“越南海洋岛屿”知识竞赛正式开赛

10:26 |
越通社——4月8日下午,胡志明共青团中央委员会同Ereka社交问答网站和ViettelPay移动支付应用联合举行2019年越南海洋岛屿知识竞赛在线测试介绍会。
胡志明共青团中央书记处书记阮玉良在介绍会上发表讲话时强调,此次竞赛举行的主要目的是对青年一代进行关于热爱祖国、海岛精神的教育宣传,激发青年们对捍卫祖国海洋海岛主权的责任意识,参加推动经济社会发展、维护国家国防安全等。
[2018年越南海洋岛屿周即将举行]
“越南海洋岛屿”知识竞赛在线测试每天从13时30分到20时30分在biendaovietnam.org.vn网站以及流动应用程式“Ereka”开赛,当天在ViettelPay移动支付应用领奖。“越南海洋岛屿”知识竞赛每场在线测试时长15分,包括4轮比赛共有10道选择题,每道题选择答案时间为10秒。“越南海洋岛屿”知识竞赛从4月8日至5月12日举行。
参赛对象为国内外越南公民,年龄限于18-35岁。竞赛内容围绕着越南海洋岛屿情况的知识和信息;海洋岛屿在经济社会发展战略中的作用、地位和重要性;海洋岛屿环境与资源管理、保护及可持续发展的法律规定等。
参赛的个人有机会了解越南海洋法、到2020年越南海洋战略行动计划;越共中央委员会于2018年10月22日颁布关于《2030年前越南海洋经济可持续发展战略及2045年愿景》的第36号决议;越南党、国家关于经济社会发展与维护海洋岛屿国防安全相结合的主张、政策;1982年联合国海洋法公约等。此外,竞赛内容还包括关于越南对黄沙和长沙群岛拥有主权的法律证据、越南人民海军力量发展史、胡志明共青团关于越南海洋岛屿的活动等。
竞赛设有的一等奖;每份价值800万越盾的两个二等奖;每份价值300万越盾的三个三等奖。此外,组委会还颁发每份值为100万越盾的15个优秀奖和值为2000万越盾的一个集体奖。

Đọc thêm...

Thi tìm hiểu về biển đảo Việt Nam

10:15 |
Ngày 8/4 tại Hà Nội, Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh với sự đồng hành của mạng xã hội hỏi đáp Ereka!, Ngân hàng số ViettelPay tổ chức phát động Cuộc thi trắc nghiệm tương tác trực tuyến tìm hiểu về biển, đảo Việt Nam với tên gọi “Biển đảo Việt Nam”.    
thi tim hieu ve bien dao viet nam qua ung dung di dong
Toàn cảnh lễ phát động cuộc thi
"Biển đảo Việt Nam" là cuộc thi trắc nghiệm tương tác trực tuyến, theo đó, vào lúc 13 giờ 30 phút và 20 giờ 30 phút hằng ngày, các thí sinh truy cập vào website: biendaovietnam.org.vn hoặc sử dụng ứng dụng Ereka để tham gia thi.
Đối tượng thi là công dân Việt Nam từ 18-35 tuổi ở trong và ngoài nước. Mỗi đợt thi “Biển đảo Việt Nam” diễn ra trong vòng 15 phút với 04 vòng thi gồm 10 câu hỏi trắc nghiệm, thời gian chọn đáp án trả lời cho mỗi câu là 10 giây. Thời gian tổ chức từ ngày 8/4 đến 12/5/2019 (05 tuần thi).
Theo Ban tổ chức, ngân hàng câu hỏi có gần 1.000 câu, xuất hiện trong các đợt thi sẽ từ dễ đến khó; không lặp lại những lần thi tiếp theo. Nội dung thi xoay quanh những thông tin về đặc điểm, tình hình, vai trò, vị trí và tầm quan trọng của biển, đảo Việt Nam trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước; các quy định của luật pháp Việt Nam về quản lý, bảo vệ, phát triển bền vững tài nguyên, môi trường biển, đảo.
Bên cạnh đó, là các kiến thức về Luật biển Việt Nam, chương trình hành động thực hiện Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020; Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 22/10/2018 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045; các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước trong phát triển kinh tế - xã hội gắn với giữ vững, củng cố quốc phòng, an ninh trên các vùng biển, đảo; Công ước của Liên Hiệp Quốc về Luật biển năm 1982.
Ngoài ra, là các câu hỏi về đặc điểm, tình hình và chứng cứ pháp lý khẳng định chủ quyền của Việt Nam với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa; lịch sử phát triển của lực lượng Hải quân nhân dân Việt Nam; thông tin về các chương trình, hoạt động của Đoàn hướng về biển, đảo.
Phát biểu tại chương trình, Bí thư Trung ương Đoàn Nguyễn Ngọc Lương cho biết, từ kết quả của các chương trình, hoạt động, cuộc thi về biển đảo dành cho giới trẻ Đoàn TNCS Hồ Chí Minh đã từng tổ chức mang lại hiệu quả thiết thực, cuộc thi lần này được tận dụng công nghệ 4.0 sẽ giúp những kiến thức chung về biển đảo Việt Nam; những vấn đề cập nhập mới nhất theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước liên quan đến biển đảo Việt Nam; những đóng góp của tổ chức Đoàn, thế hệ trẻ với việc bảo vệ, xây dựng biển đảo sẽ lan tỏa đến nhiều đoàn viên thanh niên hơn nữa.
Bí thư Trung ương Đoàn Nguyễn Ngọc Lương nhấn mạnh: “Cuộc thi trắc nghiệm tương tác trực tuyến tìm hiểu về biển, đảo Việt Nam một lần nữa nhằm tuyên truyền, giáo dục thế hệ trẻ về lòng yêu nước, tình yêu biển đảo, khơi dậy tình cảm và ý thức trách nhiệm của tuổi trẻ trong việc giữ gìn chủ quyền, tham gia phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững quốc phòng an ninh của đất nước”.
Cơ cấu giải thưởng của Cuộc thi bao gồm: Giải Ngày trị giá 1 triệu đồng/lượt thi chia đều cho tất cả thí sinh vượt qua 10 câu hỏi; giải Tuần 1 triệu đồng trao cho 10 thí sinh có kết quả tốt nhất; giải Chung cuộc gồm: 1 giải Nhất 20 triệu đồng, 2 giải Nhì trị giá 8 triệu đồng/giải, 3 giải Ba, mỗi giải 3 triệu đồng. Tất cả các giải Nhất, Nhì, Ba chung cuộc đều được nhận kèm giấy chứng nhận đạt giải. Ngoài ra Ban tổ chức sẽ trao 15 giải Khuyến khích trị giá 1 triệu đồng/giải và 1 giải Tập thể cho tỉnh, thành đoàn, đoàn trực thuộc có số lượng thí sinh dự thi đông nhất lên đến 20 triệu đồng/giải.
Bên cạnh đó, đoàn viên thanh niên có thể ủng hộ Quỹ vì biển đảo Việt Nam bằng cách sử dụng tính năng Ủng hộ biển đảo trên ứng dụng.

