Tại sao Trung Quốc yêu cầu các cuộc tập trận chung ở Biển Đông cần phải "có sự đồng ý trước" (phần 2)
21:59 |
Thứ hai, Trung Quốc luôn tuyên truyền
rằng Biển Đông "ổn định", nếu có yếu tố bất ổn thì chính là sự can
thiệp của các nước ngoài khu vực, tiến hành diễn tập quân sự khiến Trung Quốc
phải đối mặt với nước thách thức nghiêm trọng. Do đó, yếu tố bất ổn này cần phải
bị loại bỏ. Truyền thông Trung Quốc tuyên truyền rằng "kể từ khi Tòa trọng
tài thường trực của Tòa án Luật biển quốc tế ra phán quyết về vụ kiện ở Biển
Đông, các nước tranh chấp ở Biển Đông đã đạt được sự đồng thuận trong việc giải
quyết tranh chấp, đàm phán COC đã có tiến triển, hợp tác thực chất trên biển đã
được thúc đẩy, tình hình Biển Đông cơ bản ổn định". Tuy nhiên, các nước
ngoài khu vực, đứng đầu là Mỹ, đang tìm cách thúc đẩy quan hệ hợp tác an ninh
song phương với các nước có tuyên bố chủ quyền ở Biển Đông, tăng cường hiện diện
quân sự hoặc bán quân sự nhằm làm suy yếu sức mạnh quân sự của Trung Quốc ở Biển
Đông, thách thức yêu sách chủ quyền của Trung Quốc, gây ra tình trạng bất ổn
"không nên có" ở Biển Đông. Truyền thông Trung Quốc rêu rao rằng, sau
khi chuyển từ "Chiến lược tái cân bằng châu Á - Thái Bình Dương" sang
"Chiến lược Ấn Độ - Thái Bình Dương tự do, rộng mở", Mỹ tiếp tục đầu
tư chiến lược vào Biển Đông, tăng cường triển khai các tiền đồn, mở rộng phạm
vi hợp tác an ninh, thiết lập một mạng lưới an ninh khu vực do Mỹ đứng đầu nhằm
kiềm chế Trung Quốc. Mỹ đã triển khai ngày càng nhiều lực lượng quân sự ở Biển
Đông và các khu vực, tạo ra mối đe dọa quân sự ngày càng sâu sắc đối với Trung
Quốc. "Hành động tự do hàng hải" của Mỹ dựa trên phán quyết của Tòa
án trọng tài thường trực thách thức trực tiếp yêu sách tổng thể của Trung Quốc
đối với các quần đảo ở Biển Đông, biến các đảo, đá thuộc quần đảo Trường Sa
thành các đảo, đá chỉ có quyền lợi biển hạn chế và không có lãnh hải, qua đó
"bóp vụn" yêu sách quyền lợi biển của Trung Quốc ở Biển Đông. Được
khuyến khích bởi Mỹ, Nhật Bản, Úc, Anh và các nước khác cũng đã đưa tàu chiến
vào Biển Đông, cố tình phá vỡ cục diện ổn định của Biển Đông. Năm 2019, Lực lượng
bảo vệ bờ biển Mỹ đã tiến hành theo dõi, giám sát các tàu cá và tàu chấp pháp của
Trung Quốc ở Biển Đông, đồng thời tuyên bố một cách cụ thể rằng họ sẽ đối xử với
các tàu cảnh sát biển, tàu cá của Trung Quốc như các tàu quân sự. Mỹ cũng tăng
cường quan hệ quốc phòng với các nước có yêu sách chủ quyền ở Biển Đông, như dỡ
bỏ lệnh cấm vận vũ khí, bán tàu chiến và tặng tàu tuần tra cho Việt Nam, hỗ trợ
Việt Nam cải thiện khả năng phòng thủ trên biển; đồng thời tiến hành các cuộc tập
trận chung nhằm vào Trung Quốc với Philippines và Malaysia.
