Việt Nam chủ động tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc
08:19 |
Quán triệt, thực hiện quan điểm, đường lối đối ngoại
và hội nhập quốc tế của Đảng, Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng, thời gian
qua, Cục Gìn giữ hòa bình Việt Nam đã chủ động, tích cực tham gia có hiệu quả
vào hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc, với nhiều giải pháp đồng bộ,
quyết liệt, góp phần nâng cao vị thế, uy tín của đất nước và Quân đội trên trường
quốc tế.
Sau gần 04 năm thành lập và triển khai, hoạt động thực
hiện Đề án “Việt Nam tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc”, ngày
22-11-2017, Bộ Quốc phòng quyết định thành lập Cục Gìn giữ hòa bình Việt Nam; đồng
thời, tiếp nhận Tổ công tác liên ngành về gìn giữ hòa bình từ Bộ Ngoại giao về
Bộ Quốc phòng. Đây là bước phát triển cần thiết, đáp ứng xu thế hội nhập và yêu
cầu, nhiệm vụ đối ngoại quốc phòng thời kỳ mới, trong đó có nhiệm vụ tham gia
hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc. Với vai trò là cơ quan thường trực của
Ban Chỉ đạo Bộ Quốc phòng về việc Quân đội tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình
Liên hợp quốc, những năm qua, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Quân ủy Trung ương,
Bộ Quốc phòng, sự phối hợp của các ban, bộ, ngành Trung ương, địa phương, Cục
Gìn giữ hòa bình Việt Nam đã có nhiều chủ trương, giải pháp phù hợp trong thực
hiện quan điểm, mục tiêu, yêu cầu, nhiệm vụ được xác định tại các nghị quyết của
Đảng, Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng đề ra, nhất là Nghị quyết
806-NQ/QUTW, ngày 31-12-2013 của Quân ủy Trung ương về hội nhập quốc tế và đối
ngoại về quốc phòng đến năm 2020 và những năm tiếp theo.
Mặc dù nhiệm vụ mới, nặng nề, trong khi kinh nghiệm thực
tiễn chưa có, phải vừa làm, vừa rút kinh nghiệm, nhưng cán bộ, chiến sĩ Cục Gìn
giữ hòa bình Việt Nam đã xác định rõ quyết tâm chính trị, đoàn kết, chủ động khắc
phục khó khăn, vươn lên hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. Nổi bật là, công
tác chuẩn bị lực lượng tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc được
chủ động thực hiện từ xa, có phương hướng, lộ trình, bước đi cụ thể, phù hợp với
năng lực của đất nước, Quân đội, bảo đảm yêu cầu chu đáo, kỹ lưỡng và toàn diện.
Từ xây dựng đề án, chuẩn bị nhân sự, đào tạo ngoại ngữ, nghiên cứu, tham quan,
tập huấn, huấn luyện tiền triển khai, huấn luyện thực hành diễn tập đến tham
gia đóng góp tài chính, v.v. Đặc biệt, Cục đã chủ động làm tham mưu, trực tiếp
tổ chức triển khai các lực lượng tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp
quốc tại phái bộ Nam Xu-đăng và Cộng hòa Trung Phi với hai hình thức chính là
cá nhân và đơn vị1. Qua đó, đã góp phần quan trọng trong bảo vệ, hỗ trợ nhân đạo;
đàm phán, hòa giải nhiều vụ xung đột vũ trang; tái thiết chính quyền sở tại,
duy trì ổn định khu vực đảm nhiệm; ký biên bản hợp tác quốc phòng song phương với
09 quốc gia; vận động tài trợ 20 triệu USD phục vụ nhiệm vụ gìn giữ hòa bình
Liên hợp quốc của Việt Nam,... được Liên hợp quốc, bạn bè quốc tế ghi nhận và
đánh giá cao.
Bên cạnh kết quả đạt được, việc thực hiện nhiệm vụ của
Cục cũng gặp nhiều khó khăn, nhất là khả năng tài chính của nước ta trong mua sắm
trang bị, thiết bị phục vụ hoạt động gìn giữ hòa bình còn hạn chế; trình độ ngoại
ngữ cũng như năng lực phối hợp công tác trong môi trường đa quốc gia còn nhiều
bất cập, v.v. Trong khi đó, dự báo tình hình thế giới, khu vực những năm tới vẫn
diễn biến hết sức phức tạp, nhất là việc xung đột tôn giáo, sắc tộc, đảng phái;
mâu thuẫn, tranh chấp, bất đồng về lợi ích trên Biển Đông,… đang hiện hữu, tiềm
ẩn nguy cơ khó lường. Chính vì thế, công tác hội nhập quốc tế và đối ngoại về
quốc phòng nói chung, tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc nói
riêng đòi hỏi cán bộ, chiến sĩ Cục Gìn giữ hòa bình cần quán triệt thấu đáo Nghị
quyết Trung ương 8 (khóa XI) của Đảng, Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân
đội lần thứ X và Nghị quyết 806 của Quân ủy Trung ương. Trên cơ sở đó, triển
khai thực hiện hiệu quả hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc; trong đó, tập
trung vào một số giải pháp cơ bản sau:
Một là, tăng cường giáo dục, tuyên truyền nâng cao nhận
thức, trách nhiệm cho lực lượng trực tiếp tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình
Liên hợp quốc. Với quan điểm: nhận thức càng sâu, kỹ, đúng đắn, thì hành động
càng khoa học và hiệu quả. Đảng ủy, chỉ huy Cục tập trung tuyên truyền, giáo dục
cho cán bộ, chiến sĩ thuộc quyền nhận thức rõ mục đích, ý nghĩa, tầm quan trọng
của nhiệm vụ gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc, giúp cho họ có kiến thức, kinh
nghiệm, kỹ năng cần thiết và xác định rõ trách nhiệm trong quá trình thực hiện
nhiệm vụ. Nội dung giáo dục bảo đảm toàn diện; trong đó, đi sâu giáo dục cho bộ
đội nắm chắc nguyên tắc, cơ chế, điều khoản hoạt động của lực lượng gìn giữ hòa
bình Liên hợp quốc; đường lối hội nhập quốc tế, đối ngoại quốc phòng của Đảng;
mục tiêu, quan điểm, lập trường nhất quán của Việt Nam trong quan hệ quốc tế
(song phương, đa phương); đặc biệt là chức năng, nhiệm vụ chung của Cục Gìn giữ
hòa bình Việt Nam và nhiệm vụ cụ thể của từng bộ phận khi tham gia hoạt động
trên từng lĩnh vực tại các phái bộ, v.v. Tập trung quán triệt, giáo dục cho cán
bộ, chiến sĩ nhận thức sâu sắc và phân biệt rõ sự khác nhau về bản chất giữa lực
lượng gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc với các lực lượng liên quân đa quốc gia, bảo
đảm cho họ có cơ sở lý luận, thực tiễn để tuyên truyền cho nhân dân trong nước
và nhân dân yêu chuộng hòa bình thế giới hiểu rõ mục đích hoạt động của lực lượng
“Mũ nồi xanh” là phù hợp với Hiến chương Liên hợp quốc, luật pháp quốc tế, góp
phần bảo vệ hòa bình ở khu vực và thế giới. Trong đó, chú trọng xây dựng cho bộ
đội có bản lĩnh chính trị vững vàng, có thái độ không thiên vị, trung lập phù hợp
với các điều khoản, nguyên tắc của Hiến chương Liên hợp quốc và thấy rõ đặc điểm,
tính chất cùng những thuận lợi, khó khăn trong thực hiện nhiệm vụ. Trên cơ sở
đó, chủ động khắc phục khó khăn về ngôn ngữ, môi trường, địa bàn, lĩnh vực công
tác, nhất là tính chất khốc liệt, nguy hiểm, chứa đựng nhiều rủi ro khi hoạt động
trong các vùng còn xảy ra xung đột,… từ đó xác định quyết tâm, tinh thần sẵn
sàng hy sinh, vượt qua gian khổ, vươn lên hoàn thành nhiệm vụ. Vận dụng linh hoạt
các hình thức, biện pháp giáo dục, kết hợp chặt chẽ giữa giáo dục tập trung
theo chương trình cơ bản với huấn luyện, đào tạo, bồi dưỡng riêng theo từng
khóa, nhiệm kỳ công tác; giáo dục thông qua giao nhiệm vụ cho các bộ phận với tự
quán triệt, giáo dục, tích lũy qua thực tiễn hoạt động gìn giữ hòa bình tại các
phái bộ theo lĩnh vực đảm nhiệm; trong đó, lấy tự giáo dục là chính. Nhờ cách
làm sáng tạo đó, những năm qua, lực lượng gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc của Việt
Nam đã hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, góp phần tăng cường lòng tin chiến lược,
duy trì môi trường hòa bình, hợp tác cùng phát triển ở khu vực, thế giới nói
chung, Việt Nam nói riêng.