Đọc thêm...

越南希望为世界和平作出更多贡献

06:59 |
(VOVWORLD) -今年六月,越南将正式竞选2020至2021年任期联合国安理会非常任理事国。越南第二次参选再次肯定越南愿作国际社会积极、可信赖和负责任伙伴的主张。同时越南也可为对世界和平与安全发挥重要作用的这一机制作出贡献,从而保障世界和地区的和平、稳定与发展。
卸任2008至2009年任期联合国安理会非常任理事国十年后,目前越南正作为亚太地区的唯一候选人竞选联合国安理会非常任理事国职务。
在世界局势发生巨大变化的背景下面临更多挑战
自1977年加入全球最大组织-联合国至今, 越南一直是一个负责任的成员,积极投身联合国的各项活动,是世界上促进和平、进步、合作和发展的先驱者之一。在推动世界和平、进步、合作与发展中发挥表率作用。作为2008至2009年任期联合国安理会非常任理事国,越南努力参与处理一些地区发生的冲突,为加强联合国维和行动做出贡献,提出促进妇女在和平与安全领域发挥更大作用等具体倡议。但从那时到现在有十年了,而当前联合国安理会成员国正面临着众多挑战。
越南外交部副部长黎怀忠说:“最大的困难是国际局势发生了巨大变化。尽管和平与合作发展仍是世界各个地区的主要发展趋势,但地区局势复杂变化成为了新生的挑战。在联合国安理会的议事日程发生变化的情况下,越南也要把握这些变化并继续强化自身能力和人才队伍。”
在承担联合国安理会繁复工作的同时,联合国安理会非常任理事国面临的不小挑战是各个非常任理事国的政治体制不同,尤其是要解决世界热点地区发生的冲突。这些挑战要求联合国安理会非常任理事国积极提出务实的观点和倡议,解决全球和地区问题乃至平衡有关各方的利益。
       希望为世界和平作出积极贡献
由于充分认识到第二次竞选将面临的挑战,越南已经和正在做积极准备,与国际社会就联合国安理会问题进行磋商,对非常任理事国在世界局势快速演变和难以预测的背景下将面临的顺利和挑战因素进行分析,借鉴各国维和行动经验,就联合国下属国际和地区组织与各个国家、联合国与东盟、欧盟与东盟之间的互相帮助提出倡议。
德国康拉德·阿登纳基金会驻越首席代表彼得•吉尔克说:“越南在融入国际进程中取得了许多进步,越南在东盟和亚太经合组织等多边机制内的地位和威望得到提高。越南也承办了多项国际事件。此外越南市场经济体系也能融入国际经济体系。越南经济取得的成就令人印象深刻。东南亚潜藏着与经济、东海安全问题、马来西亚马六甲州、美中贸易战有关的许多冲突因素。接任2020年东盟轮值主席国后越南将担负多项繁重的国际任务,其中包括遏制和解决世界和地区暴力冲突乃至处理冲突后事宜。我希望,当选2020至2021年任期联合国安理会非常任理事国后,越南将良好完成自己的使命,建设和保障地区乃至世界的安全与和平。”
安理会是联合国宪章规定的六个主要机构之一。联合国安理会的责任是维护世界和地区的和平。越南第二次竞选联合国安理会非常任理事国职务体现了越南参加保障世界和地区的安全与和平的最重要机构——联合国所有活动的坚决态度。这也是越南实施对外政策的良机,体现越南将作为国际社会积极和负责任的成员,保障世界的和平与发展。

Đọc thêm...

