2000多年前的越南东山铜鼓在马来西亚发现

18:25 |
马来西亚科学家认为,在马来西亚半岛发现的8面东山铜鼓留存在该国的时间约为公元前500年至公元500年间。
苏丹依德里斯教育大学(UPSI)科学社会人文历史系教师阿德南·朱索(Adnan Jusoh)博士在4月9日召开的考古学讲座上发表讲话时表示,在马来西亚半岛发现的8面东山铜鼓留存在该国的时间约为公元前500年至公元500年间。关于铜鼓留存在该国的起源时间是他自2002年起开始对铜鼓上的图案进行研究所得出的结果。阿德南·朱索还认为,鼓面和铜鼓周围的图案与当时社区的社会文化体系具有密切的联系。
第一面东山铜鼓于1926年在马来西亚彭亨州(Pa-hang)淡美岭河(Sungai Tembeling)首次出土。其他4面铜鼓在雪兰莪州发现,其余3面在登嘉楼州发现。
据悉,东山铜鼓来源于越南,是东山文化(公元前700年 - 100年)和雄王朝建立文朗国时期的越南古代人红河文明的典型鼓。东山铜鼓已成为越南民族文化的神圣象征。

Đọc thêm...

Trống đồng Đông Sơn được phát hiện tại Malaysia hơn 2.000 năm tuổi

16:24 |
Các nhà khoa học Malaysia nhận định 8 chiếc trống đồng Đông Sơn, được phát hiện tại một số địa điểm quanh bán đảo Malaysia, đã lưu lại tại nước này trong thời gian giao thương từ năm 500 trước Công nguyên đến năm 500 sau Công nguyên.
Phát biểu ngày 9/4 tại buổi tọa đàm về khảo cổ học, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Adnan Jusoh, giảng viên Khoa Khoa học-xã hội và nhân văn, lịch sử của Đại học Pendidikan Sultan Idris, cho biết ước tính trên được đưa ra dựa trên nghiên cứu ông bắt đầu thực hiện vào năm 2002 thông qua phân tích các họa tiết trên trống. Theo Tiến sỹ Adnan Jusoh, nhiều họa tiết trang trí khác nhau trên mặt trống và xung quanh chiếc trống được cho là có liên quan đến hệ thống văn hóa-xã hội của cộng đồng thời điểm đó.
Chiếc trống đồng Đông Sơn được phát hiện đầu tiên ở Sungai Tembeling, bang Pahang vào năm 1926. Sau đó, 4 chiếc khác được tìm thấy ở bang Selangor, trong khi 3 chiếc còn lại được phát hiện ở bang Terengganu.
Trống đồng Đông Sơn, có nguồn gốc từ Việt Nam, là loại trống tiêu biểu cho Văn hóa Đông Sơn (năm 700 trước Công nguyên - 100) và nền văn minh sông Hồng của người Việt cổ thời kỳ Hùng Vương dựng nước Văn Lang. Trống đồng đã trở thành biểu tượng thiêng liêng của văn hóa dân tộc Việt Nam./.

Đọc thêm...

海上丝绸之路,中国“掌控”东海之阴谋

08:03 |
中国的一带一路倡议由中共总书记、国家主席习近平2013年提出,逐步展开至今已形成隐藏巨大贪婪欲望的国家战略。连接“丝绸之路经济带”和“二十一世纪海上丝路”周边国家除了实现“中国梦”与经济合作之外,还暗藏为中国扩展生存空间的欲望。特别是“二十一世纪海上丝绸之路”旨在扩展中国的海洋生存空间,特别是东海空间。
我们按他们的思路看看“海上丝绸之路”是怎样形成的。它始于(福建)泉州,经过(广东)广州、(广西)北海和海南,横穿东海沿岸国家后直奔马六甲海湾。其中一段以马来西亚的吉隆坡为出发点与“海上丝绸之路”沿线的马六甲湾连接后驶向印度的加尔各答,环绕印度洋驶向东非肯尼亚的内罗毕,继之北进经非洲好望角。还有一段与波斯湾连接,从非洲前往红海进入地中海,在与陆地丝绸之路的意大利威尼斯衔接前在希腊雅典有一个停泊站。海路与陆路纵横交错形成连接亚、欧、非三大陆的网络。按中国的说法,一带一路是为了改善各国之间的贸易往来。习近平主席许诺,中国将投资促进海洋合作伙伴共建“二十一世纪丝绸之路”的努力。 不过,分析家、政策制定者和国际舆论认为,一带一路的背后隐藏着中国十分精明的地缘政治、地缘战略欲望。具体是:
政治、经济层面,新的丝绸之路,其重要组成部分是“二十一世纪海上丝绸之路”是对以美国为首的没有中国一席之地的跨太平洋伙伴关系协定的抗衡, 该协定后来改称没有美国参加的跨太平洋伙伴全面进步协定。同亚投行、亚太自由贸易区一道,中国以新丝绸之路项目挑战跨太平洋伙伴全面进步协定成员国,并认为这些项目比亚太自由贸易区更为重要,因为新丝绸之路的规模和欲望与跨太平洋伙伴全面进步协定不相上下。
中国通过渲染区域经济和基础设施连接的构想来释放政治“烟幕弹”,把国际舆论引向“虚虚实实”的新主题上来,企图掩盖他近来竞争亚太霸主地位、与周边国家争夺领土的强硬作为。同时掀起了舆论与研究界对一个还没有结局、让许多国家对它的贪婪欲望和后果无不迷惑的项目展开激烈争论的浪潮:是否加入这个亚洲大国世纪规模的项目。
新丝绸之路,特别是“二十一世纪海上丝绸之路”是中国经过调整而推行睦邻外交政策的工具,旨在形成海上新秩序,驱使各国、首先是沿海邻邦走上中国支配的轨道。新加坡学界认为,新丝绸之路倡议若获得成功将成为经过改进的中国古代重整世界秩序的翻版,即世界上所有知晓的区域-地极都要围着中国这个中心旋转。这个世界新秩序不是理论上的,它具有重要的地缘政治含义。
新丝绸之路旨在保障中国进口原材料、主要是油气的运输走廊。“陆地丝绸之路”基本上与中亚国家和俄罗斯通向中国的跨境油气管道相吻合。“二十一世纪海上丝绸之路”几乎与海上“珍珠链”和非洲-中国海上原材料、油气运输线同行。不仅如此,它还是中国出现在印度洋的借口,这是中国一直梦寐以求而未能如愿以偿的苦衷。以同丝绸之路沿途国家搞经济合作和维护海上通道为理由,中国在印度洋的存在,包括军事存在才不会遭到反对。至今,通过中国与印度洋沿岸国家的商业往来和贸易协定第一个目的已经实现。至于第二个目的,中国正在大肆喧嚷印度洋的安全和从霍尔木兹海峡到马六甲海峡的海上通道安全对中国的安全极为重要。不远的将来中国人将在那里出现。      
军事、安全层面,从全球考虑,中国确立丝绸之路意在实现一些重要的地缘战略欲望。第一、这是中国与美国“亚太再平衡战略”抗衡的战略措施,它使中国得以均衡美国在区域和全球的力量。第二、丝绸之路的政治地缘战略目标是统一亚洲和欧洲市场,在未来将欧洲“拉出”美国的政治圈。这是引导欧洲走上政治独立革新之路。第三、尽管丝绸之路的经济带现在还只是概念,其各项目标与具体步骤未成为行动计划,但中国融入中亚区域的计划已引起俄罗斯的担忧。俄罗斯人担心这项计划将给亚欧经济联盟带来麻烦。丝绸之路沿途的项目凸显了中国最新外交政策的贪婪欲望。一些贪婪欲望警示俄罗斯的安全利益(可能遭到中国的侵蚀),俄罗斯可能失去他对南部边界区域的影响。第四、印度专家认为,丝绸之路就像中国设法在南亚国家串起来的钳制新德里影响的“珍珠项链”。
从区域考虑,丝绸之路,特别是海上丝绸之路有助于中国实现地缘政治盘算和欲望。第一,企图将美国和西方国家挤出该区域,导致大国、特别是中国与美国之间夺取对该区域的影响力竞争日益激烈和复杂化。第二,中国将制定迫使区域内各国服从的新规则, 甚至无视国际法独断专行,威胁邻邦、特别是与中国在东海有海岛主权争端国家的安全和领土主权,同时威胁海洋自由安全航海与航空。第三,通过这条路中国逐步合理化“九断线”进而实现“独吞”东海阴谋。
对于越南来说,中国的“二十一世纪海上丝绸之路”似乎给越南带来一些经济利益,在越南与中国像划分北部湾那样完成东海海洋主权划分的场合下,这个利益可能是巨大的。但在上述问题未能解决的场合下则是对越南海岛主权的巨大挑战。中国一直喧嚷其很久远的“海上丝绸之路”,郑和的货船早在600年前就行驶在这条航线上,企图依此对越南的黄沙群岛和长沙群岛提出主权声索。中国展开“海上丝绸之路”还为中国在东海的实际存在辩护,在与相关国家进行经济合作时加进战术意图:一是,在与他国签署国家文件、协定和条约时强制他们承认“海上丝绸之路”并在国际组织和国际论坛备案,隐藏其后的是将“九断线”合理化。在“九断线”范围内展开被包装成区域经济合作的民事活动,(把中国在东海的存在)变成“既成事实”,逐步实现对整个东海的所有权和管辖权。第三,对批判(中国东海活动)的言论加以猛烈反扑和宣传,继续挑战国际社会的忍耐力。
可想而知,如果只有越南避开中国的上述战术意图,去区内其他国家没有意识到或为了私利而陷进去的话,中国就更接近“掌控”东海的意图了。换句话说,“二十一世纪海上丝绸之路”是中国布下的圈套,等各国掉进去后中国就能“活吞”东海了。包括越南在内的区域内各国不能轻视中国这一阴险和出尔反尔的诡计。