Hai là, tập trung nâng cao chất lượng, hiệu quả công
tác của lực lượng tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc. Đây là
khâu đột phá nhằm thực hiện chủ trương hội nhập quốc tế và đối ngoại về quốc
phòng theo nội dung Nghị quyết 806 của Quân ủy Trung ương. Để nội dung này đi
vào chiều sâu và đạt hiệu quả thiết thực, trước hết, Đảng ủy, chỉ huy Cục chú
trọng công tác tạo nguồn nhân lực tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp
quốc theo hướng bảo đảm số lượng, cơ cấu, thành phần hợp lý, chất lượng cao; chủ
động, sáng tạo, trách nhiệm trong thực hiện nhiệm vụ quốc tế. Theo đó, Cục kết
hợp chặt chẽ giữa gửi đi đào tạo, nghiên cứu, học tập tại nước ngoài với đào tạo,
huấn luyện, bồi dưỡng trong nước; chú trọng nâng cao trình độ tiếng Anh kết hợp
với tiếng bản địa, năng lực chuyên môn gắn với chức năng, nhiệm vụ từng phái bộ
theo lĩnh vực hoạt động, nhất là kỹ năng hòa nhập, thích ứng với điều kiện, môi
trường an ninh - chính trị, quân sự diễn biến phức tạp. Chủ động tham mưu cho Đảng,
Nhà nước, Chính phủ phát triển lực lượng, mở rộng phạm vi, địa bàn hoạt động
theo đề án đã xác định và thống nhất với Liên hợp quốc; tiếp tục nâng cao hiệu
quả hoạt động trên hai lĩnh vực quân y, công binh tại Phái bộ Nam Xu-đăng, Cộng
hòa Trung Phi và từng bước mở rộng tham gia hoạt động ở các lĩnh vực khác. Trước
mắt, tập trung chuẩn bị tốt mọi mặt cho các nhân sự tham gia ứng cử vào làm việc
tại cơ quan thường trực của Liên hợp quốc. Thường xuyên nâng cao năng lực tham
mưu tác chiến, huấn luyện, bảo đảm hậu cần, xây dựng kế hoạch, xử lý tình huống,
tổng hợp, báo cáo với chỉ huy các phái bộ. Đặc biệt, coi trọng công tác tổng kết
thực tiễn, phát triển lý luận, rút ra bài học kinh nghiệm; trên cơ sở đó, truyền
thụ và đề xuất biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động cho các đợt, khóa, nhiệm kỳ
công tác tiếp theo. Tích cực mở rộng hợp tác quốc phòng song phương về lĩnh vực
gìn giữ hòa bình với các đối tác trên thế giới, đổi mới mạnh mẽ công tác đối
ngoại, hợp tác quốc phòng theo hướng đi vào chiều sâu, thực chất, hiệu quả; đẩy
mạnh việc vận động tài trợ, nhằm tranh thủ sự ủng hộ của bạn bè quốc tế, tạo tiền
đề, động lực mới để phát triển, mở rộng, nâng cao hiệu quả hoạt động gìn giữ
hòa bình Liên hợp quốc của Việt Nam. Chủ động nghiên cứu xây dựng, hoàn thiện
và điều chỉnh, bổ sung kịp thời hệ thống cơ chế, chính sách, văn bản pháp luật
về việc Việt Nam tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc, tạo hành
lang pháp lý cho lực lượng gìn giữ hòa bình của Việt Nam hoạt động thuận lợi, đạt
hiệu quả thiết thực.
Ba là, tăng cường phối hợp với các cơ quan liên quan
trong thực hiện nhiệm vụ gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc. Đây là nội dung quan
trọng, tạo cơ chế thống nhất, đồng thuận, phát huy sức mạnh tổng hợp của các
thành phần, lực lượng, góp phần hoàn thành nhiệm vụ quan trọng này. Với tư cách
là cơ quan thường trực, vừa tham mưu cho Đảng, Nhà nước, Chính phủ, Quân ủy
Trung ương, Bộ Quốc phòng, vừa trực tiếp hiệp đồng, điều phối, triển khai thực
hiện nhiệm vụ gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc, Cục Gìn giữ hòa bình Việt Nam
đang đẩy mạnh đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác phối hợp với các cơ quan liên
quan trong nước, các tổ chức quốc tế. Chủ động phối hợp với cơ quan chức năng của
Bộ Ngoại giao, Cục Đối ngoại Bộ Quốc phòng, Viện Quan hệ quốc tế về Quốc
phòng,… và các đối tác nước ngoài thực hiện thỏa thuận tài chính, thanh toán, bồi
hoàn với Liên hợp quốc, mua sắm trang bị, thiết bị; tiếp nhận, quản lý, sử dụng
các nguồn tài trợ theo đúng pháp luật Nhà nước, quy định của Bộ Quốc phòng.
Tăng cường nghiên cứu khoa học về nhiệm vụ gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc,
trong đó đi sâu phối hợp về nghiên cứu, phát triển, mở rộng các lĩnh vực công
tác, mức độ, cấp độ tham gia hoạt động cụ thể; công tác hiệp đồng, chỉ huy, điều
hành, giám sát hoạt động của các bộ phận trong điều kiện ở xa nước chủ quản,
môi trường hoạt động phức tạp và công tác sơ kết, tổng kết, đề xuất khen thưởng,
kỷ luật đối với cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội tham gia hoạt động gìn giữ hòa
bình Liên hợp quốc. Chú trọng phối hợp với các cơ quan chức năng của Liên hợp
quốc, các nước có kinh nghiệm về tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp
quốc để đào tạo nguồn nhân lực, thúc đẩy hợp tác triển khai lực lượng tham gia
hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc trong thực tiễn. Đồng thời, phối hợp
chặt chẽ với các cơ quan truyền thông của Liên hợp quốc tuyên truyền quan điểm,
lập trường chính nghĩa, mục đích bảo vệ hòa bình thế giới của chúng ta; tích cực
quảng bá hình ảnh, đất nước, con người Việt Nam trên cương vị là thành viên có
trách nhiệm của Liên hợp quốc trong quá trình thực hiện nhiệm vụ. Qua đó, nhằm
không ngừng nâng cao uy tín, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế, tạo tiền
đề, động lực quan trọng để phát triển đất nước toàn diện, góp phần thực hiện thắng
lợi quan điểm của Đảng về tăng cường hội nhập quốc tế, mở rộng đối ngoại nói
chung, đối ngoại quốc phòng nói riêng trong tình hình hiện nay.
Đại tá HOÀNG KIM PHỤNG, Cục trưởng Cục Gìn giữ hòa
bình Việt Nam
新闻自由并不意味着没有底线
08:12 |
原则上,世界各国法律都承认新闻言论自由,可那不是导致侵害个人、组织和国家合法权益的那种“没有底线的自由”。《公民权利和政治权利国际公约》第十九条规定:“1.
人人有保持意见不受干预之权利;2. 人人有发表自由之权利;此种权利包括以语言、文字或出版物、艺术或自己选择之其他方式,不分国界,寻求、接受及传播各种消息及思想之自由;3.
本条第二项所载权利之行使,附有特别责任及义务,故得予以某种限制,但此种限制以经法律规定,且为下列各项所必要者为限:尊重他人权利或名誉;保障国家安全或公共秩序、或公共卫生或风化” 。《欧洲人权公约》第十条规定:“1. 人人享有表达自由的权利。此项权利应当包括持有主张的自由,以及在不受公共机构干预和不分国界的情况下,接受和传播信息和思想的自由。2.
行使上述各项自由,因为负有义务和责任,必须接受法律所规定的和民主社会所必需的程式、条件、限制或者是惩罚的约束。这些约束是基于对国家安全、领土完整或者公共安全的利益,为了防止混乱或者犯罪,保护健康或者道德,为了保护他人的名誉或者权利,为了防止秘密收到的情报的泄漏,或者为了维护司法官员的权威与公正的因素的考虑”。像美国那样的新闻自由也是必须按照法律规定的。美国国会于1798年通过的《美国法典》第115章有关“叛国、暴乱及颠覆活动”的第2385条规定:不可用印刷、出版、编辑、发表、传递、出售、分发或公开展出书写品或印刷品等形式从事鼓吹、煽动、劝说或讲授理应、必须、值得或宜于以武力、暴乱或暗杀的方式,推翻或摧毁美国政府、州、领地、特区或占领地政府等行为。这些严密规定的目的不外乎制止滥用新闻自由颠覆政权,推翻政治制度或侵害他人的权益。然而,为何亚洲国家经常被西方组织列为没有新闻自由或新闻自由度低的国家?正如上面所述,对新闻自由、言论自由的接近方法以及文化上的区别就是导致此一片面看法。1988年以已故总理李光耀为代表的新加坡政府在新闻自由方面上遭到谴责的时候,李光耀则在美国报章编辑协会演讲时声称:“我们允许美国记者来报道新加坡,把我们介绍出去。但我们不能让本地传媒扮演像美国传媒那样的角色:监察、对抗和质疑当权者”。新加坡这个年轻国家则在西方对含新闻自由在内的自由权的强烈谴责之中从零开始,突飞猛进,取得令人钦佩的成果。就在西方国家,近期法国讽刺刊物《查理周刊》(Charlie
Hebdo)遭到恐怖屠杀一事也引发了争论。基督教皇方济各(Francis)也要强调,言论自由应该受到限制。
再谈越南新闻自由,可以肯定,越南是新闻自由得到保障的国家。在因特网、社交网及其它应用猛烈发展的背景下,如今越南国家管理机关并没有干预制止新闻言论自由,反而为所有公民新闻言论自由权提供保障。越南宪法、法律以及有关新闻言论自由的通知、议定书至今仍较完整并符合发展条件。我党、国家、政治社会组织、职业组织等单位的言论机构已经成为维护不同年龄段的各阶层人民合法权益的重要平台。更重要的是,越南各报刊杂志在各方面上起着重要作用,为加强全民族大团结、推动建国卫国作出积极贡献。实践证明,通过新闻机构,各阶层人民可以为党、国家胜利完成任务出谋献策。近期,通过新闻渠道,人民所提的意见和建议得到有关部门的接纳、倾听并及时予以调整。越南政府总理还颁布了有关知识分子参加评论的第50/QĐ/2015/TTg号规定。上述实践足以证明,越南向来都重视新闻自由的作用,并对所谓“在越南没有新闻言论自由”的错误论调予以批驳。对新闻工作者而言,除了如实报道的任务以外,他们的公民职责及社会责任心也应当放在首位。(完)
作者:张明俊博士
Tự do báo chí không phải là vô hạn
08:11 |
Những năm
qua, báo chí cách mạng Việt Nam đã có đóng góp quan trọng vào công cuộc xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc và quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí luôn được đảm bảo.