Việt Nam mong muốn đóng góp nhiều hơn cho hòa bình thế giới

06:49 |
(VOV5) - Việt Nam hiện là ứng viên duy nhất đại diện nhóm các nước châu Á - Thái Bình Dương trong Liên Hợp Quốc cho vị trí Ủy viên không thường trực HĐBA.
Vào tháng 6 tới, Việt Nam sẽ chính thức tham gia vào quá trình bầu cử làm thành viên không thường trực của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2020-2021. Việc Việt Nam ứng cử vào Hội đồng Bảo an lần thứ hai tiếp tục khẳng định chủ trương của Việt Nam là trở thành thành viên tích cực, đối tác tin cậy và có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế; đồng thời là cơ hội để Việt Nam có thể đóng góp xây dựng tại cơ chế có tầm quan trọng chiến lược đối với hòa bình, an ninh quốc tế này, góp phần đảm bảo hòa bình, ổn định và phát triển ở khu vực và trên thế giới.
10 năm kể từ sau khi hoàn thành nhiệm kỳ Ủy viên không thường trực HĐBA năm 2008-2009, Việt Nam hiện là ứng viên duy nhất đại diện nhóm các nước châu Á - Thái Bình Dương trong Liên Hợp Quốc cho vị trí này.
Nhiều thách thức trong bối cảnh thế giới thay đổi
Từ khi gia nhập LHQ năm 1977, tổ chức đa phương lớn nhất toàn cầu, Việt Nam đã và đang là một thành viên có trách nhiệm và đóng góp tích cực vào mọi lĩnh vực hoạt động của LHQ, đồng thời là một trong những quốc gia đi tiên phong trong thúc đẩy hòa bình, tiến bộ, hợp tác và phát triển trên thế giới.
Trong vai trò ủy viên không thường trực của HĐBA LHQ nhiệm kỳ 2008 - 2009, Việt Nam đã đóng góp vào nỗ lực chung xử lý xung đột ở một số khu vực, tăng cường hoạt động gìn giữ hòa bình LHQ, có sáng kiến cụ thể về tăng cường vai trò của phụ nữ trong lĩnh vực hòa bình và an ninh. Tuy nhiên, từ đó đến nay đã 10 năm trôi qua và hiện tại có rất nhiều thách thức mà các nước thành viên của Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc phải đối mặt. Thứ trưởng Ngoại giao Lê Hoài Trung cho rằng: "Khó khăn lớn nhất là tình hình quốc tế thay đổi rất nhiều. Mặc dù hòa bình, hợp tác phát triển là xu thế chính nhưng ở các khu vực tình hình rất phức tạp, là thách thức lớn đặt ra. Tất nhiên khi tham gia vào trong chương trình nghị sự của Hội đồng bảo an cũng có thay đổi thì Việt Nam cần phải nắm bắt những thay đổi và tiếp tục nâng cao năng lực, đội ngũ của mình".
Ngoài khối lượng công việc tương đối lớn tại Hội đồng Bảo an, thách thức không nhỏ đối với các thành viên không thường trực là sự khác biệt chính trị giữa các nước thành viên thường trực, đặc biệt trong cách thức giải quyết xung đột tại các điểm nóng trên thế giới. Những thách thức này đòi hỏi các nước thành viên phải tích cực đưa ra quan điểm và những sáng kiến thiết thực, để giải quyết các vấn đề khu vực và toàn cầu, cũng như cân bằng lợi ích của các bên liên quan.
Mong muốn đóng góp tích cực cho hòa bình thế giới
Nhận thức được những thách thức đặt ra trong lần ứng cử thứ hai này, Việt Nam đã và đang có sự chuẩn bị tích cực, tham vấn cộng đồng quốc tế về tình hình của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, nhận định những thuận lợi và thách thức đối với vai trò Ủy viên không thường trực trong bối cảnh thế giới chuyển biến nhanh chóng, khó lường, chia sẻ kinh nghiệm của các nước trong các vấn đề về gìn giữ hoà bình, gợi mở các sáng kiến về sự tương hỗ giữa các tổ chức quốc tế, khu vực ũng như giữa các quốc gia, giữa Liên Hợp quốc và ASEAN, giữa EU và ASEAN trong Liên hợp quốc.
Ông Peter Girke, Trưởng đại diện Quỹ Konrad-Adenauer-Stiftung (KAS) của Cộng hòa Liên bang Đức (KAS) tại Việt Nam, cho rằng: "Việt Nam đã có nhiều tiến bộ trong quá trình hội nhập quốc tế như vị thế tại các cơ chế đa phương ASEAN, APEC. Nhiều sự kiện quốc tế được tổ chức tại Việt Nam. Việt Nam cũng là quốc gia có thể chế kinh tế thị trường hội nhập được với hệ thống kinh tế quốc tế. Việt Nam cũng đã thể hiện được những kết quả kinh tế ấn tượng trong thời gian qua. Đông Nam Á là khu vực có nhiều xung đột tiềm ẩn liên quan tới nhiều vấn đề như kinh tế, an ninh như vấn đề Biển Đông, Malacca, chiến tranh thương mại Mỹ-Trung. Khi trở thành Chủ tịch ASEAN 2020, Việt Nam sẽ gánh nhiều trách nhiệm quốc tế nặng nề trong việc ngăn ngừa, giải quyết xung đột chung trên khu vực, thế giới cũng như khâu quản lý hậu xung đột. Tôi hy vọng rằng khi được trúng cử vào vị trí thành viên không thường trực của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2020-2021, Việt Nam sẽ hoàn thành tốt trách nhiệm của mình để xây dựng, bảo đảm an ninh, hòa bình trong khu vực cũng như trên thế giới".
Hội đồng bảo an là một trong 6 cơ quan chính của Liên Hợp Quốc được quy định trong Hiến chương Liên Hợp Quốc. Trách nhiệm chính của Hội đồng Bảo an là duy trì hòa bình và an ninh quốc tế. Việc Việt Nam lần thứ hai tham gia quá trình bầu chọn thành viên không thường trực của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc thể hiện trách nhiệm, tích cực của quốc thành viên khi tham gia vào các hoạt động của Liên hợp quốc, đặc biệt là cơ quan quan trọng nhất trong việc bảo đảm an ninh và hòa bình thế giới. Điều này cũng là cơ hội tốt cho Việt Nam trong thực hiện chính sách đối ngoại hòa bình, thể hiện rõ Việt Nam là một thành viên tích cực và có trách nhiệm với cộng đồng quốc tế nhằm đảm bảo hòa bình và phát triển bền vững thế giới.

Đọc thêm...