Với các cách thức tuyên truyền
như trên, Trung Quốc đang tìm cách đổ lỗi các hoạt động can thiệp của các nước
ngoài khu vực, trong đó bao gồm các cuộc tập trận chung, là nguyên nhân gây ra
tình trạng bất ổn ở Biển Đông. Tuy nhiên, trên thực tế, các hành động của Trung
Quốc đã đe dọa quyền lợi biển của các nước trong và ngoài khu vực theo
UNCLOS-1982. Sau khi Tòa trọng tài thường trực ra phán quyết về vụ kiện trọng
tài quốc tế Biển Đông do Philippines khởi xướng, với sức mạnh và tham vọng của
mình, Trung Quốc đã cố gắng đảo ngược tình hình trên tất cả các mặt trận, tìm
cách kiểm soát toàn bộ Biển Đông. Đối mặt với phán quyết của Tòa trọng tài,
Trung Quốc không chỉ không chấm dứt các hoạt động phi pháp mà còn tiến hành với
mức độ quyết liệt hơn, bất chấp luật pháp và đạo lý. Trong khi tiến hành các cuộc
chiến pháp lý, truyền thông và ngoại giao, Trung Quốc tiếp tục thúc đẩy cải tạo
đảo ở quần đảo Trường Sa, xây dựng ba đường băng dài 3.000 mét, triển khai hệ
thống tên lửa và radar. Trên quần đảo Hoàng Sa, Trung Quốc triển khai hệ thống
giám sát trên biển từ xa và hệ thống tác chiến điện tử, đồng thời có kế hoạch
xây dựng các căn cứ hậu cần chiến lược trên đảo Phú Lâm, đảo Cây và đảo Duy Mộng.
Trung Quốc đã tăng cường xây dựng bốn căn cứ không quân và căn cứ tên lửa liên
lục địa trên đảo Hải Nam. Nếu các máy bay chiến đấu hiện đại có tầm hoạt động
1.000 - 1.500 km được triển khai tại các căn cứ này, Trung Quốc sẽ có thể giám
sát toàn bộ Biển Đông và một phần lãnh thổ của các quốc gia ven Biển Đông. Đồng
thời, Trung Quốc đã triển khai các hệ thống cảnh báo và giám sát dưới nước ở Biển
Đông; tăng cường lực lượng tàu hải chiến, tàu hải cảnh và tàu cá tuần tra ở Biển
Đông, xua đuổi, bắt giữ tàu cá của các nước khác hoạt động đánh bắt cá thông
thường ở Biển Đông; bao vây đảo Thị Tứ của Philippines; đưa tàu Hải Dương 8 hoạt
động trái phép trong Bãi Tư Chính thuộc Vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa
của Việt Nam. Trung Quốc cũng tiến hành các cuộc tập trận quân sự với quy mô lớn
ngày càng thường xuyên ở Biển Đông, trong đó bao gồm một cuộc diễu hành hải
quân với quy mô lớn chưa từng có trên đảo Hải Nam (4/2018), vừa nhằm phô trương
sức mạnh vừa răn đe các nước khác.
Mặc dù Trung Quốc ra sức
"che đậy" những sự thật trên song họ hiểu rõ rằng Biển Đông đã trở
thành vấn đề quốc tế và nguy cơ xung đột đang ngày càng hiển hiện. Để Biển Đông
trong tương lai có thể duy trì ổn định dưới sự kiểm soát của Trung Quốc, một điều
kiện để hình thành COC là các nước ngoài khu vực muốn tiến hành các cuộc tập trận
quân sự ở Biển Đông phải thông báo trước và được sự đồng ý của Trung Quốc.