Đọc thêm...

Con đường tơ lụa trên biển - ý đồ “thâu tóm” Biển Đông của TQ

08:02 |
Sáng kiến “Vành đai, con đường” của Trung Quốc được đích thân Tổng Bí thư, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình khởi xướng năm 2013, đến nay đang từng bước được triển khai và định hình thành chiến lược quốc gia, chứa đựng trong nó những tham vọng cực kỳ to lớn. Ngoài tham vọng liên kết, hợp tác kinh tế với các nước xung quanh nơi “Vành đai kinh tế con đường tơ lụa” và “Con đường tơ lụa trên biển thế kỷ 21” đi qua, phục vụ cho việc hoàn thành “Giấc mộng Trung Hoa”, còn có tham vọng giúp cho Trung Quốc giải quyết cái gọi là “mở rộng không gian sinh tồn”. Đặc biệt trong đó, “Con đường tơ lụa trên biển thế kỷ 21” sẽ giúp Trung Quốc “mở rộng không gian sinh tồn” trên hướng biển mà trước hết là Biển Đông.
Hãy xem “Con đường tơ lụa trên biển” của Trung Quốc sẽ hình thành như thế nào theo ý tưởng của họ. Nó bắt đầu từ Tuyền Châu (tỉnh Phúc Kiến) chạy qua Quảng Châu (tỉnh Quảng Đông), Bắc Hải (tỉnh Quảng Tây) và Hải Nam, đi ngang qua các nước ven Biển Đông, hướng tới eo biển Malacca. Có một đoạn xuất phát từ Kuala Lumpur của Malaysia nối với “Con đường tơ lụa trên biển” tại eo Malacca, rồi tiến sang Kolkata của Ấn Độ, vòng quanh Ấn Độ Dương sang Đông Phi tới Nairobi thuộc Kenya, tiếp đó tiến lên phía Bắc qua vùng Sừng châu Phi, có đoạn nối với Vịnh Ba Tư, từ châu Phi qua Biển Đỏ vào Địa Trung Hải, từ đó có một chặng dừng tại Athen của Hy Lạp trước khi gặp con đường tơ lụa trên đất liền ở Venice thuộc Italia. Con đường trên biển và trên bộ đan nhau nối thành mạng lưới liên kết 3 châu lục Á - Âu - Phi. Theo Trung Quốc, con đường trên được xây dựng nhằm cải thiện giao thương và trao đổi hàng hóa giữa các quốc gia. Chủ tịch Tập Cận Bình còn hứa rằng, Trung Quốc sẽ đầu tư thích đáng để thúc đẩy mạnh mẽ các quan hệ đối tác biển trong một nỗ lực chung nhằm xây dựng “con đường tơ lụa trên biển thế kỷ 21”. Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu, giới hoạch định chính sách và dư luận quốc tế đều cho rằng, đằng sau kế hoạch xây dựng và thực hiện con đường này là những tham vọng địa chính trị, địa chiến lược vô cùng khôn ngoan của Trung Quốc, thể hiện qua những yếu tố sau:
Về chính trị, kinh tế: Con đường tơ lụa mới, với cấu phần quan trọng là “con đường tơ lụa trên biển thế kỷ 21” sẽ là đối trọng với Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) do Mỹ khởi xướng và đứng đầu, không có sự tham gia của Trung Quốc. Mặc dù sau này, Hiệp định trên đã được đổi tên thành Hiệp định Đối tác toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) và không có Mỹ tham gia. Cùng với Ngân hàng Đầu tư cơ sở hạ tầng châu Á (AIIB), Khu vực Thương mại tự do châu Á - Thái Bình Dương (FTAAP), Trung Quốc đã thách thức lại các nước tham gia CPTPP bằng các dự án con đường tơ lụa mới và coi dự án này còn quan trọng hơn cả FTAAP bởi quy mô và tham vọng của con đường tơ lụa mới tương đương với CPTPP
Bằng việc quảng cáo cho ý tưởng kết nối kinh tế và cơ sở hạ tầng kinh tế liên khu vực, Trung Quốc đã tung “hỏa mù” về chính trị, hướng dư luận quốc tế vào một chủ đề mới “vừa thực vừa hư” để lãng quên những hành động cứng rắn gần đây, cạnh tranh vai trò làm chủ châu Á - Thái Bình Dương và tranh giành lãnh thổ với các nước láng giềng xung quanh của họ. Đồng thời, nó cũng làm dấy lên một “đợt sóng” mới trong dư luận và giới nghiên cứu tranh cãi về một dự án chưa có hồi kết, những tham vọng và hệ lụy của nó làm nhiều nước phải băn khoăn: Tham gia hay không tham gia dự án mang tầm thế kỷ của cường quốc châu Á này.
Con đường tơ lụa mới, đặc biệt là “Con đường tơ lụa trên biển thế kỷ 21” là công cụ thực thi chính sách ngoại giao láng giềng đã điều chỉnh của Trung Quốc, nhằm tạo ra một trật tự mới trên biển khiến các nước, trước hết là các nước láng giềng ven biển đi theo một quỹ đạo do Trung Quốc điều hành và chi phối. Giới học giả nghiên cứu Singapore nhận định, nếu thành công, sáng kiến con đường tơ lụa mới sẽ đánh dấu một bước tiến lớn trong việc lập lại trật tự thế giới theo kiểu Trung Quốc thời cổ đại được cải tiến (người Trung Quốc gọi là “thiên hạ”), một trật tự mà trong đó tất cả mọi khu vực được biết đến trên thế giới này được coi như là các cực đều phải xoay quanh một trung tâm là Trung Hoa. Trật tự thế giới mới này sẽ không chỉ đơn giản tồn tại trên lý thuyết mà còn đem lại những hàm ý địa chính trị quan trọng.
Con đường tơ lụa mới được thiết kế nhằm bảo đảm hành lang vận chuyển, nhập khẩu nguồn nguyên, nhiên, vật liệu, trong đó chủ yếu là dầu khí cho nền kinh tế Trung Quốc. Trên thực tế, “Con đường tơ lụa trên bộ” gần trùng khớp với các tuyến đường ống dẫn dầu xuyên quốc gia từ các nước Trung Á (Liên Xô cũ) và Nga về Trung Quốc. Còn “Con đường tơ lụa trên biển thế kỷ 21” hầu như trùng với “chuỗi ngọc trai” trên biển cũng như các tuyến hàng hải vận chuyển dầu khí, hàng hóa từ châu Phi về Trung Quốc. Không những thế, nó còn giúp Trung Quốc có lý do, mục đích để vươn ra hiện diện tại Ấn Độ Dương, nơi bấy lâu nay Trung Quốc mơ ước có mặt hợp pháp mà chưa thực hiện được. Bởi chỉ có lý do vì kết nối lợi ích kinh tế với các nước nơi con đường tơ lụa đi qua và bảo đảm an ninh của các tuyến đường biển, Trung Quốc sẽ không bị ai phản đối khi hiện diện, kể cả hiện diện quân sự tại Ấn Độ Dương. Tới nay, mục đích đầu tiên đã đạt được thông qua các hiệp định và quan hệ tương tác thương mại với các quốc gia ven Ấn Độ Dương. Còn mục đích thứ hai, Ấn Độ Dương và an ninh của các tuyến đường biển từ eo biển Hormuz đến eo biển Malacca đang được Trung Quốc tuyên truyền và nhấn mạnh về vai trò quan trọng đối với an ninh Trung Quốc. Một ngày không xa, người Trung Quốc sẽ có mặt.