互惠合作15年

08:00 |
(VOVWORLD) - 在越中全面战略合作伙伴关系发展进程中,包括合作开发北部湾渔业资源在内的海上合作显然是个亮点。《越中北部湾划界协定》和《越中北部湾渔业合作协定》生效并实施15年来为维护北部湾安全秩序做出了重要贡献。
《越中北部湾渔业合作协定》是越中两国北部湾划界谈判中的一项历史性协定。这项协定于2004年生效,有效期12年,随后再延期3年。
据协定内容,越中双方同意在北部湾封口线以北、北纬20度以南,距北部湾分界线各自30.5海里的海域设立面积3.35万平方公里的共同渔区。
稳定地区安全秩序
据协定内容,两国有权在其专属经济区检查、监督、处理有权进入共同渔区的渔船。捕捞量及能进入共同渔区的渔船数量依据平等原则,根据获批准的捕捞数量来确定,并进行定期调查检查。此外,各自国家有权与第三方合资,在其专属经济区开展捕捞合作。
在日前广宁省举行的《越中北部湾渔业合作协定》实施15年评估研讨会上,越南农业与农村发展部和中国农业农村部代表一致认为,《越中北部湾划界协定》和《越中北部湾渔业合作协定》的落实有助于稳定北部湾安全秩序,建立两国和平、稳定、合作环境。两国良好组织海上生产及海上安全维护工作。几乎所有获渔业许可证的渔船都执行规定,渔民遵守海上警察、渔检、边防部队的检查和监督。
越南农业与农村发展部副部长冯德进表示:“《协定》建立了明确的国际法律框架,便于各自国家管理并开发本身在北部湾内的海域及专属经济区,同时也为两国促进合作,可持续发展北部湾,维护地区稳定,增进两国互信并为两国关系共同发展做出贡献。”
《越中北部湾渔业合作协定》生效后,越中两国职能部门互相配合,维护地区新秩序,督促两国渔民遵守《协定》,管控在共同渔区活动的渔船。
中国农业农村部副部长于康震评价说:“在两国渔业部门和有关方面的共同努力下,中越双方本着互信、互谅、互让的友好合作精神,不断加强交流,开展务实合作,《协定》水域内的渔业生产秩序保持相对稳定,基本实现了3个‘平稳过渡’,即渔业生产、渔民情绪和渔业管理方式的‘平稳过渡’。北部湾渔业生产秩序进入正常、稳定的时期,可以说,《协定》实施了15年是中越渔业合作成绩斐然得15年。中越两国渔业关系得到了巩固和发展,《协定》得到了较为平稳顺利地实施,各项工作有序开展。这为沿海经济发展和渔区社会稳定做出了重要贡献。”
促进《协定》有效落实
《越中北部湾渔业合作协定》是越中双方在对各自国防安全都具有重要意义的北部湾促进合作工作中取得的来之不易的重要成果。除了国防安全意义外,北部湾在经济方面也具有重要地位,因为其海产资源极为丰富。越中两国都有在北部湾进行捕捞、环保、海产资源保护与养殖合作的需求。
《越中北部湾渔业合作协定》有效实施15年来为解决历史遗留问题创造便利条件,同时为促进越中建立互信,加强友好合作关系奠定基础并提供动力。在15年合作的基础上,双方正进一步加强对渔民的宣传和集训,确保《协定》各项规定及其他法律规定得到遵守和执行。
与此同时,双方也正在调查并评估渔业资源,联合增殖放流渔业资源,加强巡逻、检查配合,旨在促进北部湾渔业资源可持续发展,增进越中两国互信。

Đọc thêm...