为何中国要求东海联合军事演习须获得同意(第一期)
22:03 |
关心东南亚地区和平、稳定、发展的人们对中国与东盟就《东海行为准则》(中方称《南海行为准则》)举行的谈判寄予厚望。人们希望《准则》虽然不能完全解决各国间的争端,但至少也成为一份法律文件,比如对在一定范围内可以或不可以采取的行动作出规定,排除东海周边主权国家间不应有的误解,特别是排除违背国际法的因素。然而,谈判仍然“原地踏步”,因为中国提出了三个先决条件。其中之一是,域外国家要与地区国家举行联合军事演习必须事先获得同意。却没有说明域外哪些国家要与地区哪些国家举行联合军事演习必须获得哪个国家的同意,但人们仍然懂得中国的言外之意,那就是必须获得中国的同意。咋一听这个条件似乎是旨在提高各国维护地区和平与主人身份的意识,实际上它是为中国操纵《准则》顺着中国的意图行走效劳而已。
首先、无论是双边还是多边国际关系中,国防安全是个经过时间检验的高度政治互信的敏感领域,而且他们的政治、外交、经济、文化等关系获得深入发展。若签署国防安全协定,特别是组织联合军事演习,这就意味着双方或多方在各领域的关系绝非一般。在另一个层面,在国际政治生活中当世界的某个地区或某两个邻国出现矛盾时一般会考虑“出兵”威胁或防御,军事演习则是打出的第一“张牌”。东海近期形势演变已形成必须进行军事演习的两个因素。第一个因素是,地区国家与域外大国的关系获得前所未有的发展,几乎所有的大国如美国、印度、日本、俄罗斯都已成为东盟的战略合作伙伴。这些国家都已发出与东盟某国或东盟多国举行联合军演的“要求”。他们这样做是事出有因的,而且显示他们与东盟各国的关系日益紧密。第二个因素是,中国对东海渔民及主权国家的正常经济活动进行的挑衅导致了东海紧张局势不断恶化。东海安全遭威胁迫使各国举行军事演习以取得预防和威慑作用。
中国一直抱着当地区“领导人”的野心,对这两个因素当然不安了。若让各国以任何理由在东海举行军演都会“损害”到中国,若是中国事先获得通知中国就不会处于下风,也不至于丧失所谓的“独家”掌控东海的颜面。而且,在第一个场合,中国在某中程度上掌控了地区国家与域外国家的关系,在第二个场合,中国可以主动应付可能发生的问题。这就是中国要求各国进行联合军演要事先征得(中国)同意的理由。(未完待续)
Tại sao Trung Quốc yêu cầu các cuộc tập trận chung ở Biển Đông cần phải "có sự đồng ý trước" (phần 1)
21:56 |
Những ai quan tâm đến hòa bình, ổn
định và phát triển ở Đông Nam Á đặt nhiều hy vọng vào các cuộc đàm phán giữa
Trung Quốc và ASEAN về "Bộ quy tắc ứng xử ở Biển Đông". Họ hy vọng rằng
tuy không thể giải quyết hoàn toàn tranh chấp giữa các quốc gia, nhưng ít nhất
"Bộ quy tắc" sẽ trở thành một tài liệu pháp lý, chẳng hạn như quy định
các hành động có thể hoặc không thể được thực hiện trong một phạm vi nhất định,
qua đó loại bỏ những hiểu lầm không cần thiết giữa các quốc gia có chủ quyền
quanh Biển Đông, đặc biệt là loại trừ các yếu tố vi phạm luật pháp quốc tế. Tuy
nhiên, các cuộc đàm phán vẫn "giậm chân tại chỗ" khi Trung Quốc đưa
ra ba điều kiện tiên quyết. Một trong số đó là các cuộc tập trận chung giữa nước
ngoài khu vực với nước trong khu vực cần phải được sự đồng ý trước. Tuy Trung
Quốc không nói rõ nước ngoài khu vực nào tập trận chung với nước trong khu vực
nào thì cần phải có sự đồng ý trước đó của nước nào, song tất cả đều hiểu hàm ý
của Trung Quốc là phải có được sự đồng ý trước của Trung Quốc. Thoạt nhìn, điều
kiện này dường như nhằm mục đích nâng cao ý thức của mỗi quốc gia trong khu vực
về vai trò làm chủ và trách nhiệm duy trì hòa bình khu vực. Tuy nhiên, trên thực
tế, đây chỉ là một thủ đoạn của Trung Quốc nhằm xây dựng "Bộ quy tắc"
theo hướng mà Trung Quốc mong muốn.
Trước hết, trong cả quan hệ quốc
tế song phương và đa phương, an ninh quốc phòng là lĩnh vực nhạy cảm được thiết
lập trên cơ sở sự tin cậy chính trị sâu sắc trong thời gian dài, đồng thời với
đó là quan hệ hợp tác sâu sắc trên các lĩnh vực kinh tế, ngoại giao, văn hóa…
Điều đó cũng đồng nghĩa với việc một khi hai bên hoặc các bên đã ký kết các thỏa
thuận hợp tác an ninh quốc phòng, đặc biệt là thỏa thuận tổ chức tập trận chung
thì quan hệ của họ trên các lĩnh vực khác chắc chắn cũng đã vô cùng sâu sắc. Mặt
khác, trong đời sống chính trị quốc tế, khi một khu vực hoặc hai nước láng giềng
xảy ra mâu thuẫn, "lực lượng vũ trang" sẽ trở thành sức mạnh răn đe
quan trọng, trong đó các cuộc tập trận thường là "quân bài" đầu tiên.