Về quân sự, an ninh: Xét trên bình diện toàn cầu, với việc xây dựng con đường tơ lụa, Trung Quốc muốn đạt được một số tham vọng địa chiến lược quan trọng. Một là, đây là giải pháp chiến lược nhằm đối trọng với chiến lược tái cân bằng sang châu Á - Thái Bình Dương của Mỹ, giúp Trung Quốc cân bằng lực lượng với Mỹ tại khu vực và trên toàn thế giới. Hai là, mục tiêu địa chính trị chiến lược của con đường tơ lụa là thống nhất các thị trường châu Á và châu Âu, và trong tương lai sẽ có thể “kéo” châu Âu ra khỏi sự phụ thuộc chính trị vào Mỹ. Đó là con đường hướng lái châu Âu tới đổi mới độc lập về chính trị. Ba là, mặc dù, tại thời điểm này, vành đai kinh tế của các con đường tơ lụa mới chỉ là khái niệm, chứ chưa phải là một kế hoạch hành động với các mục tiêu và lộ trình cụ thể nhưng kế hoạch hội nhập của Trung Quốc với khu vực Trung Á đang làm nước Nga lo ngại. Người Nga sợ rằng kế hoạch này sẽ gây phiền toái cho liên minh kinh tế Á - Âu. Những dự án nằm trên các con đường tơ lụa đang biểu hiện cho những tham vọng trong chính sách đối ngoại mới nhất của Trung Quốc. Một số tham vọng này cảnh báo về các lợi ích an ninh của Nga và có thể Nga sẽ bị mất khu vực ảnh hưởng của mình tại biên giới phía Nam. Bốn là, theo các chuyên gia Ấn Độ, các con đường tơ lụa giống như một dạng “chuỗi ngọc trai” mà Trung Quốc tìm cách thiết lập xung quanh các quốc gia Nam Á để kiềm chế ảnh hưởng của New Delhi.
Xét trên bình diện khu vực, con đường tơ lụa, đặc biệt là nhánh trên biển, giúp Trung Quốc thực hiện nhiều tham vọng tính toán về địa chính trị. Đó là: Thứ nhất, nhằm đẩy Mỹ và các nước phương Tây ra khỏi khu vực, làm cho cuộc cạnh tranh, tranh giành ảnh hưởng ở khu vực giữa các nước lớn, nhất là giữa Mỹ và Trung Quốc ngày càng gay gắt, phức tạp. Thứ hai, Trung Quốc sẽ tự đặt ra những luật lệ mới ép buộc các nước khác trong khu vực phải tuân thủ. Kể cả việc Trung Quốc sẽ hành động đơn phương, bỏ qua luật pháp quốc tế, đe dọa về an ninh và chủ quyền lãnh thổ đối với các nước láng giềng, nhất là các nước có tranh chấp về chủ quyền biển, đảo với Trung Quốc ở Biển Đông và đồng thời đe dọa về tự do, an ninh, an toàn hàng không, hàng hải trên biển. Thứ ba, thông qua con đường này, Trung Quốc từng bước hợp lý hóa “đường lưỡi bò” và tiến tới hoàn thành âm mưu “độc chiếm” Biển Đông.
Đối với Việt Nam, “Con đường tơ lụa trên biển thế kỷ 21” của Trung Quốc có vẻ mang lại cho Việt Nam một số lợi ích kinh tế, có thể là to lớn, trong trường hợp giữa Việt Nam và Trung Quốc đã hoàn thành giải quyết phân định chủ quyền biển, đảo trên Biển Đông với nhau, tương tự như phân chia Vịnh Bắc Bộ. Nhưng trong trường hợp vấn đề trên chưa được giải quyết thì nó lại là thách thức không nhỏ đối với chủ quyền biển, đảo của Việt Nam. Vì Trung Quốc lâu nay vẫn đưa ra lập luận rằng họ đã có “con đường tơ lụa trên biển” từ xa xưa với bằng chứng là những con tàu chở hàng hóa của đô đốc Trịnh Hòa từng đi trên con đường này cách đây trên 600 năm, hòng dựa vào đó để đưa ra đòi hỏi về chủ quyền có liên quan đến quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa của Việt Nam. Việc triển khai thực hiện “Con đường tơ lụa trên biển” còn nhằm củng cố cho sự hiện diện trên thực tế của Trung Quốc ở Biển Đông và khi hợp tác với các nước liên quan trong kết nối kinh tế, sẽ gắn vào đó các ý đồ chiến thuật: Một là, ràng buộc các nước về sự thừa nhận “Con đường tơ lụa trên biển” trong các văn bản quốc gia và hiệp định, hiệp ước, thỏa thuận với các nước, qua đó tranh thủ đăng ký tại các tổ chức và diễn đàn quốc tế, nhưng ẩn sau đó là ý đồ hợp lý hóa “đường lưỡi bò”. Hai là, triển khai các hoạt động dân sự trên biển trong phạm vi theo “đường lưỡi bò” dưới vỏ bọc liên kết, kết nối kinh tế khu vực để “tạo sự đã rồi”, dần áp đặt quyền sở hữu và quản lý toàn bộ Biển Đông. Ba là, tuyên truyền phản ứng mạnh mẽ đối với các phát biểu phê phán và kiên trì thử thách sự chịu đựng của cộng đồng quốc tế.
Có thể hiểu, nếu chỉ có một mình Việt Nam tránh được những ý đồ chiến thuật trên của Trung Quốc, nhưng các nước còn lại khác trong khu vực không nhận thấy, vì lợi ích riêng mà sa vào thì Trung Quốc sẽ tiến gần hơn được ý đồ “thâu tóm” Biển Đông. Nói cách khác, “Con đường tơ lụa trên biển thế kỷ 21” chính là “chiếc bẫy” mà Trung Quốc giương ra hòng đưa các nước vào tròng nhằm “xơi tái” Biển Đông. Các nước trong khu vực, trong đó có Việt Nam không thể xem nhẹ mưu lược thâm sâu, lắt léo này của Trung Quốc.