Tuy nhiên, tự do báo chí không có nghĩa là báo chí hoạt động vô giới hạn, mà phải
trong khuôn khổ pháp luật, vì lợi ích của quốc gia, dân tộc và nhân dân. Đó là
một thực tế khách quan không thể bác bỏ!
Dưới sự lãnh
đạo của Đảng, báo chí ở Việt Nam có sự phát triển vượt bậc cả về số lượng các
cơ quan báo chí, đội ngũ những người làm báo, ấn phẩm và công nghệ, chất lượng
nội dung thông tin. Hiện nay, Việt Nam đã có đầy đủ các loại hình báo chí (báo
in, báo nói, báo hình, báo điện tử), hệ thống cơ quan báo chí được tổ chức khoa
học, tích hợp, hội tụ nhiều loại hình báo chí (in, điện tử, phát thanh, truyền
hình). Tính đến tháng 12-2014, Việt Nam đã có 845 cơ quan báo chí, gồm: 199 báo
in (86 báo Trung ương, 113 báo địa phương) và 646 tạp chí (513 tạp chí Trung
ương, 133 tạp chí địa phương); 01 hãng thông tấn quốc gia; 02 đài phát thanh,
truyền hình quốc gia, 01 đài truyền hình ngành, 64 đài phát thanh, truyền hình
tỉnh (thành phố), trên 600 đài cấp huyện và hàng ngàn trạm truyền thanh cấp xã;
98 cơ quan báo chí điện tử, 207 trang thông tin điện tử tổng hợp của các cơ
quan báo chí, hàng ngàn trang thông tin điện tử của các tổ chức, doanh nghiệp,
v.v. Các cơ quan báo chí ở Việt Nam đều có tôn chỉ, mục đích hoạt động rõ ràng,
được pháp luật bảo hộ, đảm bảo quyền được thông tin, tự do ngôn luận, tự do báo
chí của nhân dân luôn được thực hiện có hiệu quả. Cùng với tuyên truyền đường lối,
chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước; thông tin đầy đủ,
chính xác mọi mặt hoạt động của xã hội đến với nhân dân, các cơ quan thông tấn,
báo chí đã là diễn đàn của nhân dân, để họ bày tỏ tâm tư, nguyện vọng, tham gia
phản biện, đề xuất ý kiến về những chính sách kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc
phòng, an ninh,… đối với Đảng, Nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội hoặc xã
hội - nghề nghiệp. Sự lớn mạnh của báo chí đã góp phần quan trọng vào sự nghiệp
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Thế nhưng hiện
nay, vẫn có ý kiến cho rằng ở Việt Nam không có tự do báo chí. Tự do ngôn luận
bị kiểm duyệt, bóp nghẹt, chỉ là tiếng nói của Đảng Cộng sản cầm quyền, v.v! Thật
là một trò xuyên tạc bỉ ổi, đánh lừa dư luận để thực hiện mưu đồ đen tối, cần
phải lên án, bác bỏ. Trước hết, cần khẳng định ngay rằng, đây chỉ là ý kiến thiểu
số, mang dụng ý xấu của những thế lực, cá nhân nhằm gây mất ổn định chính trị,
chống phá chế độ và sự phát triển bền vững của Việt Nam!
Hơn 150 năm
trước, nhà triết học người Anh - John Stuart Mill cho ra đời một tác phẩm nổi
tiếng về tự do - cuốn Bàn về tự do (On liberty). Trong những quyền tự do của
con người mà ông đề cập đến, quyền tự do báo chí là một trong những quyền căn bản
nhất. Tư tưởng của John Stuart Mill mang đậm dấu ấn duy lý của văn hóa phương
Tây, có tầm ảnh hưởng sâu rộng, nhưng không phải là một hình mẫu cụ thể mà chỉ
là những nguyên lý nền tảng căn bản đảm bảo quyền tự do của cá nhân con người đối
với cộng đồng xã hội và sự phát triển của mỗi dân tộc. Ở châu Á, cuốn sách được
dịch sang tiếng Nhật hơn 100 năm trước và bản tiếng Việt được xuất bản cách đây
vài năm. Tư tưởng của John Stuart Mill về quyền tự do báo chí gần giống với C.
Mác. Ông lập luận rằng: báo chí nói chung thực hiện sự tự do của con người, ở
đâu có báo chí thì ở đó có tự do. Bản chất của báo chí tự do là dũng cảm, có lý
tính, có đạo đức tự do. Thiên chức của báo chí tự do được C. Mác đề cao là: con
mắt sáng suốt của tinh thần nhân dân, là hiện thân sự tin cậy của nhân dân với
bản thân mình, là những dây liên hệ biết nói gắn liền với các cá nhân, với nhà
nước và với toàn thế giới, v.v. Như vậy, dù hình thái kinh tế - xã hội khác
nhau nhưng giá trị phổ quát của quyền con người trong lĩnh vực tự do báo chí, tự
do ngôn luận là giống nhau và được tôn trọng. C. Mác coi đối lập báo chí tự do
là “con quái vật được văn minh hóa” nhưng không phủ nhận sự kiểm duyệt chân
chính bắt rễ từ bản chất tự do của báo chí là sự phê bình. Ông cũng cho rằng,
báo chí tự do phải có luật báo chí đảm bảo. Trên tinh thần chung đó, ngày nay,
hiến pháp đa số các quốc gia đều quy định quyền tự do báo chí. Hiến pháp Việt
Nam qua các thời kỳ cũng quy định quyền tự do báo chí. Tại Điều 25, Hiến pháp
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Hiến pháp 2013) nêu rõ: “Công dân có
quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin,…”. Nhà nước ta đã ban
hành Luật Báo chí (năm 1989) và Luật Báo chí sửa đổi, bổ sung một số điều (năm
1999), thể hiện rõ quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí của công dân. Hiện nay,
căn cứ vào Hiến pháp 2013 và yêu cầu mới của công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc,
Nhà nước ta đã xây dựng Dự thảo Luật Báo chí (năm 2015); trong đó, dành hẳn một
chương quy định quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí.
Về nguyên tắc,
luật pháp các quốc gia công nhận tự do ngôn luận, tự do báo chí nhưng đó không
phải là “tự do vô hạn” dẫn đến việc xâm phạm quyền và lợi ích của cá nhân, tổ
chức, Nhà nước. Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị (Điều 19), quy
định: “1: Mọi người đều có quyền giữ quan điểm của mình mà không ai được can
thiệp; 2: Mọi người có quyền tự do ngôn luận,…; 3: Việc thực hiện những quy định
tại mục 2 của điều này (Điều 19) kèm theo những nghĩa vụ và trách nhiệm đặc biệt.
Do đó, có thể phải chịu một số hạn chế nhất định,… để: Tôn trọng các quyền hoặc
uy tín của người khác; Bảo vệ an ninh quốc gia hoặc trật tự công cộng, sức khỏe
hoặc đạo đức của công chúng”. Công ước châu Âu về Quyền con người (Ðiều 10) quy
định: “1. Tất cả mọi người đều có quyền tự do bày tỏ ý kiến. Quyền này bao gồm
việc được tự do bày tỏ ý kiến và tự do trao đổi các thông tin mà không cần phải
nhận được bất kỳ việc cho phép nào từ phía cơ quan công quyền và không phân biệt
biên giới. 2. Việc thực hiện các quyền nói trên, bao gồm cả các nghĩa vụ và
trách nhiệm, hình thức, điều kiện, các hạn chế hoặc các biện pháp trừng phạt cần
phải được ghi rõ trong các văn bản pháp luật có cân nhắc đến việc cần thiết đối
với một xã hội dân chủ, vì lợi ích đối với an ninh quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ,
duy trì trật tự công cộng và ngăn ngừa tội phạm, bảo vệ sức khỏe và đạo đức,
nhân phẩm hoặc danh dự của con người, ngăn ngừa việc phát tán các thông tin mật
hoặc để bảo đảm quyền lực và tính độc lập của các cơ quan tư pháp”1. Báo chí tự
do như ở Mỹ cũng vẫn nằm trong khuôn khổ quy định của pháp luật. Bộ luật Hình sự
của Mỹ (Chương 115, Điều 2385), “Đạo luật Phản loạn” được Quốc hội Mỹ thông qua
năm 1798 (Đạo luật ra đời trước các luồng tư tưởng từ cuộc cách mạng Pháp tràn
vào nước Mỹ) quy định: nghiêm cấm mọi hành vi “in ấn, xuất bản, biên tập, phát
thanh, truyền bá, buôn bán, phân phối hoặc trưng bày công khai bất kỳ tài liệu
viết hoặc in nào có nội dung vận động, xúi giục hoặc giảng giải về trách nhiệm,
sự cần thiết tham vọng hoặc tính đúng đắn của hành vi lật đổ hoặc tiêu diệt bất
kỳ chính quyền cấp nào tại Mỹ bằng vũ lực hoặc bạo lực”, v.v. Những quy định chặt
chẽ đó không ngoài mục đích chống lại sự lợi dụng tự do báo chí nhằm mục đích
chống chính quyền, lật đổ chính quyền, xâm phạm đến quyền của cá nhân khác,
v.v. Tuy nhiên, vì sao các quốc gia ở châu Á thường bị các tổ chức ở phương Tây
xếp loại không có tự do báo chí hoặc mức độ xếp hạng thấp? Như đã nói ở trên,
cách tiếp cận quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận theo khuôn khổ pháp luật
khác nhau và sự khác biệt về văn hóa dẫn đến cách nhìn nhận áp đặt đó. Ở
Sin-ga-po, năm 1988, khi chính quyền của cố Thủ tướng Lý Quang Diệu bị chỉ
trích hạn chế quyền tự do báo chí, Ông đã xuất hiện trước Hiệp hội Biên tập Mỹ
và phát biểu: “Chúng tôi cho phép các nhà báo người Mỹ tới Sin-ga-po để đưa tin
về Sin-ga-po cho người dân nước họ biết. Nhưng chúng tôi không thể cho phép họ
chiếm vai trò ở Sin-ga-po như truyền thông Mỹ có ở Mỹ. Đó là vai trò giám sát,
đối nghịch và thẩm tra chính quyền”. Sin-ga-po là một quốc gia non trẻ, xuất
phát từ con số 0 (zero) tròn trĩnh đã phát triển vượt bậc khiến cả thế giới phải
khâm phục trước sự chỉ trích mạnh mẽ của phương Tây về quyền tự do, trong đó có
tự do báo chí. Việc phát triển của quốc gia này như là một minh chứng cho sự
khác biệt về cách tiếp cận những quyền phổ quát của con người phụ thuộc vào văn
hóa và hệ thống pháp luật khác biệt. Ngay tại phương Tây, sự kiện thảm sát tại
Tòa soạn báo Charlie Hebdo (Pháp) vừa qua cũng gây nhiều tranh cãi, Giáo hoàng
Francis cũng phải lên tiếng về mức độ tự do báo chí không phải là vô hạn khi sự
tự do đó mang tính xúc phạm.