Sự phát triển gần đây của tình hình Biển Đông đã dẫn tới hình thành hai yếu tố
thúc đẩy diễn tập quân sự trong khu vực. Yếu tố đầu tiên là mối quan hệ giữa
các quốc gia trong khu vực và các cường quốc ngoài khu vực đã phát triển ở mức
độ chưa từng có. Hầu hết các cường quốc trên thế giới như Mỹ, Ấn Độ, Nhật Bản
và Nga đã trở thành đối tác chiến lược của ASEAN. Tất cả các nước này đã đưa ra
"yêu cầu" tổ chức các cuộc tập trận quân sự chung với một hoặc nhiều
nước ASEAN. Những cuộc tập trận này không chỉ thể hiện quan hệ ngày càng mật
thiết giữa các cường quốc với các nước ASEAN mà còn cho thấy ảnh hưởng của các
cường quốc tới khu vực Biển Đông. Yếu tố thứ hai là các hành động khiêu khích của
Trung Quốc đối với các hoạt động kinh tế bình thường của các quốc gia có chủ
quyền ở Biển Đông đã khiến cho tình trạng căng thẳng ở Biển Đông ngày càng leo
thang. Các nguy cơ đe dọa an ninh ở Biển Đông đã buộc các nước phải tiến hành
các cuộc tập trận quân sự để đạt được các tác dụng phòng ngừa và răn đe.
Luôn có tham vọng là "nhà
lãnh đạo" của khu vực, Trung Quốc đương nhiên cảm thấy bất an trước hai yếu
tố trên. Việc các nước được phép tiến hành các cuộc tập trận quân sự ở Biển
Đông với bất kỳ lý do gì sẽ "gây thiệt hại" cho Trung Quốc. Nếu được
thông báo trước, Trung Quốc sẽ không gặp bất lợi và không mất quyền kiểm soát
"độc quyền" đối với Biển Đông. Thông qua đó, Trung Quốc còn "kiểm
soát" được quan hệ giữa giữa các nước trong khu vực và chủ động đối phó với
các vấn đề có thể xảy ra. Đây chính là lý do tại sao Trung Quốc yêu cầu các nước
cần có sự đồng ý (của Trung Quốc) trước khi tiến hành các cuộc tập trận chung ở
Biển Đông. (còn tiếp)
印尼在领土主权问题上态度强硬
18:51 |
印尼总统佐科·维多多(Joko Widodo)于1月6日宣布,印尼在纳土纳群岛(Natuna)群岛的主权是“关涉主权问题没有任何讨价还价的余地”。
印尼总统维多多在数十艘中国渔船在中国海警船的护航下非法闯进印尼廖内群岛海域一周之后所宣布的内容。
印度尼西亚外交部长蕾特诺·马尔苏迪(Retno Marsudi)于1月8日强调,涉及印尼主权的问题“没有谈判余地”。
蕾特诺在例行记者会上发表讲话时再次强调了印尼有关主权和主权权利的原则立场。蕾特诺明确指出:“任何人的任何主权诉求都要基于国际法,包括1982年《联合国海洋法公约》(UNCLOS)”。因此,印尼将继续驳斥没有得到国际公认的主权诉求。
另一方面,印尼外长也表示,印尼将打击支持原本违背国际法和联合国宪章的印尼脱离运动。此外,印尼将促进与马来西亚、越南、菲律宾、东帝汶等邻国的谈判,旨在推进海上和陆上边界划分工作。
印尼外长是在数十艘中国渔船在中国海警船的护航下非法入侵印尼在北纳土纳海的专属经济区引起两周以来印尼和国际舆论的极大关注的背景下所发表的上述内容。
此前,《雅加达邮报》于2019年12月30日报道称,印尼观察到至少63艘中国渔船和海警船在12月19日至24日期间非法入侵纳土纳群岛水域。
印尼外交部在一份声明中说,中国的海巡舰侵入印尼北部纳吐纳群岛的印尼专属经济区。但是,声明中没有提到这一事件发生的具体时间。
印尼外交部发言人费扎亚(Teuku Faizasyah)30日表示,印尼外交部已经召见了中国驻印尼大使肖千,表达了强烈的抗议,并提出正式抗议照会。
印尼海军少将Bakamla Taufiqurrahman表示,约50艘中国渔船已于12月19日入侵印尼海域并在第二天撤离该海域。然而,多艘渔船在中国海警船的护航下于12月24日重返该海域。
Indonesia 'rắn' với Trung Quốc trong vấn đề chủ quyền biển Đông
18:30 |
Tổng thống Indonesia Joko Widodo ngày 8/1 thăm quần đảo
Natuna trong khi căng thẳng Indonesia-Trung Quốc gia tăng về chủ quyền lãnh thổ
trên biển Đông. Indonesia tuyên bố không thương lượng về vấn đề chủ quyền và
không bao giờ chấp nhận yêu sách “đường lưỡi bò” của Trung Quốc.
