặc biệt là hội nhập kinh tế quốc tế. Việc tận dụng tốt những cơ hội này sẽ góp phần quan trọng vào phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao vị thế, vai trò của Việt Nam trên trường quốc tế.
Trong hội nhập quốc tế, từ mở rộng quan hệ, gia nhập và tham gia hợp tác quốc tế chuyển sang chủ động đóng góp, tích cực khởi xướng và tham gia định hình các cơ chế hợp tác là bước chuyển quan trọng. Năm 2018, hội nhập của Việt Nam không nằm ngoài phương châm này.
Thời điểm quan trọng trong hội nhập kinh tế quốc tế
Hội nhập kinh tế quốc tế là trọng tâm trong hội nhập quốc tế của Việt Nam. Năm 2018, Việt Nam phải hoàn tất các cam kết quốc tế lớn nhằm nâng tầm hội nhập. Phó thủ tướng, Bộ trưởng ngoại giao Phạm Bình Minh cho biết: "Bước vào 2018 là thời hạn Việt nam hoàn tất các cam kết về kinh tế quốc tế trên nhiều tầng nấc. Điều này sẽ tác động đến các địa phương, doanh nghiệp. Trước tiên là hiệp định hàng hóa ASEAN từ 1/1/2018, (xóa bỏ 669 dòng thuế xuống 0%), các cam kết của WTO, cắt giảm sâu thuế quan theo cam kết các FTA mới giữa ASEAN với Trung Quốc, Hàn Quốc. Dự kiến có thế hoàn thiện FTA với EU( EVFTA), ký Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP)".
Có thể thấy năm 2018 Việt Nam tiếp tục tham gia các sân chơi lớn hơn với những tiêu chuẩn, yêu cầu khắt khe hơn. Điều này thể hiện quyết tâm hội nhập ở tầm cao hơn của Việt Nam. Bộ trưởng Bộ công thương Trần Tuấn Anh nhận định: "2018 là những cơ hội lớn hơn nếu như Hiệp định thương mại tự do giữa Liên minh châu Âu và Việt Nam được phê chuẩn và đi vào thực thi cũng như CPTPP được ký kết thì sẽ là bước ngoặt rất lớn và tầm vóc cao hơn rất nhiều trong tiến trình hội nhập của Việt Nam. Năm 2000 xuất khẩu của Việt Nam sang Liên minh châu Âu chỉ có 4 tỷ USD,đến 2017 đã là hơn 45 tỷ USD. Với những cơ chế ưu đãi mà 2 bên dành cho nhau trong EVFTA thì khả năng xuất khẩu của Việt Nam sang EU có thể lên đến 100 tỷ USD".
Cơ hội đã có. Đó là điều kiện cần. Còn điều kiện đủ là làm sao tổ chức khai thác tốt và thực hiện có hiệu quả các cơ hội này. Điều này phụ thuộc vào các nỗ lực của Việt Nam trong việc thực hiện tiếp các cải cách. Bộ trưởng Trần Tuấn Anh cho rằng: "Chúng ta hiểu rằng những nội dung này đòi hỏi nỗ lực mới. Trong quá trình thực thi sắp tới nếu các hiệp định này có hiệu lực, chúng ta phải cải cách nhiều hơn nữa doanh nghiệp nhà nước, các cơ chế chính sách dành cho khu vực của doanh nghiệp nhà nước hay mua sắm công của Chính phủ...Các bộ,ngành, các cơ quan quản lý của Việt Nam đều đã biết và ý thức được những thách thức, những yêu cầu đang đặt ra".
Thúc đẩy đối ngoại đa phương, khẳng định đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ
Năm APEC 2017 là biểu hiện sinh động cho thấy hoạt động đối ngoại đa phương của Việt Nam đã nâng lên 1 tầm cao mới, chuyển mạnh sang chủ động đóng góp xây dựng định hình luật chơi chung.
Tiếp nối cú hích lớn trong ngoại giao đa phương của năm APEC 2017, đầu năm 2018, Việt Nam đã tổ chức thành công Hội nghị thường niên lần thứ 26 Diễn đàn Nghị viện châu Á-Thái Bình Dương (APPF).  Năm 2018 cũng là năm chạy đà cho các sự kiện đa phương quan trọng khác của Việt Nam như năm Chủ tịch ASEAN 2020, vận động các nước ủng hộ Việt Nam là ủy viên không thường trực của Hội đồng bảo an LHQ nhiệm kỳ 2020 - 2021. Thứ trưởng Bộ ngoại giao Bùi Thanh Sơn cho biết: "Đường lối đối ngoại độc lập tự chủ đa phương hóa, đa dạng hóa trong những năm qua đã phát huy tối đa kể cả về an ninh, phát triển và nâng cao vị thế của Việt Nam. Nên khi chúng ta triển khai 2018 thì phải kiên định đường lối đối ngoại này nhưng có 1 số điều chỉnh.Một là cần tiếp tục điều hòa lợi ích, phát huy được những sáng kiến mà Việt Nam đưa ra trong năm APEC 2017 đã được các nền kinh tế đồng thuận như sáng kiến về phát triển bao trùm, thương mại điện tử xuyên biên giới...Thứ 2 là tiếp tục đóng góp vào sự phát triển của ASEAN, tiếp tục cùng ASEAN duy trì đoàn kết, điều hòa lợi ích để hợp tác khu vực tốt hơn. Điểm cuối cùng là tiếp tục đa dạng hóa quan hệ với các nước và Liên minh châu Âu sẽ là 1 trong những ưu tiên".
Hội nhập quốc tế là lựa chọn chính sách của hầu hết các quốc gia để phát triển. Việt Nam cũng không nằm ngoài xu hướng đó. Và năm 2018, hy vọng Việt Nam sẽ tiếp tục khai thác tốt những cơ hội quan trọng về hội nhập, đặc biệt là hội nhập kinh tế quốc tế, để đạt được tăng trưởng và phát triển kinh tế-xã hội cao, tạo dựng được vị thế quốc tế mới.
Đọc thêm...

Hot (焦点)