Đọc thêm...

雄王祭祀信仰凝聚越南民族

22:54 |
(VOVWORLD) - 对越南民族来说,雄王祭祀信仰历史悠久且成为了一种特色文化。在越南人的观念中,历代雄王立国有功,具体是建立了以“文郎”为国名的越南第一个国家并成为了越南民族的共同祖先。因此,雄王祭祀信仰在越南人民心灵生活中占有重要地位,成为团结历代越南人的“粘黏剂”。
联合国教科文组织下属《保护非物质文化遗产公约》政府间委员会2012年12月6日举行的第七次会议,正式将越南富寿省雄王祭祀信仰列入人类非物质文化遗产代表作名录。雄王祭祀仪式规程详细、严格,充分体现历代王朝和人民对祖先的尊敬。
凝聚越南民族的雄王祭祀信仰
在越南人的心灵生活和情感中,雄王祭祀信仰占有重要地位。雄王祭祀信仰既神圣,又具体,也是凝聚全民族团结力量,鼓舞越南人民携手建国卫国的精神依靠。越南儿女为自己的“雒鸿血脉”而倍感自豪。
越南国家文化遗产委员会委员吴德盛教授、博士表示,越南人的雄王祭祀信仰代代相传,永不中断,有助于凝聚越南民族的灵魂、情感和意志。他说: “阐释雄王祭祀信仰最大的价值,首先要说的是根源。雄王祭祀信仰的根源是越南人的‘饮水思源’意识,家族祭祀祖先意识与整个封建国家在‘北属时期’后对一个共同精神依靠的需求之间的结合体。这也形成了联合国教科文组织高度评价的结合体。那就是‘祭祖日’这个朴素的名称,与普通百姓日常生活中常说的父母忌日类似。祭祖日是非常亲切的概念,也正因如此,祭祖日具有顽强的生命力。”
越南人瞻拜、感恩祖先的心成为了越南极具特色的虔灵文化遗产,同时具备显著的人类代表性。吴德盛表示,联合国教科文组织在将越南富寿省雄王祭祀信仰列入人类非物质文化遗产代表作名录时对其给予的认可再次肯定了越南人的民族自豪感及社会凝聚力。
他说: “这是越南人的心灵汇聚点,把越南人推向共同根源,塑造整个民族的亲密团结。越南历史上,上述团结和凝聚一直是越南民族的力量。现在和未来,越南民族发展经济、捍卫祖国领土完整等工作都需要这一力量。”
保护并发扬雄王祭祀信仰,保护越南文化特色
数千年前,越南人就已经在富寿省越池市义岭山顶上建庙祭祀历代雄王。此外,富寿省乃至全国其他省市也有多处寺庙祭祀历代雄王,其夫人、子女及雄王时期将领等。旅居世界任何一个国家的越南人一向心系祖国家乡,都自豪地向国际友人介绍自己的越南根源。很多旅居国外越南人已经回到雄王庙国家特殊历史遗迹区恭请这里的水和土,带到他们生活的地方修建雄王庙祭祀雄王。
已故文化研究专家阮克昌曾表示: “雄王传说是越南民族的心灵依靠。越南民族自古以来都意识到回到富寿省义岭山就是回到祖先之地。”
历经沧桑,雄王祭祀信仰一直得到历代人民依托整个民族、整个国家的意志和精神传承并发扬。每年,雄王祭祖日都隆重、诚敬举行。
富寿省民间文艺协会主席范伯谦表示,在雄王庙举行雄王祭祖日是全国人民赋予富寿省人民的重任。
他说: “并不是联合国教科文组织承认雄王祭祀信仰为人类非物质文化遗产代表作之后,我们才保护、发扬其价值的,而是数千年来,越南人民一直在这么做。联合国教科文组织的承认只是再次强调,越南民族有共同根源。我们作为子孙后代有责任保护并发扬这一遗产价值。”
雄王祭祀信仰体现了越南民族的饮水思源观,具有世界独一无二的独特、生动的意义。

Đọc thêm...

Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương gắn kết dân tộc Việt Nam

22:52 |
(VOV5) - Niềm tin trong chiêm bái, tri ân Tổ tiên của người Việt Nam đã trở thành một di sản văn hóa tâm linh độc đáo, đặc sắc Việt Nam, đồng thời mang tính đại diện nhân loại rõ rệt.
Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương đã có từ xa xưa và trở thành bản sắc văn hóa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Trong tâm thức của người dân Việt Nam, các đời vua Hùng đã có công dựng nên Nhà nước đầu tiên với tên gọi Văn Lang và là nguồn gốc tổ tiên chung của cả dân tộc. Vì lẽ đó, tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương có một vị trí rất quan trọng trong đời sống tâm linh và là “chất keo” gắn kết các thế hệ người dân Việt.
Kỳ họp lần thứ 7 của Ủy ban liên chính phủ về bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể  ngày 6/12/2012, UNESCO đã công nhận “Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở tỉnh Phú Thọ” là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Nghi lễ Giỗ Tổ Hùng Vương từ bao đời nay được quy định cụ thể, chặt chẽ thể hiện sự tôn kính của của các triều đại và nhân dân đối với Tổ tiên.
Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương – Gắn kết dân tộc Việt
Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương có một vị trí rất quan trọng trong đời sống tâm linh và tình cảm của các thế hệ người dân Việt Nam, vừa thiêng liêng, vừa cụ thể vừa là điểm tựa tinh thần, tạo nên sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc cùng nhau dựng nước và giữ nước. Mọi người dân Việt Nam đều tự hào mang trong mình dòng máu “con Lạc, cháu Hồng”. Giáo sư - Tiến sĩ Ngô Đức Thịnh, Ủy viên Hội đồng Di sản văn hóa quốc gia, khẳng định: Tín ngưỡng thờ cúng các Vua Hùng được nhân dân Việt Nam bền bỉ trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, góp phần hun đúc tâm hồn, tình cảm và ý chí của dân tộc Việt Nam: “Muốn nói giá trị lớn nhất của nó phải nói đến tại sao lại có Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương. Là do sự kết hợp tâm thức uống nước nhớ nguồn, tâm thức của người dân thờ cúng tổ tiên ở các gia tộc, dòng họ, kết hợp với nhu cầu của 1 quốc gia phong kiến sau thời kỳ Bắc thuộc, cần có điểm tựa về tinh thần. Và nó cũng tạo nên sự kết hợp mà Unesco đánh giá rất cao, đó là sự dân dã ở ngay tên gọi là Giỗ Tổ - giống như chúng ta đang nói là hôm nay giỗ cha, giỗ mẹ chúng ta. Giỗ Tổ là cái gì đó rất thân thiết và vì thế nó có sức sống”.
Niềm tin trong chiêm bái, tri ân Tổ tiên của người Việt Nam đã trở thành một di sản văn hóa tâm linh độc đáo, đặc sắc Việt Nam, đồng thời mang tính đại diện nhân loại rõ rệt. Giáo sư - Tiến sĩ Ngô Đức Thịnh cho rằng: Sự tôn vinh của của UNESCO khi công nhận “Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương” là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại như một sự khẳng định về lòng tự hào và gắn kết cộng đồng của dân tộc Việt Nam: “Đấy là điểm qui tụ tâm linh của người Việt, hướng người Việt về nguồn gốc chung, để tạo nên sự đoàn kết, một sự gắn bó của dân tộc. Trong suốt lịch sử VN, sự gắn bó, đoàn kết đó, sự qui tụ đó luôn luôn là sức mạnh. Trong hiện tại và tương lai thì vận mệnh của dân tộc Việt Nam trong phát triển kinh tế, cũng như sự bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ, càng cần đến sức mạnh sự qui tụ đó”.
Gìn giữ, phát huy “Tín ngưỡng thờ cúng vua Hùng”
Từ hàng ngàn năm qua, người Việt đã lập đền thờ và thờ cúng các Vua Hùng tại núi Nghĩa Lĩnh, xã Hy Cương, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ. Ngoài ra, còn có rất nhiều đình, đền, miếu… thờ cúng Hùng Vương, vợ con và các tướng lĩnh thời các Vua Hùng ở Phú Thọ và nhiều tỉnh thành trong cả nước. Dù ở bất cứ nơi đâu trên thế giới, người Việt luôn nhớ về cội nguồn, cùng hướng về Tổ quốc, đồng thời luôn khẳng định với bạn bè quốc tế về nguồn gốc của mình ở đất nước Việt Nam. Nhiều cộng đồng người Việt Nam sinh sống ở nước ngoài đã về Đền Hùng xin đất, nước, chân nhang tại Khu di tích lịch sử Đền Hùng để mang về lập đền thờ các Vua Hùng tại nơi mình sinh sống. Nhà Nghiên cứu văn hóa Nguyễn Khắc Xương cho rằng: “Khi nói tới truyền thuyết Hùng Vương thì nó mang ý nghĩa là điểm tựa tâm linh dân tộc. Vì nó nói lên điều tất cả dân tộc Việt Nam chúng ta từ trước đến giờ vẫn cảm nhận thấy đến với tỉnh Phú Thọ, đến với núi Nghĩa Lĩnh là về với đất Tổ”.
Trải qua bao thăng trầm của lịch sử, Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương vẫn luôn được duy trì và phát huy từ thế hệ này sang thế hệ khác bởi ý chí, tinh thần của cả quốc gia, dân tộc. Hàng năm, giỗ Tổ Hùng Vương đều được tổ chức với nghi lễ trang trọng, thành kính. Ông Phạm Bá Khiêm, Chủ tịch Hội Văn nghệ dân gian tỉnh Phú Thọ, cho biết: Nhân dân Phú Thọ được giao trọng trách là giữ gìn, tôn tạo và tổ chức Giỗ tổ Hùng Vương tại Khu di tích Đền Hùng: “Không phải từ khi UNESCO công nhận “Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương” thì chúng ta mới bảo tồn và phát huy các giá trị, mà việc này đã được làm từ hàng ngàn năm qua. Việc UNESCO vinh danh chỉ khẳng định vững chắc về dân tộc Việt Nam có cội nguồn. Chúng ta là những thế hệ sau phải có trách nhiệm bảo tồn và phát huy giá trị di sản đó”.
 “Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương” là đạo lý “uống nước nhớ nguồn” của dân tộc Việt Nam, có ý nghĩa độc đáo , sống động mà không một dân tộc nào trên thế giới có được.

Đọc thêm...

在风尖浪头建起“篱笆”