Văn phòng Tổng thống Indonesia cho biết ông Widodo đã gặp
gỡ hàng trăm ngư dân trên đảo và thị sát hai tàu chiến được triển khai trong
khu vực. Ông khẳng định quyền khai thác tài nguyên thiên nhiên của Indonesia
trong vùng đặc quyền kinh tế của nước này, sau khi tàu cá và tàu hải cảnh Trung
Quốc lởn vởn trong vùng trong những tuần gần đây, Bloomberg đưa tin ngày 8/1.
“Tôi ở đây để đảm bảo việc thực thi chủ quyền của chúng ta”, Tổng thống Widodo
nói tại căn cứ hải quân Lamba Strait. Indonesia có quyền bắt hoặc trục xuất tàu
nước ngoài (tàu Trung Quốc) khai thác trái phép tài nguyên thiên nhiên trong
vùng đặc quyền kinh tế của mình, ông khẳng định.
Trước đó, phát biểu tại phiên họp toàn thể của nội các ở
Jakarta hôm 6/1, Tổng thống Indonesia khẳng định, “không có chuyện thương lượng
về vấn đề chủ quyền của chúng ta”. Tổng thống Widodo nói rằng, sự tăng cường hiện
diện của tàu Trung Quốc trong vùng biển tranh chấp kể từ tháng 12/2019 là vi phạm
luật pháp quốc tế.
Cũng liên quan vấn đề này, Ngoại trưởng Indonesia Retno
Marsudi ngày 8/1 nhấn mạnh rằng chủ quyền lãnh thổ của Indonesia là điều “hoàn
toàn không thể thương lượng”.
Phát biểu trong cuộc họp báo thường niên với sự tham dự của
các nhà ngoại giao trong và ngoài nước cùng đông đảo phóng viên quốc tế, Ngoại
trưởng Retno đã tái khẳng định các nguyên tắc liên quan đến chủ quyền và quyền
chủ quyền tại các vùng biển của Indonesia. Người đứng đầu ngành ngoại giao
Indonesia nêu rõ: "Bất kỳ tuyên bố chủ quyền của bất kỳ ai phải dựa vào luật
pháp quốc tế, bao gồm Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS). Do
đó, Indonesia sẽ tiếp tục bác bỏ các yêu sách không được luật pháp quốc tế công
nhận”.
Cũng theo Ngoại trưởng Retno, Indonesia sẽ chống lại các
lực lượng bên ngoài tham gia hỗ trợ các phong trào ly khai ở nước này vốn trái
ngược với luật pháp quốc tế và các nguyên tắc của Hiến chương Liên hợp quốc. Ngoài
ra, Indonesia cũng sẽ thúc đẩy tiến độ đàm phán với các nước láng giềng gồm
Malaysia, Việt Nam, Philippines, Palau, Timor Leste nhằm phân định các đường
biên giới trên biển và trên đất liền.vùng biển Natuna thuộc tỉnh Quần đảo Riau
của Indonesia.
Phát biểu trên được đưa ra trong bối cảnh vấn đề chủ quyền
lãnh thổ được dư luận Indonesia và quốc tế đặc biệt quan tâm trong suốt hai tuần
qua sau khi các tàu hải cảnh Trung Quốc hộ tống hàng chục tàu cá của nước này
xâm phạm vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của Indonesia ở Biển Bắc Natuna.