Trở lại vấn
đề tự do báo chí ở Việt Nam, có thể khẳng định rằng, đây là quốc gia tự do báo
chí. Trước sự phát triển của in-tơ-nét, mạng xã hội và nhiều ứng dụng khác, cho
đến nay, các cơ quan quản lý nhà nước của Việt Nam không ngăn chặn và can thiệp,
đảm bảo quyền tự do thông tin của mọi công dân. Hành lang pháp lý bao gồm Hiến
pháp, luật và các thông tư, nghị định liên quan đến quyền tự do báo chí, tự do
ngôn luận đến nay tương đối hoàn chỉnh và phù hợp với điều kiện phát triển. Các
cơ quan ngôn luận của Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức
nghề nghiệp,… trở thành diễn đàn bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các tầng lớp
nhân dân, ở mọi lứa tuổi khác nhau. Quan trọng hơn, báo chí Việt Nam đóng vai
trò phản biện, góp ý, phổ biến đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và
Nhà nước, cấp ủy, chính quyền địa phương, biểu dương, nhân rộng các điển hình tiên
tiến, gương “người tốt, việc tốt” trên các lĩnh vực công tác; đồng thời, phê
phán, lên án những thói hư, tật xấu, tệ nạn xã hội, lật tẩy âm mưu, thủ đoạn chống
phá của các thế lực thù địch, góp phần tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc,
đẩy mạnh công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Thực tế cho thấy, thông qua báo
chí đã có hàng triệu ý kiến của các tầng lớp nhân dân đóng góp vào: Dự thảo Hiến
pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2013); hiến kế với Đảng, Nhà nước để thực
hiện tốt Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) về xây dựng Đảng, Chỉ thị 03-CT/TW của
Bộ Chính trị (khóa XI) về “Tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương
đạo đức Hồ Chí Minh”; xây dựng, bổ sung, hoàn thiện các dự án luật, v.v. Gần
đây, thông qua báo chí, ý kiến đóng góp của nhân dân đã được các cấp có thẩm
quyền xem xét, tiếp thu và điều chỉnh, như: Dự án xây tổ hợp nghỉ dưỡng trên
đèo Hải Vân (tỉnh Thừa Thiên - Huế), Dự án thay thế, trồng cây xanh của thành
phố Hà Nội, Dự án xây dựng sân bay quốc tế Long Thành,… và Điều 60, Luật Bảo hiểm
xã hội đã được Quốc hội Việt Nam tiếp nhận và xem xét, sửa đổi. Vừa qua, Thủ tướng
Chính phủ đã ban hành Quy định 50/QĐ/2015/TTg về phản biện của trí thức. Thực
tiễn nêu trên chứng tỏ ở Việt Nam luôn coi trọng phát huy vai trò tự do báo
chí; đồng thời, bác bỏ mọi ý kiến cho rằng, ở Việt Nam không có tự do ngôn luận,
tự do báo chí. Đối với nhà báo, ngoài việc thông tin đúng sự thật, vai trò công
dân, trách nhiệm xã hội của nhà báo phải được đặt lên hàng đầu với sứ mệnh đặc
biệt đối với lợi ích quốc gia, dân tộc.
Trải qua 90
năm xây dựng và phát triển, báo chí cách mạng Việt Nam luôn gắn liền với vận mệnh
của quốc gia, dân tộc, vì độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc, dân giàu, nước mạnh,
dân chủ, công bằng, văn minh. Những người làm báo ở Việt Nam có quyền tự hào
trước bề dày lịch sử đầy hữu ích của nghề nghiệp và tiếp tục đóng góp vì sự
phát triển nhanh, bền vững của đất nước trong tình hình mới.
TS. TRƯƠNG
MINH TUẤN
新春送字求字——越南优良文化
07:05 |
“每逢桃花开满巷,又见写字老先生。摆着墨水和红纸,安坐人头攒动街”。
上面描写的是越南人民尤其是首都市民每逢春节十分熟悉的景象。年初求字和送字成为了一种优良的文化,是有着社会、哲学和虔灵意义的礼物,也代表着越南民族好学重学的传统。
每逢春节,河内文庙国子监成为了求字者熟悉的地方,也是写字先生们通过送字活动体现自己渊博学识的地方。书法家阮如魄就是其中的一个。他从6岁学书法,对字的含义了解颇深,对书法艺术更有一种痴迷。他表示,不是任何识字的人都能写字送人的。送字者必须了解字的含义和求字者的心愿与个性。他说:“送字者希望求字者是发自内心求字。求字不仅是为自己和家庭求福,还得有关心别人,帮助别人的道德,而不是只求个人利益”。
越南联合国教科文组织全国委员会书法俱乐部成员,今年85岁的阮明珠大爷认为,给字是前辈留下来的一种文化和文明,因此当今时代的写字先生要意识到自己对这份高尚工作的责任。他说道:“给字者要意识到,自己是民族文化、文明的传播者。因此,所传递的得是对的东西,激发青年的善念和上进心,先是自我修养,然后是建设社会。这样才是真正的送字。这里的字是圣贤的字,而不是简单的a,b,c。因此,送字必须送对的,适合的”。
求字者不分年龄、阶层、行业。每一个字针对的是不同的人,不同的家庭背景、工作、心愿、心声或心念。河内法律大学学生,19岁的陈垂玲说道:“今天我求的是‘学好’。我希望今后三年的大学学习有好的成绩,毕业后有稳定的工作。我将把这幅书法挂在我书桌的墙上,每天都能看到它,激励自己奋发向上”。
垂玲的妈妈阮氏幸是两个正在读书孩子的妈妈。出于自己从事的是与人的健康息息相关的行业——制药业,她在新年求字时也有自己的心愿。她说道:“我一向认为人最重要的是有心。这片心是从家走向社会。若‘心’好,其它好的东西就会来到自己的身边。这就够了,不求更高的东西”。
求字靠的是诚心。心诚,德才亮。先生给的字要有承担、肯付出才灵验,而不像买彩票中奖。能做到这样,求字和送字才真正有意义。阮明珠大爷说道:“求字的潮流总的来看是好的,但还稍微要有指向性。比如,凡是考试就要过关,这个心愿是没错的。但若求的是‘中达’、‘登科’等,就得懂得不是因为求得了字就放心了、靠它了、松懈了,而是要看着那个字而加倍努力。所以才有句话说:‘进为官,达为师’”。
往深里想,求字-送字也是人的一种“道”和格。无论是求字还是送字,手里捧着时都会向往生活中最幸运、最美好的东西。在今日融入国际和繁忙的生活节奏中,这些充满送字者的诚、意、气,以及求字者渴望的笔画就像在提醒大家要更善解人心,更懂得心怀家庭、社会和祖国。这正是传统价值的真谛。写字老先生们将在桃花、梅花盛开的季节与子孙相逢,给家家户户送字送禄。
Xin chữ đầu Xuân - nét đẹp văn hóa của người Việt
07:04 |
“Mỗi năm hoa
đào nở
Lại thấy ông đồ già
Bày mực tàu giấy đỏ
Bên phố đông người qua”.
Câu thơ nhắc
đến tục xin chữ ngày xuân, vốn là nét văn hoá đặc trưng của người Việt, bắt nguồn
từ sự hiếu học, sự trọng chữ, trọng tri thức. Nét đẹp văn hóa ấy đến nay vẫn được
trân trọng, lưu truyền.
Tục xin chữ
đầu năm...
Không biết từ
bao giờ, cứ chờ đến năm hết, Tết đến, xuân sang, trên khắp phố phường và khắp mọi
miền quê, nhiều những ông Đồ hay chữ, bày nghiên bút, giấy bản nhuộm điều, niềm
nở đón người qua đường ghé xuống xin con chữ. Người cho chữ là ông Đồ túc nho
và người xin chữ thường là những chủ nhà cầu mong những tin mừng cùng những vận
hội mới trong cuộc đời và đặc biệt là những nhà có người theo học, mong được
con chữ của Thánh hiền, giáng ứng cho may mắn trong học hành thi cử. Khi xin được
câu đối hay con chữ linh thiêng như ý, đem về nhà treo vào nơi trang trọng nhất,
linh ứng nhất, dễ ngắm nhìn, để cầu nguyện thành đạt cho cuộc sống và cho học
hành thi cử. Từ xa xưa, thói quen xin chữ và cho chữ vào những ngày đầu năm mới
của người Việt được coi là điều thiêng liêng, một việc quan trọng của gia đình.