20:49 |
(一)西南地区海洋和岛屿的潜力和优势
西南地区海域面积约30万平方公里以上,分别与柬埔寨、泰国、马来西亚、印尼等国家接壤,岛屿数量近200个。有些大岛,如富国岛、水獭岛(Hòn Rái)、 竹岛(Hòn Tre)、土珠岛(Thổ Chu)、 南游岛(Nam Du)、香蕉岛(Hòn Chuối)、薯岛(Hòn Khoai)等等。其中,富国岛总面积为589.23平方公里,与新加坡岛国面积相差不多。有些岛屿临着通往泰国湾的国际海上航线,许多地方拥有建设海港的有利条件,容易与国际和地区国家来往,创造了一个向往大海的优势。西南部地区海洋和岛屿是捍卫祖国战略中极为重要的前缘基地,同时也是越南与世界接轨的门户。
西南部海岸线全长743公里,主要由大江河冲积下来,形成肥沃的冲积土地,此地环境适合红树林种植和水海产养殖。西南地区海区的生态系统包括珊瑚生态系统、海草和潮汐带等特点。水海产资源种类多样、储量丰富。这是全国的重点渔场之一,有许多经济价格高的水海产,年储量可达30万吨以上。近年来,渔民一直重视远洋捕捞,大力促进水海产养殖和加工,成品价值年增长达7%至15%,主要是冷冻虾、巴沙鱼、富国鱼露等名牌出口产品。
该地终年气候温和,有许多美丽的海滩,清澈而蔚蓝的海水,许多岛屿仍保留原始状态,原始森林占岛屿面积的75%,总面积约47000公顷。该地的金瓯海岬(Mũi Cà Mau)红树林、下幽冥红树林被联合国教科文组织承认为世界生物圈保护区,这里还有富国国家公园。海岛森林在保护岛屿淡水资源、保护生态环境等方面具有重要作用,同时对自然动植物基因研究和保护、发展生态旅游和度假旅游等具有重要价值。此外,海上群岛和岛屿及沿海森林系统为建立基地和军事安全阵势提供有利条件,以维护祖国一个战略方向的主权。
西南部地区海洋和岛屿不仅风景美丽、居民淳朴、亲切、好客,而且包含许多独特的遗产、历史文化的沉积物。海洋居民特有的信仰遗产包括钱江省万郎(Vàm Láng)(Tien Giang)的凌翁(Lăng Ông)庙会 、朔庄省陈题镇的凌翁婆庙(Lăng Ông - Miếu Bà)、薄寮的省凉屋(Nhà Mát)的观音佛台、金瓯省原沟(Rạch Gốc)的南海凌翁等,加上有关这些遗产的信仰活动和节日。该地的槟椥省盛丰乡、茶荣省长龙和乡、金瓯省原沟均有神奇的海上胡志明道遗迹。可以肯定说,利用好自然条件、人文、历史文化等因素的价值会将西南部地区的海洋和岛屿发展成为国际和国家级的海洋旅游胜地。这不仅有助于社会经济发展,而且为这里人们在生产劳动中更加努力奋斗、提高祖国海洋和岛屿的维护意识注入强劲的精神动力。
西南部地区也是自然资源,尤其是油气资源丰富的岛屿地区。位于金瓯河鲜海区外的马来土珠油气沉积油田面积约为8万平方公里。发现了金龙、恶鬼、鲸鱼、督江五根等许多油田,油气储量约为1.382亿立方米(相当于200至500万吨),占全国汽油储量的35%。当前,越南油气业每年开采20亿立方米的天然气。自然环境优越,西南部海洋和岛屿地区拥有丰富的的风能和太阳能资源,加上位于海上国际贸易航线上,许多地方都可以建设先进的海港。这些条件为发展交通运输和海运、提供物流服务、建设沿海工业园区和都市区提供了有利条件,有助于推动该地区的工业化、现代化事业发展。
初步结果很重要
多年来,深入贯彻党的观点、路线及国家政府的政策和主张,海洋和西南地区的方针和政策,西南部海洋和岛屿地区各地方党委和政府正确认识到与加强海洋和岛屿的国防和安全相结合的经济可持续发展的观点。从此,努力奋斗并取得值得鼓励的初步成果。首先,各地方党委和政府着力对沿海、岛地区人口居住问题做出重新的部署。各地方根据经济社会发展与国防和安全相结合的计划采取了许多特殊措施、政策,鼓励人民移到沿海、岛地区居住。其中,注重保障居民的必要生活条件和稳定的工作。如果在1980年之前,西南部各个岛屿的人口约为8000名,那么到2018年,人口增至20多万名。迄今为止,在近200个岛屿中,有人居住的岛屿为46个。尤其是,富国岛受到大量的投入,将来成为国际和地区的先进都市、旅游胜地、国际会议中心。这些变化为经济社会发展所需的人力资源、部署稳固的全民国防和人民安全阵势提供保障条件。
在人口部署的同时,各地方着力对基础设施系统进行投入。通过许多资金来源,各地方对基础设施投入数百万亿越南盾。对富国岛的投资额近30万亿越南盾。迄今,西南部海洋和岛屿地区的一系列海港、渔港得以建设、修建,如将安退渔港(An Thới)修建成为国际深水港,新建土珠、南游、横岛等渔港。此外,各地方还注重投入建设沿海工程项目、防止盐水入侵的堤防、围垦工程,形成新城区和海洋经济工业区。近期,富国国际机场受到初步的投资,投资总额为超过16万亿越南盾,其国际标准的先进设计和运行系统投入使用,对富国的经济社会发展创造了突破口,同时作为整个地区互联互通的环节。供电系统、信息通信基础设施也得到同步性的投资。迄今为止,有人居住的西南部海洋和岛屿地区大多数全部覆盖移动网络,邮政、电信和互联网等服务也得到应有的提供,满足经济发展、自然灾害防范、搜寻救灾工作等需求,确保国防和安全,加强对海洋和岛屿主权的防御和维护能力。
依靠其潜力和优势,各地方着力对尖端的海洋经济产业实现可持续发展并创造突破性发展步伐,诸如水海产养殖和开发、海洋服务、油气和矿物资源开采、可再生能源等等。其中,全面发展海产开发、加工业,建设成为全国重点海产经济分区,根据先进的流程促进远洋捕捞业和集中式的水海产养殖业发展。同时,在保管和加工水海产过程中积极改革、采用先进的工艺和方法,提高产品质量和增加值,在迪石(Rạch Giá)、富国、土珠、南游、五根、豪滩(Gành Hào)、薯岛等一些重要岛屿上将开发与发展渔业加工和物流网络紧密结合在一起,有助于多年保持西南部岛屿地区的年度经济增长率达10%。与此同时,社会经济基础设施系统得到投资并逐步得到完善,文化和社会得以进步,人民生活水平得以提高,社会保障政策得到适当的关注。初步的成果能确保西南部海岛地区可持续发展,将经济发展与历史文化遗迹保护、环境保护与国防和安全巩固协调结合在一起。
困难和挑战
虽然取得了重要的初步成果,但西南部海岛地区的资源开发、利用尚未得到高效,缺乏稳固性,水海产开发业的技术和物质基础仍然落后,缺乏同步性。渔民以打尽、毁灭方式开发水海产,忽视对海洋环境和生态系统保护工作。此外,有关部门对水产资源的管理和保护、渔场保护工作仍然有限。一些渔场呈现出枯竭之势,渔民不想出海或不得不将其船只带到其他海域进行捕捞,违反越南海洋法、水产法、欧盟委员会关于反对不合法捕捞的规定。在开发海洋资源方面仍然倾向于先开发物质类的资源,海洋、沿海和岛的空间、生态系统多样、海洋文化、历史价值等非物质类的资源很少受到重视。在各地方的基础设施总体规划、海洋经济发展规划缺乏同步性,每一地区或领域、行业、部门尚未互联互通和紧密的配合,导致资源分散,甚至利益冲突现象。
为了让西南部海岛地区在建国和卫国事业中肯定自己的战略地位,各个有关部门、各行业和力量需要采取全面、同步性的措施,既能有效利用潜力和优势,又能克服困难、挑战,使得此地实在是祖国的坚固“篱笆”。

Đọc thêm...