Trước đó, Chính phủ Indonesia cáo buộc Trung Quốc vi phạm
vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của mình và tuyên bố sẽ “không bao giờ” công nhận
đường 9 đoạn do Trung Quốc đơn phương vạch ra trên Biển Đông và không được luật
pháp quốc tế công nhận, đặc biệt là Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển
(UNCLOS) năm 1982.
Ngày 30/12/2019, Ủy ban An ninh hàng hải (Bakamla)
Indonesia cho biết ít nhất 63 tàu đánh cá và tàu hải cảnh của Trung Quốc xâm nhập
trái phép vùng biển Natuna thuộc tỉnh Quần đảo Riau trong các ngày 19-24/12.
Trong những ngày qua, các cơ quan chức năng Indonesia đã
tăng cường lực lượng tại Natuna, song cho biết tàu hải cảnh và tàu cá Trung Quốc
vẫn tiếp tục vi phạm EEZ của nước này tại đây. Indonesia đã cử một số tàu chiến
và 120 tàu cá ra tuần tra trong khu vực, giới chức nước này thông báo. Hôm 7/1,
Không quân Indonesia triển khai bốn chiếc máy bay chiến đấu F-16 tới quần đảo
Natuna; phía Indonesia nói rằng, hành động của tàu Trung Quốc là vi phạm luật
pháp quốc tế.
《灰色地带》战术与海上民兵在中国东海图谋中的作用(第二期)
07:36 |
那么,中国为何要“依赖”《灰色地带》战术呢?它是如何在东海施展的呢?
第一个问题的答案很简单,中国的战略目标是“独家”掌控东海从而实现海洋大国、甚至世界第一大国的野心。中国的这个目标遭到了美国,美国盟友、东海周边国家强烈反应,北京便采取各种措施来“驾驭”或越过这些反应,其中就有以海上民兵为骨干的《灰色地带》战术。
第二个问题的答案比较复杂。过去十几年来,中国推行实现掌控东海目标的总战略,包括《灰色地带》战术。在东海应用《灰色地带》战术时中国采取的两种手段能够保证领土主权主张不断升级但又不引发军事冲突。
第一种手段,即成立海上民兵实施《灰色地带》战术。中国民兵组成部分的海上民兵1985年在海南省成立,初期任务是向各岛屿运送补给及建材。最近,中国大量投资建设海上民兵把它变成海军、海警之外的三大海上骨干力量之一。海上民兵被赋予的任务是:
1、捍卫国家主权,2、侦查巡逻,3、与海上执法力量配合行动,4、参与搜救活动,5、协同战斗。此外,海上民兵还加入“配合执法组”向军队提供信息,驱赶外国渔船,阻止外国船只靠近(中国抢占的)岛礁,闯进邻邦专属经济区横行霸道,阻挠他国船只在东海进行勘探、开发资源、捕捞海产等等以捍卫国家海洋权益。海上民兵执行的这些任务大大增加了中国在争议海域的势力。海上民兵是应用《灰色地带》战术的一股重要力量,协助中国控制实地而不必动用正规军,包括海军,也不必直接出动大规模武装力量。这样,海上民兵既能向对方施加压力又减少实地风险,还有掩饰效应:海军不用抛头露面。持之以恒,争端就朝着有利于中国的方向转变。
中国海上民兵是一支专业队伍,其人员从军队裁员时被裁减下来的(30万)人员中挑选,划归“一家渔业公司”管理,薪资及待遇优厚,但不需要有捕捞经验。海上民兵获得适当的个人武器装备及使用现代化船只在过去几年的强制行动中发挥了重要作用。2017年前,仅海南省就打造了84艘大型民兵船,船身船头获得加固便于冲撞对方船只,同时获得装备攻击对方水手的高压水柱及进行间谍活动与军队联系配合行动的现代化通信设备。与此同时,中国改装数以千计的渔船,然后装备成海上民兵船。这些海上民兵式渔船顶着政府渔船的名义出远洋活动。由一家公司管理的海上民兵叫支队,支队编制成许多大队,生产组编制成中队,每一艘船编制成小队。海上民兵获得和平时期与战争时期的对付非正常情况的训练,包括使用轻型武器,并且经常部署在整个广阔的东海海域。