Điều đó đã trở thành nét đẹp trong văn hóa của các dân tộc sinh sống trên đất
nước Việt Nam ta từ nhiều thế kỷ, ngày càng được nối tiếp, thừa kế và gìn giữ.
Ngày xưa,
xin chữ là một sự kiện rất đặc biệt, người ta chọn ngày, chọn hướng, tìm đến
người mình tin tưởng, có đời sống đáng trân trọng noi theo. Người cho chữ phải
là người dày công học hành, có thể chính là những ông đồ dạy học ở những làng
quê hoặc phải là những người “có danh với núi sông”. Theo nhà thư pháp Cung Khắc
Lược, xin chữ đầu năm chính là mong muốn của người xin chữ cho cả một năm mới
mang đến những điều may mắn, bình an và phúc thọ tràn đầy. Mỗi bức thư pháp khi
hoàn thành bao giờ cũng có hai con người đồng cảm, đó là bộ óc, trí tuệ của người
cho chữ gặp trái tim, tâm hồn người xin chữ. Ngoài cầu may mắn, người ta còn muốn
xin cái đức độ, tài năng của ông đồ và lấy chữ để răn mình. Đó cũng là một minh
chứng về truyền thống hiếu học, trọng chữ nghĩa của dân tộc Việt Nam.
Chữ Nho có
thể viết theo nhiều cách, nên người cho chữ tùy tâm trạng, tùy hoa tay có thể tạo
ra những hình tượng lạ mắt. Những ước vọng tốt đẹp cho một năm mới hạnh phúc,
bình an được lồng trong những nét mực uyển chuyển. Mỗi chữ hiện ra dưới tay các
thầy đồ không chỉ là những tác phẩm nghệ thuật thư pháp mà còn bộc lộ tấm lòng,
tính cách, tâm hồn và cả sự sáng tạo của mỗi cá nhân. Chữ xin cũng tùy theo
nguyện vọng của người xin chữ, nhưng đầu xuân năm mới mọi gia đình thường mong
một cuộc sống bình an, từ đó người dân thường hay xin chữ “An”, chữ “Phúc” cho
toàn thể gia đình, con cháu; người kinh doanh, buôn bán thì hay xin chữ “Hưng”,
chữ “Thịnh”, chữ “Phát”, chữ “Lộc”, chữ “Tín”; người đi học thường xin chữ
“Tài”, “Đăng khoa”, người cầu sức khỏe sống lâu xin chữ “Thọ”…, có người muốn
rèn khả năng chịu đựng thường xin chữ “Nhẫn” vì có nhẫn có nhịn thì mới chuyển
nguy thành yên, bại thành thắng, dữ thành lành...
Chữ thường
được viết trên nền giấy đỏ, bởi màu đỏ vốn là màu rực rỡ nhất và theo quan niệm
của người phương Đông còn duy trì tới ngày nay, màu đỏ là màu của sự sống và sự
tái sinh, là biểu tượng của sự may mắn, nên trong ngày Tết mọi thứ đều có màu đỏ:
hoa đào, câu đối, phong bao mừng tuổi... đều có màu đỏ.
Một bản sắc
văn hoá truyền thống không thể nào mất
Sau năm
1954, do quan niệm tục xin chữ đầu xuân và viết chữ Nho bị cho là tàn dư của chế
độ phong kiến nên người biết chữ Nho không ai dám viết và người dân cũng không
dám xin chữ. Một tục văn hóa đẹp gần như bị lãng quên.
Nhưng rất
may nó đã được hồi sinh nhờ các ông đồ già. Đầu thế kỷ XXI, một vài người tự
phát ngồi viết chữ và bán câu đối ở dốc phố Bà Triệu. Rồi đoạn phố này đông dần
và nay thì chuyển hẳn về Hồ Văn trước cửa Văn Miếu tạo thành phố và được dân gọi
nôm là phố “ông Đồ”. Vậy là hơn ¼ thế kỷ qua, sự trở lại một cách mãnh liệt của
tục xin chữ cho chữ, như làm dấy lên một trào lưu mới của học hành-thi cử, ai
cũng mong muốn có được nhiều con chữ hơn để lập nghiệp khi vào đời.
Mấy năm trở
lại đây, phố ông đồ bên cạnh Văn Miếu có thể coi là một “đặc sản” của Tết Hà Nội.
Bên vẻ trầm mặc, u hoài của trường Giám ngày xưa đang lắng đọng rêu phong, thì
“hồn dân tộc lại đang sáng bừng trên giấy điệp” trong những nét thư pháp tài
hoa của những “ông đồ” trẻ tuổi, 7X và 8X. Ngoài các ông đồ già áo the khăn xếp
là các ông đồ trẻ bụi bặm với quần jeans áo thun hay lịch lãm trong các bộ
vest... Và không chỉ có ở Quốc Tử Giám Hà Nội, những “Phố ông Đồ” còn lan tỏa ở
nhiều tỉnh, thành phố trong cả nước, ở các tụ điểm lễ hội vui xuân hay các
đình, đền, chùa, miếu...
Đặc biệt, cứ
vào dịp từ ngày 20 tháng Chạp đến 15 tháng Giêng hằng năm, Hội chữ Xuân thường
được tổ chức ở Văn Miếu-Quốc Tử Giám (Hà Nội) - điểm đến quen thuộc của hàng
nghìn người từ khắp mọi miền đất nước đến xin chữ lấy may đầu năm. Hội chữ Xuân
được tổ chức định kỳ còn nhằm mục đích tạo ra một sân chơi lành mạnh giúp các
Thư pháp gia (Hán-Nôm và Quốc ngữ) có điều kiện trổ tài, sáng tác và người dân
đi xin chữ có thể yên tâm, hân hoan mang về gia đình những bức thư pháp đúng, đẹp
với nhiều ước nguyện tốt lành. Hội chữ Xuân là một sự kiện văn hóa thường niên
nhằm tôn vinh truyền thống tôn sư trọng đạo, hiếu học của dân tộc, hội chữ cũng
góp phần bảo tồn và phát huy giá trị nghệ thuật thư pháp Việt Nam. Những câu đối,
câu chúc bằng mực tàu trên giấy đỏ là những món quà tinh thần để đón chào năm mới,
biểu thị cho những ước vọng đầu Xuân.
Tết lại đang
về, một năm mới lại đến. Người người lại rủ nhau đi xin chữ cầu may đầu năm.
Cùng với thời gian và sự chuyển biến của xã hội, mọi người vẫn nhớ tới nét đẹp
văn hóa này là một điều đáng mừng. Tuy nhiên, việc xin chữ và cho chữ cần được
trân trọng, bảo tồn và phát huy theo đúng với ý nghĩa nhân văn của phong tục
này./.
越南海警加强配合工作
06:59 |
越南海警是国家专责力量,执行管理、维护祖国海域和大陆架上的安宁、安全秩序与负责海上执法,其任务特殊性高,关系到许多行业和领域。因此,提高与相关力量的配合能力是重要、急切问题。
充分意识到配合工作对完成被交付任务的重要作用,多年来,海警司令部已主动研究,建议政府和国防部颁发许多相关议定和通知;直接制定和签署与相关力量的配合机制、计划和指导。诸如政府66号议定,政府总理133号决定,颁发国防部与交通运输部、农业与农村发展部、财政部等部门的联席通知书,就海警力量与相关部门的配合工作作出规定。这是越南海警力量与各力量配合活动,提高海上执法质量的重要法律框架。
在各机制和规定的基础上,海警力量已与沿海力量和地方开展多样的配合内容、形式和措施;斗争处理违犯越南海域的行为,预防打击犯罪,搜寻救难等。从2011年以来,海警力量已与各力量和地方交换了有关职能任务的27千条信息;宣传和要求数千次违犯越南海域的外国船只离开越南海域;为十万人次进行法律普教;逮捕和处理违犯对象的近3千,船只2千多船次;处罚金额和没收货物价值约达数万亿越盾。与此同时,越南海警力量已推动国际合作,与地区和世界相关组织和各国执法力量建立双边、多边关系。因此,各级部门行业和地方,尤其是海上执法力量的综合力量不断得到提高;争取各资源和各国执法力量的经验等工作不断得到加强,为巩固海上国防安全阵势,牢固捍卫国家主权、主权权、裁判权和国家利益,维护和平、稳定、友谊与合作环境以便发展国家作出贡献。
过去时间,海警力量与各力量的配合工作还存在一些不足之处。而且,东海局势继续复杂演变。领土主权争端问题、海上违反法律情况在规模、强度和性质上日趋增加。捍卫主权、主权权、裁判权和国家利益,预防打击海上犯罪活动等任务非常艰巨。
在后续时间,为了完成被交付的任务,在全面开展业务工作的同时,越南海警力量应多措并举,提高与各力量的配合效果。其中应注重于以下几个主要措施:
第一、加强各级党委、指挥在配合工作中的领导指导作用。各机关单位继续严格贯彻落实政府的议定、国防部的通知与相关机制和规定,尤其是政府关于颁发实施管理海警力量活动的配合机制与越南社会主义共和国海域和大陆架上各力量配合活动的66号决议,政府总理关于公安、边防部队、海警、海关在预防打击在边境、口岸和海上毒品罪犯中的配合机制。通过贯彻和教育,让官兵们掌握海警和相关力量的职能任务和权限;充分认识到各力量在执行任务中配合工作的意义、重要性和必要性,以及掌握每个力量在海上执法的配合内容和形式。从此,树立动机和提高与各力量的配合精神,在执行任务中发挥综合力量。在海警司令部与各力量签署的配合机制内容的基础上,各级党委、指挥应把其具体化成为决议和计划,旨在进行分级领导指导,确保符合任务的性质与海域的特点。
第二、继续参谋完善有关配合工作的法律文件。多年来,在政府、国防部和各部门行业的关心与海警司令部的努力下,海警和各力量配合活动的法律文件系统已得到同步化建设,为越南海警和各力量开展配合、落实好被交付的职能任务打下法律基础。在当前国际融入日趋深广的背景下,海警力量应主动配合相关部门行业和地方,研究、调整和完善配合机制和规定,确保满足实践要求。尤其是集中研究,为政府颁发相关法律文件提出参谋意见,重点于把海警力量执行任务中的配合工作具体化成为海警法草案的一章,呈上国会讨论通过;从此,就各部门行业和地方政府的配合内容、机制和责任作出明显规定,确保越南海警力量作为国家专责力量,在执行管理、维护祖国海域和大陆架上的安宁、安全秩序与负责海上执法中发挥核心作用。
第三、积极革新配合内容和形式。面对各海域上的安宁、秩序安全和执法情况的复杂以及各力量之间配合工作的不足之处,越南海警要革新配合内容、形式和办法,旨在提高海上执法效果。据此,海警力量应主动全面革新与各力量的配合工作,在执行任务中加强相互帮助。其中,集中于交换信息、配合巡逻检察、斗争遏制侵犯、违犯海域行为、处理海上事务、救护救难、宣传和法律普教经验以及培训提高专业能力等内容。为了加强配合中的协调和统一,海警力量应主动扩大关系,加强交流结义、配合救护救难和处理海上事务的演练、设立热线电话和严格维持交班和通知情况等新配合措施。海警司令部指导各机关单位继续配合各地方务实、有效开展“海警与渔民同行”模式,建立海警力量和人民的团结关系,建设稳固、广泛的海上国防安全阵势,为海警和其他力量有效配合工作打下基础,满足任务要求。