15 năm hợp tác cùng có lợi

07:30 |
(VOV5) - Hiệp định Hợp tác Nghề cá vịnh Bắc Bộ Việt Nam - Trung Quốc là một trong những Hiệp định quan trọng, có ý nghĩa lịch sử trong việc đàm phán phân định vịnh Bắc Bộ giữa hai nước.
Trong dòng chảy chung của quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam-Trung Quốc, hợp tác trên biển, trong đó có hợp tác khai thác nguồn lợi thủy sản chung ở vịnh Bắc Bộ là một điểm sáng. Sau 15 năm kể từ ngày Hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ và Hiệp định Hợp tác nghề cá Vịnh Bắc Bộ Việt Nam - Trung Quốc có hiệu lực và đi vào cuộc sống đã góp phần ổn định tình hình an ninh trật tự trong Vịnh Bắc Bộ.
Hiệp định Hợp tác Nghề cá vịnh Bắc Bộ Việt Nam - Trung Quốc là một trong những Hiệp định quan trọng, có ý nghĩa lịch sử trong việc đàm phán phân định vịnh Bắc Bộ giữa hai nước. Hiệp định Hợp tác nghề cá Vịnh Bắc Bộ Việt Nam-Trung Quốc có hiệu lực từ năm 2004, thời hạn hiệu lực trong vòng 12 năm và 3 năm gia hạn.
Theo Hiệp định, 2 bên thiết lập một vùng đánh cá chung rộng 33.500km2, có phạm vi từ vĩ tuyến 20 trở xuống đến đường đóng cửa Vịnh, cách đường phân định 30,5 hải lý về mỗi phía. Thời hạn của vùng đánh cá chung là 15 năm, gồm 12 năm chính thức và 3 năm gia hạn.
Ổn định an ninh trật tự trong vùng
Theo nội dung hiệp định, vùng đặc quyền kinh tế của nước nào thì nước đó có quyền kiểm tra, kiểm soát và xử lý các tàu cá được phép vào vùng đánh cá chung, sản lượng và số lượng tàu thuyền được phép vào vùng đánh cá chung là dựa trên nguyên tắc bình đẳng, căn cứ vào sản lượng được phép đánh bắt, được xác định thông qua điều tra định kỳ. Ngoài ra, mỗi bên đều có quyền liên doanh hợp tác đánh cá với bên thứ ba trong vùng đặc quyền kinh tế của mình.
Tại Hội thảo Đánh giá 15 năm thực thi Hiệp định hợp tác nghề cá vịnh Bắc Bộ, lãnh đạo Bộ Nông nghiệp và PTNT Việt Nam và Bộ Nông nghiệp Nông thôn Trung Quốc cùng khẳng định, Hiệp định Vịnh Bắc Bộ và Hiệp định Hợp tác Nghề cá đi vào cuộc sống đã góp phần ổn định tình hình an ninh trật tự trong vịnh Bắc Bộ, xây dựng môi trường hòa bình, ổn định, hợp tác của hai nước. Hai nước đã tổ chức tốt việc duy trì sản xuất và an ninh trên biển. Hầu hết số tàu cá được cấp phép đảm bảo tuân thủ quy định, ngư dân hoạt động tuân thủ sự kiểm tra, giám sát của các lực lượng Cảnh sát biển, Kiểm ngư, Bộ đội Biên phòng.
Riêng với Việt Nam, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và PTNT Việt Nam Phùng Đức Tiến khẳng định: "Hiệp định đã xác định rõ phạm vi và tạo ra một khuôn khổ pháp lý quốc tế rõ ràng, thuận lợi cho việc mỗi nước quản lý, khai thác phát triển các vùng vùng biển và thềm lục địa của mình trong vịnh Bắc Bộ, đồng thời cũng tạo điều kiện cho hai bên có cơ sở thúc đẩy hợp tác nhằm phát triển bền vững vịnh bắc bộ, duy trì sự ổn định trong vịnh, tăng cường sự tin cậy và phát triển quan hệ chung giữa hai nước".
Kể từ khi Hiệp định có hiệu lực, các cơ quan chức năng hai nước phối hợp cùng nhau giữ gìn trật tự mới trong khu vực, đôn đốc ngư dân hai bên chấp hành Hiệp định, kiểm soát tàu cá trên vùng đánh cá chung. Ông Vu Khang Chấn, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp Nông thôn Trung Quốc đánh giá: "Với sự nỗ lực của các bộ ngành liên quan hai nước, hai bên trên tinh thần hợp tác hữu nghị, tin cậy, thấu hiểu lẫn nhau, trật tự sản xuất nghề cá trong vùng nước Hiệp định tương đối ổn định, cơ bản thực hiện được 3 "bình ổn quá độ", đó là sản xuất nghề cá, tình cảm ngư dân và phương thức quản lý nghề cá. 15 năm thực hiện Hiệp định là 15 năm hợp tác nghề cá hai nước đạt thành quả nổi bật, đóng góp cho phát triển kinh tế ven Vịnh, ổn định xã hội khu vực đánh bắt cá".
Thúc đẩy thực thi có hiệu quả Hiệp định
Hiệp định hợp tác nghề cá Vịnh Bắc Bộ là thành quả không hề dễ của xúc tiến hợp tác giữa Việt Nam-Trung Quốc. Vịnh Bắc Bộ có vị trí chiến lược quan trọng đối với Việt Nam và Trung Quốc về an ninh và quốc phòng. Ngoài ý nghĩa về an ninh, quốc phòng, Vịnh Bắc Bộ còn có ý nghĩa lớn về kinh tế, có nguồn lợi hải sản phong phú. Hai nước đều có nhu cầu hợp tác đánh bắt, bảo vệ môi trường và bảo vệ và nuôi trồng nguồn hải sản trong Vịnh.
Việc Hiệp định hợp tác nghề cá Vịnh Bắc Bộ được thực thi có hiệu quả trong 15 năm qua đã tạo điều kiện thuận lợi để giải quyết vấn đề tồn tại do lịch sử để lại, tạo cơ sở và động lực thúc đẩy quá trình xây dựng lòng tin, tăng cường quan hệ hữu nghị, hợp tác giữa Việt Nam và Trung Quốc.
Trên cơ sở 15 năm hợp tác, hai bên đang tiếp tục đẩy mạnh và làm tốt công tác tuyên truyền, tập huấn cho ngư dân, đảm bảo tuân thủ các quy định của Hiệp định và các quy định khác của pháp luật. Bên cạnh đó, hai bên cũng đang tiến hành điều tra đánh giá nguồn lợi hải sản, thả giống tái tạo nguồn lợi, tăng cường công tác phối hợp tuần tra, kiểm tra, kiểm soát hoạt động nghề cá trên các vùng biển, nhằm tiếp tục thúc đẩy sự phát triển bền vững thủy sản trong vịnh Bắc Bộ, tăng cường sự tin cậy trong quan hệ chung giữa hai nước Việt Nam - Trung Quốc.

Đọc thêm...