中国海上民兵船打着渔船的幌子前往争议海域“捕捞”,多次侵犯区域国家海域主权、主权权利及管辖权。美国海战学院研究员瑞安-马丁森(Ryan D.Martinson)指出:现非法驻扎在越南黄沙群岛富林(中方称《永兴》)岛的海上民兵被誉为全国海上民兵“专业楷模”,他们拥有专门用来实施《灰色地带》战术的70多艘大型“渔船”。
从2009年以来,中国与有关国家在东海值得注意的碰撞事件都有海上民兵的踪影。例如:在海南岛南部海域参与干扰美国《无瑕》(Impeccabele)号军舰事件,2012年协助海军抢占菲律宾的《斯卡伯勒沫》(Scaborough)滩,2014年协助海洋石油981号钻井平台在越南专属经济区和大陆架非法钻探,2016年在印尼海域偷捕海产,2019年5月干扰马来西亚在《卢科尼亚》(Luconia)海滩的油气勘探船的活动,从2019年7月初到10月底协助海洋地质8号船队在越南专属经济区思政(中方称《万安》)滩进行非法勘探活动。
第二个手段,即中国设法掩盖海上民兵的活动。高清晰卫星图片显示,经常有200~300艘中国渔船在越南长沙(中方称《南沙》)群岛渚碧礁及围巾(中方称《美济》)环礁海域附近活动。几乎所有的渔船排水量都在500吨以上,装备有自动识别系统。不过大部分渔船不会经常打开自动识别系统,主要是为隐藏其数量及行踪。对这些渔船在东海造成的碰撞事件,北京通常辩解说那是“平常的航行事故”。中国将海上民兵置于“阴影”中的目的是为了反复对中国认为在《九段线》海域内活动的外国船只,上演碰撞干扰活动以巩固中国在东海的存在。
中国的上述手段使得东海主权争端国及其他经过东海的船只通常不能确定他们遇到的是中国渔船还是“伪装渔船”,只好“敬而远之”以免被中国反咬一口说是他们“侵犯人权”。中国利用这种模棱两可来落实掌控东海的图谋。
中国2019年7月初出动海洋地质8号船队侵入越南思政滩时使用的《灰色地带》战术体现在以下几个方面:
第一、海警船昂然出现的时候海上民兵船紧紧尾随。这一点并不新鲜。海警和海上民兵在《灰色地带》战术中扮演极其重要的角色,被视为“半军事”执法队伍,随时干涉任何碰撞事件。使用这支队伍的关键特征是紧张状态可把握在可控制范围,因为海警、海上民兵的主要战术是碰撞。侵犯思政滩的中国海警船里最“有名”的是曾经参加马来西亚砂拉越邦《卢科尼亚》浅滩巡逻任务的35111号海警船和排水量12000吨的世界最大(比美国一些现代级军舰还要大的)3901号海警船。中国希望通过此事件炫耀中国自2014年以来不断得到加强的新型船只的雄厚力量。
第二、中国在东海非法建造的军事基地如长沙群岛的十字(中方称《永暑》)礁可以作为海警船的补给基地,这充分显示了中国在东海建造的人造岛的新价值。这些军事后勤基地有助于中国各力量迅速赶往灼热地点,加强了北京对争议海域的控制。
第三、通信战线扮演重要角色。这也是《灰色地带》战术的一部分当北京抛出有利于其历史凭据的时候。过去期间,中国主要媒体对思政滩事件避而不谈,但中国一些研究机构和学者却累累展开不利于越南的宣传活动,如他们说越南先挑衅,他们坚决支持中国东海主权。他们说思政滩在长沙群岛范围内,实际上思政滩位于越南专属经济内区并与长沙群岛毫无关系。北京不断派学者出国宣传中国的立场观点,刊登外国学者支持中国观点的科学论文。
回到海上民兵扮演的角色问题上来,2019年6月,美代理国防部长在香格里拉对话上发言时指责中国加强海军、海警、海上民兵三种力量的配合行动,混淆军队与执法力量,威胁声索主权的小国。他警告说,海上民兵的挑衅将被视为如同海军行动。
这样,以海上民兵为主要实施工具的《灰色地带》战术将被中国在数十年内稳步推进。在地区对东海主权未达成共识、大国蔑视、不遵守1982年联合国海洋法公约的背景下,《灰色地带》战术卓有成效。有专家警告说:东海冲突爆发很大程度上与海上民兵有关而与海军、海警关系不是很大。海上民兵没有海军那样的联络与紧张状态降级机制,也不是各国海军签署的海上意外相遇规则(CUES)的执行对象。关注思政滩事件的人们都会看到中国十分灵活地应用《灰色地带》战术来制造东海紧张局势,把对方推入升级态势却对问题的解决茫然无措。
可以说,中国主张不使用军队也不秀肌肉来挑动战争,却在实地、通信、法律、心理等战线灵活应用民事、半军事、军事力量寻求世界上最繁忙最重要的航海通道-东海海上权益。所以各国务必要对北京在东海施展的《灰色地带》战术和半军事力量、特别是海上民兵的活动提高警惕。
Chiến thuật “vùng xám” và vai trò của dân quân biển trong mưu đồ của TQ đối với Biển Đông (phần 2)
07:14 |
Như vậy, hà cớ gì Trung Quốc phải “cậy đến” chiến thuật
“vùng xám” và họ đã vận dụng chiến thuật “vùng xám” ở Biển Đông như thế nào?