Dựng “phên giậu” nơi đầu sóng, ngọn gió

19:48 |
I. Biển, đảo Tây Nam Bộ - tiềm năng và lợi thế
Vùng biển Tây Nam Bộ có diện tích khoảng hơn 300.000km2, ranh giới tiếp giáp với các nước: Cam-pu-chia, Thái Lan, Ma-lai-xi-a, In-đô-nê-xi-a; với gần 200 đảo. Một số đảo lớn, như: Phú Quốc, Hòn Rái, Hòn Tre, Thổ Chu, Nam Du, Hòn Chuối, Hòn Khoai; trong đó, đảo Phú Quốc rộng 589,23km², xấp xỉ diện tích quốc đảo Xin-ga-po. Một số đảo nằm khá gần với đường hàng hải quốc tế thông ra vịnh Thái Lan, nhiều vị trí rất thuận lợi để xây dựng cảng biển, kết nối với các nước trong khu vực và quốc tế, tạo thế tiến ra biển lớn. Biển, đảo Tây Nam Bộ là căn cứ tiền tiêu vô cùng quan trọng trong chiến lược bảo vệ Tổ quốc, đồng thời là cửa ngõ của Việt Nam hội nhập với thế giới.
Tây Nam Bộ có bờ biển dài 743km, chủ yếu là dạng bồi tụ từ nhiều cửa sông lớn, tạo nên các bãi phù sa màu mỡ; môi trường thuận lợi phát triển rừng ngập mặn và nuôi trồng thủy hải sản. Hệ sinh thái vùng biển Tây Nam Bộ rất đặc thù, như: hệ sinh thái san hô, cỏ biển và vùng triều. Nguồn lợi thủy hải sản đa dạng về giống loài, giàu về trữ lượng. Đây là một trong những ngư trường trọng điểm của cả nước, có nhiều loài thủy hải sản có giá trị kinh tế cao, trữ lượng khai thác hằng năm có thể trên 300.000 tấn. Trong những năm gần đây, ngư dân chú trọng phát triển khai thác, đánh bắt xa bờ, đẩy mạnh nuôi trồng, chế biến thủy hải sản; giá trị sản phẩm tăng từ 7% - 15% mỗi năm, có những mặt hàng xuất khẩu chủ lực, nổi tiếng, như: tôm đông lạnh, cá basa, nước mắm Phú Quốc, v.v.
Với khí hậu ôn hòa quanh năm, có nhiều bãi biển đẹp, nước trong xanh, nhiều đảo còn lưu giữ được vẻ hoang sơ, rừng nguyên sinh chiếm 75% diện tích đảo, với tổng diện tích khoảng 47.000 ha. Nơi đây có rừng ngập mặn Mũi Cà Mau, U Minh Hạ, được UNESCO công nhận là Khu dự trữ sinh quyển thế giới và Vườn quốc gia Phú Quốc. Rừng ở vùng hải đảo có vai trò quan trọng trong việc giữ nguồn nước ngọt cho đảo, bảo vệ môi trường sinh thái, có giá trị lớn về mặt nghiên cứu, bảo toàn gen động - thực vật tự nhiên, phát triển du lịch sinh thái, du lịch nghỉ dưỡng, v.v. Bên cạnh đó, hệ thống quần đảo và đảo trên biển cùng các khu rừng ven biển rất thuận lợi để xây dựng căn cứ, thế trận quân sự - an ninh để bảo vệ vững chắc chủ quyền trên một hướng chiến lược của Tổ quốc.
Vùng biển, đảo Tây Nam Bộ không chỉ có phong cảnh đẹp, người dân chất phác, thân thiện, hiếu khách mà còn chứa đựng nhiều di tích, di sản, những trầm tích lịch sử - văn hóa độc đáo. Các di sản thuộc về tín ngưỡng của cư dân biển, như: Lăng Ông và lễ hội Lăng Ông ở Vàm Láng (Tiền Giang), Lăng Ông - Miếu Bà ở thị trấn Trần Đề (Sóc Trăng), Quán Âm Phật Đài ở Nhà Mát (Bạc Liêu), Lăng Ông Nam Hải ở Rạch Gốc (Cà Mau),… với các lễ hội và các sinh hoạt tín ngưỡng xung quanh các di sản này. Nơi đây còn có di tích Đường huyền thoại Hồ Chí Minh trên biển ở các xã Thạnh Phong (Bến Tre), Trường Long Hòa (Trà Vinh) và Rạch Gốc (Cà Mau). Có thể khẳng định rằng, phát huy tốt những giá trị của tự nhiên, con người, văn hóa - lịch sử sẽ biến vùng biển, đảo Tây Nam Bộ thành những khu du lịch biển có tầm cỡ quốc gia và quốc tế. Điều đó không những góp phần phát triển kinh tế - xã hội, mà còn là động lực tinh thần to lớn để người dân nơi đây vươn lên trong lao động sản xuất, nâng cao ý thức bảo vệ biển, đảo quê hương.
Tây Nam Bộ cũng là vùng biển đảo giàu tài nguyên thiên nhiên, nhất là dầu khí. Bể trầm tích dầu khí Mã Lai - Thổ Chu nằm ngoài khơi khu vực biển Cà Mau - Hà Tiên, diện tích khoảng 80.000km2. Đã phát hiện nhiều mỏ dầu khí, như: Kim Long, Ác Quỷ, Cá Voi, Sông Đốc - Năm Căn,... trữ lượng khí đốt khoảng 138,2 tỷ m3 (tương đương với 200 - 500 triệu tấn dầu quy đổi), chiếm 35% trữ lượng của cả nước. Hiện nay, mỗi năm ngành dầu khí Việt Nam đã khai thác hơn 2 tỷ m3 khí. Được thiên nhiên ưu đãi, vùng biển, đảo Tây Nam Bộ có nguồn năng lượng gió, mặt trời dồi dào, lại nằm trên đường hàng hải giao thương quốc tế, nhiều vị trí có thể xây dựng cảng biển hiện đại. Những điều kiện đó, tạo điều kiện thuận lợi để phát triển giao thông, vận tải biển, cung cấp dịch vụ logistics, xây dựng các khu công nghiệp, khu đô thị ven biển, góp phần thúc đẩy mạnh mẽ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa trên vùng biển, đảo giàu tiềm năng này.
Kết quả bước đầu quan trọng
Những năm qua, quán triệt quan điểm, đường lối của Đảng, chủ trương, chính sách của Nhà nước, cấp ủy, chính quyền các địa phương vùng biển, đảo Tây Nam Bộ đã nhận thức đúng đắn về quan điểm phát triển bền vững kinh tế, gắn với tăng cường quốc phòng và an ninh biển, đảo. Từ đó, đã nỗ lực phấn đấu thực hiện và đạt được những kết quả bước đầu đáng khích lệ. Trước hết, cấp ủy, chính quyền các địa phương tập trung vào việc bố trí lại dân cư trên các vùng ven biển, đảo. Các địa phương đã có nhiều giải pháp, chính sách đặc thù theo các chương trình kết hợp kinh tế - xã hội gắn với quốc phòng và an ninh, khuyến khích nhân dân ra các vùng ven biển, đảo sinh sống. Trong đó, chú trọng bảo đảm các điều kiện sinh hoạt thiết yếu và việc làm ổn định bền vững cho cư dân. Nếu trước năm 1980, dân số trên các đảo Tây Nam Bộ khoảng 8.000 người, thì năm 2018 đã tăng trên 200.000 người. Đến nay, trong số gần 200 đảo, đã có 46 đảo có dân cư sinh sống. Đặc biệt, đảo Phú Quốc đã và đang được đầu tư xây dựng với mục tiêu phát triển trở thành đô thị hiện đại - trung tâm du lịch, hội nghị quốc tế tầm cỡ khu vực và quốc tế. Những thay đổi đó, đã tạo điều kiện để đảm bảo nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế - xã hội; bố trí triển khai lực lượng thế trận quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân vững chắc.