文艺不能独立于政治之外

08:33 |
一个社会制度的正统文艺一向服务于那个社会制度的建设和巩固事业。其说明,文艺不能独立于政治之外,离不开执政阶级的领导。这是一个规律。可惜的是,在越南仍有些人与这个规律背道而驰。
近年来,文艺界蜕化变质分子已大声疾呼要求文艺独立于党的领导和现在制度(尽管这些人已经和正在享受由制度带来了真正价值)。他们想方设法传播反社会主义制度、否认革命成果、否认马列主义和胡志明思想的文学、绘画、音乐、电影等作品。他们提高和鼓吹带有极端思想的作品。他们甚至认为这些作品已给我国报纸、文艺领域带来“新风头”,“先锋”脱离党的领导,体现“开放文艺”精神。此外,有些人还故意抹黑、攻击拥有正统观点的人物和文学批评家,抹黑他们为党“帮闲”,是文章论坛上的“木偶”。这些蜕化变质分子的代表是自称“越南独立文团理事会”,以片面的目光,该文团理事会认为由党领导的文艺是为决议插画、为实际增光的文艺。可恶的是,有的作家、诗人在党领导下的革命文章事业成长,但因“患上重病”而“盲目”否认自己的精神之子。这些人认为,战争时期的文学作品都是党“订货”的插画作品,毫无感触的,因此,这些作品毫无价值,必须拥有新认识,脱离党的干预。
各位“开放文艺家”都了解一个社会的政治一般体现在政治学说和国家两个方面。其中,政治学说扮演主导作用,旨在解决各阶级、各民族和各社会阶层之间的关系以及建设一个国家来组织、管理、调控和引导社会按政治学说理论和观点发展。这样,在一个社会里,提到政治就是提到意识形态和国家性质的主导作用,旨在确保政治思想得到现实化。在社会里扮演主导作用时,政治不仅影响到其他社会意识形态,而且还在社会物质和精神领域所有活动中扮演领导和支配作用。以客观、全面、科学的接近法,马列主义指出,文艺是特殊社会意识形态,集中、充分、深刻地表现人对现实的审美关系,并强调文艺要透彻领会革命思想,带有阶级性、党性和定向性。胡志明主席强调:“的确的,民族被压迫,文艺也失去自由。文艺想要自由必须参加革命”。因此,尽管带有什么特征、什么特殊,文艺从认识和反映都要服务于民族革命事业,为解决时代矛盾和要求作出贡献。政治意识和文学意识是走上幸福道路的同行者。政治声音和艺术声音相互补充,平衡社会精神生活。
实现民族和人民交付的神圣使命,越南共产党已领导文艺发挥其“真、善、美”价值,服务于人民和民族的崇高渴望。其意味着,党领导文艺并不是强加,而是客观要求,不仅为了实现民族的理想和目标,而且还为了文艺的存在和发展,确保该“特殊社会意识形态”朝着正确方向全面、有益发展,满足人民和民族的美好、丰富和健康的渴望。因此,在1943年文化提纲(其中有文艺),我党已把文化视为一场革命,与政治革命和经济革命同时进行。该正确观点已得到我党诸多决议重申。领导革命过程,我党一向提高文化,将其视为社会的精神基础,是发展的目标和保障。
领导文艺过程,我党不干涉创新个性、创作兴起、文化作业和实行技能等具体问题。我党主张革新对文艺的领导方式,既确保文化、文艺按党的政治思想定向发展,又在以正确目的发挥高度自觉性的基础上保障个人的自由权和民主权。近期,2018年7月25日在越南文艺联合会成立日70周年纪念典礼上发表讲话时,越共中央总书记阮富仲强调,为文艺发展创造便利条件,党和国家一向鼓励和和尊重文艺家的自由探索和创新,并为文艺和文艺家制定特殊政策机制,确保符合国家经济社会发展情况。
越南革命实践证明,党的文艺路线是人发展、国家发展路线的组成部分,按确切的科学依据建设,面向文艺所面向的崇高目标。因此,越南文艺自从有党领导后已为诸多小资产知识分子转化了立场,成为热爱祖国的革命知识分子。诸如素有诗人1938年的《从那时候》一首诗标志着当时文艺界走上崇高理想的转折点。制兰园诗人感谢党已改变了他的生活,改变了他的诗歌。阮公欢作家也强调,八月革命已就生了他,解放他家庭,解放他小说之笔等。1930-1945年革命阶段,文艺已对动员革命、鼓舞同胞铸就1945年八月革命历史胜利扮演重要作用。在抗法抗美斗争中,许多文艺家边持枪边拿笔,边战斗边创作,他们的贡献已为“艺术家-战士”的美好形象增添光彩。他们的作品以达到思想、文艺的顶峰,创作出带有崇高理想并达到最高文化境界的形象,引领读者面向高尚价值。自从国家获得统一以来,尤其是在革新开放事业中,文艺继续取得重要成就,多数艺术家已发挥公民和艺术战士的责任,制作富有思想和艺术价值的作品,为促进国家文化发展作出贡献,不愧为社会牢固、精华价值的代表。
从上述事实不妨向各位“开放文艺家”、“先锋笔者”提问:这难道是扼杀自由、扼杀民主?是否强加思想?是否镇压为自由思想、自由创造斗争的文艺家?各作品若仅像他们捏造的所谓“插画”和“订货”写出来,其怎么能达到如此之高的思想和文艺境界?就是政治意识和出众才能与一片冰心已培育出为了民族正义事业付出全力的历代越南革命文艺家。就出于这个意识,文艺家得到自由创作,与民族稳步前进,为民族铸就伟大历史奇迹作出贡献。
过去时间,职能机关已禁止和收回违反《出版法》的文学作品,有的作品还对政治作出缺乏科学依据的观点和评估,歪曲越南历史,挑起民族仇恨思想和埋怨情绪。越南职能机关的决定是完全正确的,旨在为真正文艺的发展创造便利条件,为我国人民已选择的社会主义制度建设事业作出积极贡献。这完全不是一些人捏造的所谓“撤消精华知识分子的贡献”,而是为了遏制那些以自我为衡量社会品质标准、抹黑社会、发泄不满和怀恨心理的作品。这些作品只对作品本身及其主人带来“反价值”。这是不可抵赖的事实。因此,要求文艺独立于政治之外若不是帮助敌对势力实施黑暗图谋,也是幼稚与迷失方向的表现。

Đọc thêm...