第四、推动执行任务中的国际合作。发挥所取得的结果以及贯彻落实党的对外路线,海警力量继续推动与地区和世界各相关组织和海上执法力量的合作。其中在已加入的地区和国际组织发挥主动、积极作用;注重地区和中国、日本等传统友国执法力量的合作关系。与此同时,继续维持好亚洲反海盗、武装抢劫信息分享中心的活动;与各国执法力量交换有关航行安全、海岛、武装抢劫、搜寻救难等情况信息;与邻国海上执法力量举行联合巡逻。推动为海警官兵,尤其是船只干部队伍举行培训、集训和经验交流活动。从此,加强与各国的友好合作关系,为提高越南海警执法能力、维护海上和平、稳定环境、牢固捍卫祖国海岛、大陆架的主权、安宁和安全秩序作出贡献。(完)
作者:越南海警副司令阮文山少将、博士
Cảnh sát biển Việt Nam tăng cường công tác phối hợp trong thực hiện nhiệm vụ
06:58 |
Cảnh sát biển Việt Nam là lực lượng chuyên trách của
Nhà nước thực hiện chức năng quản lý, duy trì về an ninh, trật tự, an toàn và bảo
đảm việc chấp hành pháp luật trên các vùng biển, thềm lục địa của Tổ quốc, nên
nhiệm vụ có tính đặc thù cao, liên quan đến nhiều ngành, lĩnh vực. Vì vậy, nâng
cao khả năng phối hợp với các lực lượng có liên quan trong thực hiện nhiệm vụ của
Cảnh sát biển là vấn đề quan trọng, cấp thiết.
Nhận thức rõ tầm quan trọng của công tác phối hợp đối
với việc hoàn thành nhiệm vụ được giao, những năm qua, Bộ Tư lệnh Cảnh sát biển
đã chủ động nghiên cứu, tham mưu, đề xuất với Chính phủ, Bộ Quốc phòng ban hành
nhiều nghị định, quyết định, thông tư; đồng thời, trực tiếp xây dựng, ký kết
nhiều quy chế, kế hoạch, hướng dẫn về phối hợp hoạt động giữa Cảnh sát biển với
các lực lượng có liên quan1. Tiêu biểu là Nghị định 66/2010/NĐ-CP của Chính phủ;
Quyết định 133/2002/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ; đã ban hành các thông tư
liên tịch giữa Bộ Quốc phòng với các bộ: Giao thông vận tải, Nông nghiệp và
Phát triển nông thôn, Tài chính,… quy định về công tác phối hợp của lực lượng Cảnh
sát biển với các bên liên quan. Đây là khung pháp lý quan trọng để lực lượng Cảnh
sát biển Việt Nam phối hợp hoạt động với các lực lượng, nâng cao hiệu quả thực
thi pháp luật trên biển.
Trên cơ sở các quy chế, quy định, lực lượng Cảnh sát
biển đã thực hiện đa dạng nội dung, hình thức, biện pháp phối hợp hoạt động với
các lực lượng, địa phương ven biển từ thu thập, trao đổi thông tin, phối hợp tuần
tra, kiểm soát bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán; đấu tranh, xử
lý các hành vi vi phạm vùng biển Việt Nam, phòng, chống tội phạm đến phối hợp
tìm kiếm, cứu hộ, cứu nạn, v.v. Từ năm 2011 đến nay, đã phối hợp với các lực lượng,
địa phương trao đổi gần 27.000 tin liên quan đến chức năng, nhiệm vụ; tuyên
truyền, đấu tranh, yêu cầu hàng chục nghìn lượt tàu thuyền nước ngoài vi phạm
ra khỏi vùng biển Việt Nam; tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật cho hàng
trăm nghìn lượt người; bắt giữ, xử lý gần 3.000 đối tượng với trên 2.000 lượt
tàu thuyền vi phạm; tổng số tiền xử phạt và giá trị hàng hóa tịch thu ước đạt
hàng nghìn tỷ đồng. Bên cạnh đó, Cảnh sát biển Việt Nam đã đẩy mạnh hợp tác quốc
tế, thiết lập mối quan hệ song phương, đa phương với các tổ chức, lực lượng thực
thi pháp luật của các nước trong khu vực và trên thế giới2. Nhờ đó, sức mạnh tổng
hợp của các cấp, ngành, địa phương, nhất là các lực lượng thực thi pháp luật
trên biển luôn được phát huy; việc tranh thủ các nguồn lực, kinh nghiệm của lực
lượng thực thi pháp luật của các nước trong khu vực và quốc tế thường xuyên được
tăng cường, góp phần củng cố thế trận quốc phòng, an ninh trên biển, bảo vệ vững
chắc chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán, lợi ích quốc gia, giữ vững môi
trường hòa bình, ổn định, hữu nghị và hợp tác để phát triển đất nước.
Tuy vậy, công tác phối hợp giữa Cảnh sát biển với các
lực lượng còn hạn chế trên một số mặt, có thời điểm hiệu quả chưa cao, chưa đi
vào chiều sâu, về cơ bản mới dừng lại ở trao đổi thông tin, đánh giá, dự báo
tình hình, trao đổi kinh nghiệm. Việc phối hợp, hỗ trợ thực thi nhiệm vụ trên
biển, nhất là xử lý các tình huống chưa nhiều. Bên cạnh đó, một số văn bản pháp
luật quy định chức năng, nhiệm vụ của các lực lượng thực thi pháp luật trên biển
còn có điểm chồng chéo, gây khó khăn nhất định trong thực hiện công tác phối hợp.
Trong khi đó, tình hình trên Biển Đông tiếp tục có những diễn biến mới, phức tạp,
khó lường. Bên cạnh vấn đề tranh chấp chủ quyền lãnh thổ, tình hình vi phạm
pháp luật trên biển có chiều hướng gia tăng cả về quy mô, cường độ, tính chất.
Nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán, lợi ích quốc gia; đấu
tranh phòng, chống các loại tội phạm, vi phạm pháp luật trên biển rất nặng nề.
Để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, cùng với triển khai toàn diện các mặt
công tác nghiệp vụ, lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam cần thực hiện đồng bộ các
biện pháp nâng cao hiệu quả phối hợp hoạt động với các lực lượng. Trong đó, chú
trọng thực hiện tốt một số giải pháp chủ yếu sau:
Một là, tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chỉ
huy các cấp trong công tác phối hợp. Các cơ quan, đơn vị tiếp tục quán triệt
sâu sắc các nghị định của Chính phủ, thông tư của Bộ Quốc phòng và các quy chế,
quy định về công tác phối hợp hoạt động giữa Cảnh sát biển Việt Nam với các lực
lượng trong thực hiện nhiệm vụ, nhất là Nghị định 66/2010/NĐ-CP của Chính phủ về
ban hành “Quy chế phối hợp thực hiện quản lý nhà nước về hoạt động của lực lượng
Cảnh sát biển và việc phối hợp hoạt động giữa các lực lượng trên vùng biển và
thềm lục địa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”, Quyết định
133/2002/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về “Quy chế phối hợp giữa lực lượng
Công an, Bộ đội Biên phòng, Cảnh sát biển, Hải quan trong đấu tranh phòng chống
tội phạm về ma túy tại địa bàn biên giới, cửa khẩu và trên biển”. Thông qua
quán triệt, giáo dục làm cho làm cho cán bộ, chiến sĩ nắm vững chức năng, nhiệm
vụ, quyền hạn của Cảnh sát biển và các lực lượng có liên quan; nhận thức sâu sắc
ý nghĩa, tầm quan trọng, sự cần thiết phải phối hợp hoạt động với các lực lượng
trong thực hiện nhiệm vụ, cũng như nắm vững nội dung, hình thức phối hợp với từng
lực lượng trong thực thi pháp luật trên biển. Qua đó, xây dựng động cơ, tinh thần
trách nhiệm trong phối hợp với các lực lượng, phát huy sức mạnh tổng hợp trong
thực hiện nhiệm vụ. Trên cơ sở nội dung quy chế phối hợp mà Bộ Tư lệnh Cảnh sát
biển đã ký kết với các lực lượng, cấp ủy, chỉ huy các cơ quan, đơn vị cần cụ thể
hóa thành các nghị quyết, kế hoạch để lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện theo phân cấp,
đảm bảo phù hợp với tính chất nhiệm vụ, đặc điểm vùng biển được giao quản lý.