Cùng với phân bố dân cư, các địa phương tập trung đầu tư hệ thống kết cấu hạ tầng. Bằng nhiều nguồn vốn, các địa phương đã đầu tư hàng trăm nghìn tỷ đồng vào xây dựng kết cấu hạ tầng. Riêng đảo Phú Quốc đã được đầu tư gần 30 nghìn tỷ đồng. Đến nay, vùng biển, đảo Tây Nam Bộ đã xây dựng, nâng cấp và mở rộng hàng loạt các cảng biển, cảng cá, như: nâng cấp Cảng cá An Thới trở thành Cảng nước sâu quốc tế; xây dựng mới cảng cá Thổ Chu, Nam Du, Hòn Ngang, v.v. Bên cạnh đó, các địa phương còn quan tâm đầu tư xây dựng các công trình ven biển, hệ thống đê, kè ngăn mặn, lấn biển, hình thành những khu dân cư, đô thị mới, khu công nghiệp kinh tế biển. Thời gian qua, Sân bay Quốc tế Phú Quốc được đầu tư bước đầu, tổng vốn hơn 16 nghìn tỷ đồng, với thiết kế, điều hành hiện đại theo tiêu chuẩn quốc tế được đưa vào sử dụng, tạo bước đột phá để phát triển kinh tế - xã hội Phú Quốc và kết nối toàn Vùng. Hệ thống cung cấp điện, cơ sở hạ tầng thông tin - truyền thông cũng được đầu tư phát triển đồng bộ. Đến nay, hầu hết các đảo có dân sinh sống trong vùng biển Tây Nam Bộ đều được phủ sóng di động và được cung cấp các dịch vụ bưu chính, viễn thông, internet, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế, phòng, chống thiên tai, tìm kiếm, cứu nạn; bảo đảm quốc phòng và an ninh, tăng cường khả năng phòng thủ bảo vệ chủ quyền biển, đảo.
Với tiềm năng, lợi thế của mình, các địa phương đã đột phá phát triển bền vững các ngành kinh tế biển mũi nhọn, như: nuôi trồng và khai thác thủy, hải sản, dịch vụ biển, khai thác dầu khí, tài nguyên khoáng sản biển và năng lượng tái tạo, v.v. Trong đó, phát triển toàn diện ngành khai thác, chế biến hải sản, xây dựng thành tiểu vùng kinh tế hải sản trọng điểm của cả nước; đẩy mạnh phát triển nghề đánh bắt xa bờ, nuôi trồng thủy hải sản tập trung theo quy trình hiện đại. Đồng thời, tích cực đổi mới, áp dụng quy trình, phương pháp tiên tiến trong bảo quản, chế biến thủy hải sản, nâng cao chất lượng, giá trị gia tăng cho sản phẩm; kết hợp chặt chẽ giữa khai thác với phát triển mạng lưới cơ sở chế biến và hậu cần phục vụ nghề cá trên một số đảo quan trọng, như: Rạch Giá, Phú Quốc, Thổ Chu, Nam Du, Năm Căn, Gành Hào, Hòn Khoai,… góp phần duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế vùng biển đảo Tây Nam Bộ nhiều năm liền đạt trên 10%/năm. Cùng với đó, hệ thống hạ tầng kinh tế - xã hội được đầu tư và từng bước hoàn thiện; văn hóa, xã hội có tiến bộ, đời sống nhân dân được cải thiện; chính sách an sinh xã hội được quan tâm đúng mức. Với kết quả bước đầu, đảm bảo cho vùng biển, đảo Tây Nam Bộ phát triển bền vững, kết hợp hài hòa giữa phát triển kinh tế với bảo tồn di tích lịch sử, văn hóa, bảo vệ môi trường và tăng cường quốc phòng - an ninh.
Những khó khăn, thách thức
Tuy đạt được những kết quả bước đầu quan trọng, nhưng tình hình khai thác, sử dụng tài nguyên vùng biển, đảo Tây Nam Bộ hiệu quả chưa cao, thiếu bền vững; công nghệ và cơ sở vật chất, kỹ thuật ngành khai thác thủy, hải sản còn lạc hậu, thiếu đồng bộ. Ngư dân khai thác thủy hải sản theo kiểu tận thu, hủy diệt, không quan tâm đến bảo vệ hệ sinh thái, môi trường biển. Bên cạnh đó, công tác quản lý bảo vệ nguồn lợi thủy sản, bảo vệ ngư trường của các cơ quan chức năng còn hạn chế. Một số ngư trường có dấu hiệu cạn kiệt, ngư dân không muốn ra khơi hoặc phải đưa tàu đi khai thác ở vùng biển khác, vi phạm Luật Biển Việt Nam, Luật Thủy sản, Quy định của Ủy ban châu Âu về chống đánh bắt cá bất hợp pháp mà chúng ta đã thỏa thuận. Trong khai thác tài nguyên biển còn nghiêng về ưu tiên khai thác những tài nguyên ở dạng vật chất, các tài nguyên phi vật chất ít được chú trọng, như: không gian biển, ven biển và đảo; sự đa dạng của hệ sinh thái; giá trị văn hóa - lịch sử biển, đảo. Ở các địa phương, việc quy hoạch tổng thể cơ sở hạ tầng, phát triển kinh tế biển thiếu đồng bộ, chưa có sự liên kết, phối hợp chặt chẽ trong vùng hay trong từng lĩnh vực, ngành, nghề, dẫn đến phân tán, thiếu tập trung nguồn lực, thậm chí còn xung đột lợi ích, v.v.
Để vùng biển, đảo Tây Nam Bộ khẳng định được vị trí chiến lược trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, các cấp, ngành, lực lượng phải bằng các biện pháp toàn diện, đồng bộ để vừa khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, vừa khắc phục khó khăn, thách thức để nơi đây thực sự là “phên giậu” vững chắc của Tổ quốc.

Đọc thêm...

Hot (焦点)