Văn học, nghệ thuật không thể đứng ngoài chính trị

08:33 |
Văn học, nghệ thuật chính thống của một chế độ xã hội bao giờ cũng phục tùng, phục vụ việc xây dựng và củng cố chế độ xã hội ấy. Điều đó đã khẳng định: văn học, nghệ thuật không thể đứng ngoài chính trị, không thể tách khỏi sự lãnh đạo của giai cấp cầm quyền. Đó là quy luật. Ấy vậy mà ở nước ta, một số người, nhóm người vẫn cố tình đi ngược lại quy luật khách quan đó.
Thời gian qua, nhất là những năm gần đây, một số người biến chất hoạt động trên lĩnh vực văn học, nghệ thuật đã lớn tiếng kêu gọi và đòi văn học, nghệ thuật không phụ thuộc vào sự lãnh đạo của Đảng, đứng ngoài chế độ chính trị hiện hành (cho dù chính chế độ này đã mang lại cho họ những giá trị đích thực và họ đã, đang được hưởng). Vì thế, họ ra sức truyền bá các tác phẩm văn học, hội họa, những chương trình ca nhạc, phim ảnh có nội dung chống chế độ xã hội chủ nghĩa, phủ nhận thành quả của cách mạng, phủ nhận chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Họ đề cao, cổ súy một số tác phẩm của những văn nghệ sĩ cực đoan, quá khích. Thậm chí, họ còn cho rằng, những tác phẩm này đã tạo nên “luồng gió mới” trong lĩnh vực báo chí, văn học, nghệ thuật nước ta và đã “tiên phong” thoát ra khỏi sự lãnh đạo của Đảng, thể hiện đúng tinh thần “văn nghệ mở”. Bên cạnh đó, một số kẻ đã cố tình bôi nhọ, đả kích các nhân vật, các nhà phê bình văn học có quan điểm chính thống; xuyên tạc cho rằng họ là những “bồi bút” cho Đảng, “con rối” trên diễn đàn văn chương, v.v. Điển hình trong đó có nhóm tự xưng “Ban vận động Văn đoàn Việt Nam độc lập” và phiến diện cho rằng: văn học, nghệ thuật do Đảng lãnh đạo là thứ văn học, nghệ thuật minh họa nghị quyết, tô hồng thực tế theo chỉ đạo của Đảng. Thật đáng buồn hơn, có nhà văn, nhà thơ trưởng thành trong nền văn chương cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhưng do bị “mắc bệnh nặng” nên đã “mờ mắt”, phủ nhận chính những đứa con tinh thần của mình khi liên tục cho rằng: các tác phẩm văn học viết trong chiến tranh là những kiểu viết minh họa đầy chất “đặt hàng” của Đảng mà không phải viết do cảm xúc, do tình người của nhà văn; do đó, những tác phẩm đó không có giá trị và phải có nhận thức mới để thoát khỏi sự can dự của Đảng(!)
Chắc chắn các “nhà văn nghệ mở” đều đã biết, sự tồn tại của chính trị trong một xã hội thường được thể hiện trên hai phương diện là học thuyết chính trị và nhà nước. Trong đó, học thuyết chính trị giữ vai trò chủ đạo trong ý thức xã hội để giải quyết mối quan hệ giữa các giai cấp, các dân tộc, các tầng lớp trong xã hội và xây dựng nên một nhà nước nhằm tổ chức, quản lý, điều chỉnh và định hướng xã hội phát triển theo lý luận, quan điểm của học thuyết chính trị đó. Như vậy, trong một xã hội, nói đến chính trị là nói đến vai trò chủ đạo cả trong ý thức xã hội lẫn hệ thống thiết chế mang tính chất nhà nước để bảo đảm cho sự hiện thực hóa tư tưởng chính trị. Khi đã hiển nhiên giữ vai trò chủ đạo trong một xã hội, thì chính trị không chỉ ảnh hưởng và tác động tới các hình thái ý thức xã hội khác cùng trong một kiến trúc thượng tầng, mà còn giữ vai trò lãnh đạo và chi phối mọi hoạt động trong lĩnh vực vật chất, tinh thần của xã hội. Bằng cách tiếp cận thực sự khách quan, toàn diện, khoa học, chủ nghĩa Mác – Lê-nin đã chỉ ra, văn học, nghệ thuật là một hình thái ý thức xã hội nhưng là hình thái ý thức xã hội đặc thù; biểu hiện tập trung, đầy đủ, sâu sắc nhất quan hệ thẩm mỹ của con người đối với hiện thực và luôn nhấn mạnh văn học, nghệ thuật phải thấm nhuần tư tưởng cách mạng, có tính giai cấp, tính đảng, tính định hướng, v.v. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Rõ ràng là dân tộc bị áp bức, thì văn nghệ cũng mất tự do. Văn nghệ muốn tự do thì phải tham gia cách mạng”1. Vì vậy, dù có những đặc trưng, đặc thù nào đi chăng nữa thì từ sự nhận thức, phản ánh của mình, văn học, nghệ thuật vẫn phải nhằm mục đích góp phần vào sự nghiệp cách mạng của dân tộc, giải quyết những mâu thuẫn, những yêu cầu đặt ra của thời đại. Ý thức chính trị và ý thức văn học là những người bạn đồng hành trên con đường đi tìm hạnh phúc. Tiếng nói chính trị và tiếng nói nghệ thuật bổ sung cho nhau, làm thăng bằng đời sống tinh thần của xã hội.
Thực hiện sứ mệnh mà dân tộc, nhân dân giao cho, Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo văn học, nghệ thuật nhằm phát huy cao nhất tính “chân, thiện, mỹ” của nó, vì khát vọng cao đẹp của nhân dân và dân tộc ta. Điều đó cũng có nghĩa, Đảng lãnh đạo văn học, nghệ thuật không phải là sự áp đặt, mà trở thành nhu cầu khách quan, không chỉ cho việc thực hiện mục tiêu, lý tưởng của dân tộc, mà còn vì chính sự tồn tại, phát triển của văn học, nghệ thuật; đảm bảo cho “hình thái ý thức xã hội đặc thù” này phát triển đúng hướng, toàn diện, có ích và đáp ứng khát vọng tốt đẹp, phong phú, lành mạnh của nhân dân, của dân tộc. Vì vậy, ngay từ năm 1943, Ðề cương văn hóa - chiến lược đầu tiên về văn hóa (trong đó có văn học, nghệ thuật) của Ðảng đã đặt văn hóa là một cuộc cách mạng được tiến hành đồng thời với cách mạng chính trị và cách mạng kinh tế. Quan điểm đúng đắn đó đã được khẳng định lại trong nhiều nghị quyết của Ðảng. Quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn đề cao văn hóa, coi đó là nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu, là sự bảo đảm cho sự phát triển bền vững: “Không có hình thái tư tưởng nào có thể thay thế được văn học và nghệ thuật trong việc xây dựng tình cảm lành mạnh, tác động sâu sắc vào việc đổi mới nếp nghĩ, nếp sống của con người”2.