Hai là, tiếp tục tham mưu, hoàn thiện hệ thống văn bản
pháp luật quy định về công tác phối hợp. Những năm qua, được sự quan tâm của
Chính phủ, Bộ Quốc phòng, các bộ, ngành và nỗ lực của Bộ Tư lệnh Cảnh sát biển,
hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về phối hợp hoạt động giữa Cảnh sát biển với
các lực lượng đã được xây dựng tương đối đồng bộ, tạo cơ sở pháp lý quan trọng
để Cảnh sát biển Việt Nam và các lực lượng triển khai phối hợp hoạt động, thực
hiện tốt chức năng, nhiệm vụ được giao. Tuy nhiên, trước sự phát triển của tình
hình trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng đã, đang nảy sinh nhiều
vấn đề mới. Việc quy định vai trò chủ trì, phối hợp giữa các lực lượng thực thi
pháp luật trên biển tại các văn bản hiện hành chưa đồng bộ, thống nhất; vai
trò, thẩm quyền thực thi pháp luật của nhiều lực lượng thậm chí đã được luật định,
dẫn đến công tác phối hợp giữa các cơ quan thực thi pháp luật trên biển chưa đạt
được mục tiêu, hiệu quả như mong muốn, phần lớn mới dừng lại ở giải quyết những
vấn đề trước mắt, chưa có tính chiến lược, lâu dài. Vì vậy, lực lượng Cảnh sát
biển cần chủ động phối hợp với các bộ, ngành Trung ương và địa phương có liên
quan nghiên cứu, điều chỉnh, bổ sung quy chế, quy định về công tác phối hợp, đảm
bảo phù hợp với tình hình thực tiễn. Đặc biệt, cần tập trung nghiên cứu, tham
mưu với Bộ Quốc phòng, đề xuất với Chính phủ ban hành văn bản quy phạm pháp luật
quy định về công tác phối hợp, trọng tâm là cụ thể hóa việc phối hợp này trong
thực hiện nhiệm vụ của lực lượng Cảnh sát biển thành một chương trong dự thảo
Luật Cảnh sát biển Việt Nam để trình Quốc hội thông qua; trong đó, quy định rõ
nội dung, cơ chế, trách nhiệm phối hợp của các bộ, ngành, chính quyền địa
phương, đảm bảo cho lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam thực hiện đúng vai trò là
lực lượng chủ yếu trong quản lý nhà nước về an ninh, trật tự, an toàn và bảo đảm
việc chấp hành pháp luật trên các vùng biển, thềm lục địa của Việt Nam.
Ba là, tích cực đổi mới nội dung, hình thức phối hợp với
các lực lượng. Trước tính chất phức tạp của tình hình an ninh, trật tự, an
toàn, chấp hành pháp luật trên các vùng biển và những tồn tại, hạn chế trong phối
hợp hoạt động giữa các lực lượng thời gian qua, đòi hỏi Cảnh sát biển Việt Nam
phải đổi mới nội dung, hình thức, biện pháp phối hợp hoạt động với các lực lượng
nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện nhiệm vụ trên biển. Theo đó, lực lượng Cảnh
sát biển cần chủ động đổi mới toàn diện công tác phối hợp hoạt động với các lực
lượng, tăng cường hỗ trợ lẫn nhau trong thực hiện nhiệm vụ. Trong đó, tập trung
vào nội dung trao đổi thông tin, phối hợp tuần tra, kiểm soát, đấu tranh chống
xâm phạm, vi phạm; xử lý vụ việc và cứu hộ, cứu nạn; kinh nghiệm tuyên truyền,
phổ biến, giáo dục pháp luật cho ngư dân và đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực
chuyên môn. Để tăng cường sự gắn kết, thống nhất cao trong phối hợp, hiệp đồng,
lực lượng Cảnh sát biển cần chủ động mở rộng các mối quan hệ, bổ sung các hình
thức, biện pháp phối hợp mới, như: giao lưu, kết nghĩa, phối hợp luyện tập, diễn
tập cứu hộ, cứu nạn, xử lý tình huống phức tạp trên biển, thiết lập đường dây
nóng, duy trì nền nếp giao ban, thông báo tình hình. Đặc biệt, Bộ Tư lệnh Cảnh
sát biển chỉ đạo các cơ quan, đơn vị tiếp tục phối hợp với các địa phương triển
khai thiết thực, hiệu quả hơn nữa mô hình “Cảnh sát biển đồng hành với ngư
dân”, tạo mối quan hệ đoàn kết, gắn bó giữa lực lượng Cảnh sát biển với nhân
dân, xây dựng thế trận quốc phòng, an ninh trên biển vững chắc, rộng khắp, làm
nền tảng cho Cảnh sát biển và các lực lượng khác phối hợp hoạt động, đáp ứng
yêu cầu, nhiệm vụ.
Bốn là, đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong thực hiện nhiệm
vụ. Phát huy kết quả đã đạt được và quán triệt, thực hiện đường lối đối ngoại của
Đảng, lực lượng Cảnh sát biển tiếp tục đẩy mạnh hợp tác với các tổ chức, lực lượng
thực thi pháp luật trên biển của các nước trong khu vực và trên thế giới. Trong
đó, tập trung thực hiện tốt vai trò là thành viên chủ động, tích cực trong các
tổ chức ở khu vực và quốc tế mà Cảnh sát biển Việt Nam tham gia; chú trọng quan
hệ, hợp tác với lực lượng chấp pháp trên biển của các nước trong khu vực và một
số nước có quan hệ hữu nghị, truyền thống với Việt Nam, như: Trung Quốc, Nhật Bản,
v.v. Cùng với đó, tiếp tục duy trì hoạt động của Trung tâm chia sẻ thông tin chống
cướp biển, cướp có vũ trang chống lại tàu thuyền khu vực châu Á; trao đổi thông
tin về tình hình an ninh hàng hải, cướp biển, cướp có vũ trang, tìm kiếm, cứu nạn
với lực lượng thực thi pháp luật của các quốc gia; tuần tra chung với lực lượng
chấp pháp của các nước có vùng biển giáp ranh với Việt Nam. Đồng thời, đẩy mạnh
giao lưu, trao đổi kinh nghiệm trong đào tạo, huấn luyện, bồi dưỡng, tập huấn
cho cán bộ, chiến sĩ Cảnh sát biển, nhất là đội ngũ cán bộ tàu. Qua đó, tăng cường
quan hệ hữu nghị, hợp tác với các nước, góp phần nâng cao năng lực thực hiện
nhiệm vụ cho Cảnh sát biển Việt Nam, tạo môi trường ổn định, hòa bình trên biển,
bảo vệ vững chắc chủ quyền, an ninh, trật tự, an toàn trên các vùng biển, đảo,
thềm lục địa của Tổ quốc.