Trong quá trình lãnh đạo, Đảng không can thiệp sâu vào những vấn đề cụ thể như cá tính sáng tạo, cảm hứng sáng tác, các tác nghiệp, kỹ năng thực hành văn hóa, v.v. Đảng chủ trương: đổi mới phương thức lãnh đạo đối với văn học, nghệ thuật theo hướng vừa bảo đảm để văn hóa, văn học - nghệ thuật phát triển đúng định hướng chính trị, tư tưởng của Đảng, vừa bảo đảm quyền tự do, dân chủ cá nhân trong sáng tạo trên cơ sở phát huy tính tự giác cao với mục đích đúng đắn. Mới đây, trong bài phát biểu tại Lễ kỷ niệm 70 năm Ngày thành lập Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam (25-7-2018), Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: để tạo điều kiện cho văn học, nghệ thuật phát triển, Đảng và Nhà nước luôn khuyến khích mọi tìm tòi, tôn trọng tự do sáng tạo của người nghệ sĩ, xây dựng cơ chế, chính sách đặc thù đối với văn học, nghệ thuật và văn nghệ sĩ phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Thực tiễn cách mạng Việt Nam đã chứng minh, đường lối văn học, nghệ thuật của Ðảng là một bộ phận trong đường lối phát triển con người, phát triển đất nước, được xây dựng trên những căn cứ khoa học xác đáng, hướng tới những mục tiêu cao đẹp mà văn học, nghệ thuật cũng nhằm hướng tới. Do đó, văn học, nghệ thuật Việt Nam từ khi có Đảng lãnh đạo đã chuyển hóa lập trường cho nhiều trí thức tiểu tư sản sang người trí thức cách mạng giàu lòng yêu nước. Đơn cử như, bài thơ “Từ ấy” của Tố Hữu (năm 1938) đã đánh dấu sự chuyển biến, đi theo lý tưởng cao đẹp, dám sống, dám đấu tranh của giới văn nghệ sĩ lúc bấy giờ. Nhà thơ Chế Lan Viên đã cảm ơn Đảng: Người thay đổi đời tôi, Người thay đổi thơ tôi. Nhà văn Nguyễn Công Hoan cũng đã khẳng định: chính Cách mạng Tháng Tám đã cứu sống đời Ông, giải phóng cho gia đình Ông và giải phóng cho ngòi bút viết tiểu thuyết của Ông, v.v. Trong giai đoạn cách mạng từ 1930 - 1945, văn học, nghệ thuật đã có vai trò quan trọng trong vận động cách mạng, cổ vũ đồng bào cả nước làm nên thắng lợi lịch sử Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, các tên tuổi, như: Nguyễn Đình Thi, Phạm Tiến Duật, Xuân Hồng, Phạm Tuyên,… và cả những người đã anh dũng ngã xuống, như: Nguyễn Thi, Lê Anh Xuân,… đã vừa cầm súng, vừa cầm bút; vừa chiến đấu, vừa sáng tác, góp phần làm nên hình ảnh cao đẹp, đáng tự hào - “Người nghệ sĩ - chiến sĩ”. Họ đã có những tác phẩm đạt tới tầm cao về tư tưởng, văn học, nghệ thuật; tạo ra những hình tượng đậm chất lý tưởng, thực sự mang tầm văn hóa lớn trong đấu tranh cách mạng, hướng bạn đọc đi đến những cái cao thượng, anh hùng, v.v. Từ khi đất nước thống nhất, đặc biệt trong sự nghiệp đổi mới, văn học, nghệ thuật tiếp tục đạt được những thành tựu đáng trân trọng; đại đa số các văn nghệ sĩ phát huy trách nhiệm công dân, trách nhiệm nghệ sĩ - chiến sĩ, sáng tác ra nhiều tác phẩm có giá trị về tư tưởng và nghệ thuật, góp phần thúc đẩy phát triển văn hóa nước nhà, xứng đáng đại diện cho “những giá trị bền vững, những tinh hoa của cộng đồng”3.
Thực tế là vậy! Thử hỏi các “nhà văn nghệ mở”, các ngòi bút “tiên phong” rằng, đó có phải là bóp nghẹt tự do, dân chủ, áp đặt tư tưởng, quan điểm trong sáng tạo văn học, nghệ thuật; hay trấn áp những văn nghệ sĩ, đấu tranh cho tự do tư tưởng, tự do sáng tạo không? Và, nếu các tác phẩm được viết theo kiểu “minh họa”, hay viết theo “đặt hàng mà không phải do cảm xúc” thì liệu có đạt tới tầm cao về tư tưởng, văn học, nghệ thuật như vậy không? Phải chăng, từ ý thức chính trị kết hợp với tài năng và tấm lòng trong sáng đã đem tới các thế hệ văn nghệ sĩ cách mạng Việt Nam ý chí, tình yêu vô bờ bến với sự nghiệp chính nghĩa của dân tộc. Từ ý thức đó, các văn nghệ sĩ được tự do sáng tác và vững bước cùng dân tộc, góp phần cùng dân tộc làm nên những kỳ tích mà lịch sử sẽ còn lưu giữ mãi.
Thời gian qua, chúng ta đã cấm phát hành và quyết định thu hồi một số tác phẩm, ấn phẩm văn học đã phát hành là do vi phạm Luật Xuất bản; thậm chí có tác phẩm có những quan điểm, nhận định, đánh giá thiếu căn cứ khoa học, mơ hồ về chính trị, như: cuốn “Bước thịnh suy của các triều đại phong kiến Trung Quốc” có nội dung xuyên tạc lịch sử về chủ quyền Biển Đông của Việt Nam; cuốn sách dịch “Đường về nô lệ” có nội dung đánh đồng chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô với chủ nghĩa phát-xít; cuốn sách “Gạc Ma - Vòng tròn bất tử” có nguồn thông tin tư liệu sai lệch, tuyên truyền chủ nghĩa xét lại một cách cực đoan, kích động thù hằn dân tộc, tạo tâm lý oán trách, v.v. Việc làm đó là hoàn toàn chính xác, đúng đắn để tạo điều kiện cho nền văn học, nghệ thuật chân chính phát triển, góp phần tích cực vào xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta, dân tộc ta đã lựa chọn, chứ không như một số người rêu rao là: trừng trị, triệt tiêu những đóng góp của giới tinh hoa, trí thức! Có chăng, đó chỉ là việc làm ngăn chặn những tác phẩm bôi đen, trút bức xúc và hằn học cá nhân, lấy cái tôi để làm thước đo phẩm chất cộng đồng,…; những tác phẩm đó bao giờ cũng mang tới sự “phản giá trị” đối với tác phẩm và chính chủ nhân của nó. Đó là sự thật không thể chối cãi được. Cho nên, khi người ta đòi hỏi tách văn học, nghệ thuật khỏi chính trị, nếu đó không nhằm tiếp tay, thực hiện ý đồ đen tối cho các thế lực phản động, thì cũng là biểu hiện của sự ấu trĩ, mất phương hướng trong nhận thức mà thôi.

Đọc thêm...

Hot (焦点)