Thiếu tướng, TS. NGUYỄN VĂN SƠN, Phó Tư lệnh Cảnh sát
biển
越南保障新闻自由、言论自由、民主及人权
06:56 |
目前,各敌对势力和政治机会主义分子在加紧以“新闻自由、言论自由、民主权及人权”等为由来宣传、鼓动、扭曲并诽谤越南革命,逐渐消弱我国人民对我党、我国和社会主义制度的信任。我们必须提高警惕并坚决揭露他们的“真面目”。
近日,“记者保护委员会”(CPJ),“无国界记者协会”(RSF)等组织连续公布了各种“报告”、“通告”等等,对越南的新闻自由、言论自由、民主及人权状况做出了歪曲事实且不够客观的评价。他们甚至明目张胆地诬蔑我国加强囚禁记者力度,任意逮捕博客写手。与此同时,他们出手干涉我国内政,要求“取消”越南刑法中被他们称为“违反人权的模糊法律”的一些条例,要求无条件释放所谓“记者”、“人权活动家”和“被任意逮捕的博客写手”等。更值得一提的是,这些人一方面故弄玄虚,一方面明知故问:FH、CPJ、RSF为何要提出上述片面、糊涂的评价,而事实上却完全相反呢?难道这些组织对越南没有好感?很可能,但事情并不那么简单,不难看出的是,这些人的论调充满了敌意。否则他们就不会这么明目张胆地歪曲事实。
实际上,多年来,在越南职能机关公开对那些进行反越南社会主义共和国宣传的犯罪分子予以逮捕以便调查时,FH、CPJ、RSF等组织立即对此些分子扣上了“民主者”、“独立写手”的帽子,同时发布“通知”要求越南政府无条件地释放这些人。不仅如此,这些组织还经常举办“国际新闻自由奖”,以表彰并鼓舞一些持与越南政府不同观点的人。更危险的是,连曾在新闻界工作过的人也以记者名义,打着民主自由、言论自由和新闻自由等旗号建立博客网站,登载那些歪曲事实的文章,故意抹黑、诋毁我党的部分领导,尤其是一些高级领导。不仅如此,这些人还走上了邪路,转而将自己的写作内容改为辱骂、孤僻、机会主义、牟利、鼓吹部分人违反法律,与看民族及人民的意志和愿望背道而驰,给读者灌以“政府惩罚民主活动者、爱国青年与学生”等思想。
这些行为已违反了越南社会主义共和国《刑法》第258条的规定。虽然在与职能部门交代时,这些分子都承认了自己的所有错误行为,争取得到从宽处理,但FH、CPJ、RSF又对这些分子表示担忧、特别留心,并提出过分要求,他们要求越南政府“无条件释放”这些分子。实质上,明明是非法干涉越南内政的行为,同时鼓吹不良分子对越南党和国家进行进攻。这也说明FH、CPJ、RSF对我国自由、民主和人权持有不够善意的态度。
可以说,FH、CPJ、RSF等组织经常引以为例来违反越南自由权,民主权及人权的都是那些违反越南法律的人。事实明显,各组织包括FH、CPJ、RSF在内基于一些违反越南法律的个人而糊里糊涂地提出所谓“报告”、“通告”,其本质是谬误的,而且是缺乏客观性的。FH、CPJ、RSF在若干与越南背道而驰的个人和组织经常采取像“特治之药”希图对抗越南党和国家的自由、民主、人权之“游戏”中,把自己变成小丑。实际上所谓的“违反人权”、“违反新闻自由”、“扣押、绑架记者和博客写手”的背后真相就是若干个人和组织,其中包括FH、CPJ、RSF在内已“布置好”的“戏”,目的是鼓吹,倡导并支持那些反对共产党和越南国家的坏分子。
目前,越南正在建设社会主义法治国家,依法管理和调节社会一切活动。在越南,法律面前人人平等,违法违规行为都依法处理;法律被放在至高无上的地位,没有任何人可以站在法律之外或凌驾于法律之上。陈黄维识、谢风秦、黎国君、皇姜、阮有荣(博客名“糊弄三哥”)、张维壹、武青松等人也不例外。因此,实际上,在越南没有任何记者被监禁,只有违反法律的人才被依法处理。
越南党和国家一贯尊重并保证人权,其中包括所有公民的新闻自由和言论自由。与其他国家相同,为了维护纪律、确保稳定发展,越南不允许利用各种特权来闪动政变,破坏民族团结。事实上,通过社会辩论形式、新闻媒体,越南党和国家始终倾听,尊重各个阶层人民对政策的落实与法律的实施所提出的各种建设性意见和建议。人民可以通过其代表组织如越南祖国阵线、农民协会、妇联、胡志明共青团等群众组织来实现自己的辩论权。这是连接人民与党、各级政府、祖国阵线和各社会团体的桥梁,以推广,鼓励人民有效地执行我党的主张路线、我国的法律政策和当地机关单位的规定;严格执行基层民主制度,以便人民在社会生活各个领域都能发挥极大的自主权,谋求他们的正当利益和愿望。
当今,越南共有845家报刊机构,其中有199家新闻刊物, 646张杂志和1家国家通讯社 (比2013年增加了7家报刊);
98家网报机构 (比2013年增加了6家);
67家中央和地方广播电视台; 180个国内广播和电视频道 ; 40个国外广播和电视频道;
5所地面数字电视; 3家卫星电视服务商 ; 27 家有线电视服务商。
地面数字电视用户数量达700万户,比2013年翻了一番; 卫星数字电视的用户数量达973千户,有线电视为430万户。与其他国家相比,越南的互联网用户数量在亚洲排名第八位,在东南亚排第三位。越南在全国范围内已为近18.000名记者颁发了记者证以及超过19.000名新闻工作者及作者,他们都是社会极为重要的部分, 随时深入生活实践,如实反映国家的经济社会情况、祖国建设与保卫事业中的“好人好事”;始终在反腐倡廉、反腐斗争, 反奢侈浪费现象以及打击官僚主义等过程当中走在前茅。从而,针对党的主张、路线及国家的政策和法律,提出科学评估。越南新闻是高效、广泛、公开、民主、快速地争辩社会所有问题的信息渠道。
关于民主、人权问题,越南党和国家一向高度关心社会生活各方面的人权民主的发挥。特别是,2013年宪法更看重人权问题,体现为人权意识明显提高,《宪法》中则共有有38条有关人权的规定,同时把第二章将人权及公民的基本权利和义务放在重要位置,仅次于第一章关于政治制度。与此同时,强调政府“承认,尊重,保护和确保公民有关政治、民事、经济、文化、社会等领域的人权和公民权的原则”;“根据法律的规定, 人权,公民权只有在为了国防、国家安全和社会治安保障、社会道德与健康等一些特殊的情况下才受限制”。这些民主内容已充分体现了越南党和国家在处理人权与公民权责任之间的前提理念。另一方面,它“防范”了政府机构官员违反和限制公民权利。这也是一个具体的行动,证明了越南严格执行联合国的《公民权利和政治权利国际公约》以及《经济、社会及文化权利国际公约》并认真落实1948年人权声明,这也符合国家的新发展阶段,标志着越南宪法立法史上的突破性的进步。可见,越南在人权方面的认识,决心和认真行动,人权发展和完善始终作为越南既定的国家发展目标的动力。
近日,越南已经推出了“消除饥荒”国家行动计划。在启动仪式上,越南国家总理阮晋勇表示,越南参加“消除饥荒”的倡议不仅体现越南积极响应联合国活动的责任,而且也很符合越南的实际要求。参加这类倡议有助于越南做好农村地区特别是边远地区和少数民族地区的脱贫减困工作,粮食保障和营养安全工作。此前,在2014年越南发展伙伴论坛(VDPF 2014)上,总理阮晋勇已经确认,国家法治的完善和人民自由民主的确保以及和2013年宪法市场经济体制的完善是重要动力和关键解决方案,以提高越南经济的效率和竞争力。与此同时,越南政府将继续更好地确保社会公平进步,有效落实千年发展目标。
趁着越南共产党成立85周年和2015年乙未年春节来临之际,在接受越南通讯社采访时,越南总书记阮富仲强调,国家的一切主张、政策均从人民的正当利益和愿望出发,让人民过得更好、更富裕。由此可见,在越南,自由与民主及人权等问题始终得到越南党和国家的高度重视并放在首位,在法律面前人人都平等并得到法律的保护。绝对没有那些不法组织所谓的“违反民主和人权”或“任意逮捕记者及博客写手”等现象、
越南是一个自由、独立的国家,我们民族的发展道路该由我们人民自己选择的。越南绝不接受任何外面势力干涉和摆布国家内政,更不让任何人扭曲、诽谤我党和我国情况,煽动造成内部混乱。设想,那些总是把新闻自由和言论自由权看做是“最高权力”的人,那些打着自由民主的旗号,呼吁和鼓吹违背越南人民利益的人,是不是要对自己加以反思?(完)
Hot (焦点)
-
胡志明是二十世纪越南革命杰出的马克思主义思想家。他老人家的思想是马克思列宁主义在符合越南的条件和历史背景基础上的运用、发展与创新,体现着时代精神及现代与当代世界的运动与发展趋势。 1 、胡志明思想、道德、风格体系的道德榜样。他老人家的思想合成了越南革命及革命之路的战略策...
-
为维护国家海岛主权,越南历代封建王朝都着重投资建设强大的水军力量。越南丁、李、陈、黎、阮等王朝的水军力量不断得到加强和完善。这支水军为捍卫祖国事业作出了巨大贡献,在各个阶段留下了历史烙印。 至今还收藏的古籍显示,越南历代封建王朝早已对黄沙群岛和长沙群岛确立主权、实施...
-
1954 年《日内瓦协议》签署之后,越南暂时被分成南北两方不同政治制度的政体。据此,越南北纬 17 度以南的领土(包括黄沙、长沙两群岛)由越南共和国政府管辖。根据《协议》规定,法国殖民者被迫撤离越南之后,西贡政权立即派遣海军力量接管黄沙、长沙两群岛并对其行使主权。与此同时,...
-
(VOVWORLD) - 越南伟大领袖胡志明主席的思想、道德、作风、革命生涯是越南全党、全民学习和实践胡志明道德榜样的生动和具有说服力的楷模。至今,越南开展学习和实践胡志明道德榜样运动已有 8 年并取得多项重要结果。 胡志明主席在其革命生涯中牺牲个人利益,为祖国和人...
-
越南的黄沙群岛位于东海(中国称南海)北边,处于北纬 15°45′ 至 17°15′ 、东经 110° 至 113° ,距越南广义省李山岛约 120 海里。黄沙群岛由 37 多个岛、洲、礁和沙滩组成,分为西面和东面两个群岛。东面为安永群岛(中国称宣德群岛),由 12 个岛、洲...
-
数十年来,中国人拿出大量书籍、资料和史料,企图证明从两千年前的汉朝起,中国人就发现了西沙和南沙(即越南的黄沙群岛和长沙群岛),从而说古代中国发现西沙南沙群岛就足够证明中国对西沙和南沙的不可争议的领土主权。据说,中国人最迟于唐宋发现南沙群岛至今,就一直在岛上及其海域从事生产活...
-
越南对黄沙、长沙两座群岛的主权不仅在越南古籍和古文献中有记载,而且还出现在西方航海家和传教士等的书籍、报纸、地图、日记、航路指南等外国资料中。这些资料描述黄沙、长沙“是越南中部海上的一块沙渚…”,这和越南同一历史时期资料和古地图描述的类似。法国 1936 年在印度支那建立的...
-
BDN - 位于东海边国土陆地呈 “S” 字形的越南,无形中拥有沿着国土走向三千公里海岸及依照 1982 年《联合国海洋法公约》从岸边向外延伸的辽阔海域。这意味着从越南 1982 年 11 月确定和公布的垂直基线算起往外延伸 200 海里宽的海域属越南的主权,被称作专属经济...
-
从十六、十七世纪至今,西方国家的轮船日益频繁来往于东海。他们来到这里,不只为了扩大贸易还为了传教和传播西方文化。在来往东海期间,西方航海家和传教士们以当时最现代的技术很详细地描述和绘画黄沙群岛和长沙群岛,以避免这两个群岛的礁石给来往的船舶造成危害。为此,他们很仔细地研究东海...
-
香港媒体最近透露中国在东海划分“新边界线”的海洋研究项目,为“资源研究”创造了条件,北京对这片海域的主权主张“增添了筹码”。这条新边界线是一条与囊括了蕴藏着丰富矿产和能源资源的东海海域九段线相吻合的实线,九段线内的海域就是北京声索主权的那片海域。 从国际法的角度来看实线...