Trả
lời cho câu hỏi thứ nhất khá ngắn gọn và đơn giản. Đó là bởi tham vọng “độc quyền”
kiểm soát Biển Đông là mục tiêu chiến lược của Trung Quốc nhằm đưa nước này trở
thành cường quốc biển, tiến tới trở thành cường quốc hàng đầu thế giới. Tuy
nhiên, mục tiêu này đã và đang gặp trở ngại từ Mỹ và đồng minh cũng như sự phản
ứng của các quốc gia ven Biển Đông, nên Bắc Kinh đã đề ra nhiều giải pháp để
“chế ngự” và vượt qua các trở ngại này, trong đó có chiến thuật “vùng xám”, với
công cụ chính là lực lượng dân quân biển.
Trả
lời cho câu hỏi thứ hai mới là phức tạp. Bởi hơn 10 năm qua, Trung Quốc đã áp dụng
một chiến lược tổng thể để thực hiện cho được mục tiêu thâu tóm Biển Đông thông
qua chiến thuật “vùng xám”. Trong thực thi chiến thuật này, Trung Quốc sử dụng
2 cách để đẩy vấn đề leo thang ở Biển Đông, nhưng không để nó trở thành tranh
chấp quân sự.
Cách
thứ nhất, Trung Quốc đã thành lập lực lượng dân quân biển để thực thi chiến thuật
“vùng xám”. Theo đó, dân quân biển là một bộ phận của dân quân Trung Quốc, được
thành lập năm 1985 tại tỉnh Hải Nam, ban đầu có nhiệm vụ chuyển hàng tiếp tế, vật
liệu xây dựng lên các đảo trên biển. Gần đây, Trung Quốc đã đầu tư, phát triển
lực lượng này thành một trong ba lực lượng nòng cốt trên biển (gồm hải quân, cảnh
sát biển, dân quân biển), có nhiệm vụ: (1) Bảo vệ chủ quyền quốc gia; (2) Tuần
tra trinh sát; (3) Phối hợp với các lực lượng chấp pháp trên biển; (4) Tham gia
cứu hộ, cứu nạn; (5) Hỗ trợ chiến đấu. Ngoài ra, lực lượng này còn tham gia vào
“nhóm phối hợp chấp pháp” cung cấp thông tin cho quân đội, đẩy đuổi các tàu cá
nước ngoài, ngăn cản tàu nước ngoài tiếp cận các đảo, hoạt động trên vùng đặc
quyền kinh tế các nước láng giềng; ngăn cản nước ngoài thăm dò, khai thác tài
nguyên, đánh bắt thủy, hải sản trên Biển Đông để bảo vệ “quyền và lợi ích” của
Trung Quốc trên biển. Những nhiệm vụ này giúp Trung Quốc chiếm ưu thế tại những
khu vực tranh chấp. Dân quân biển là một bộ phận quan trọng thực thi chiến thuật
“vùng xám”, giúp Trung Quốc kiểm soát thực địa mà không cần tới đội quân chính
quy, kể cả hải quân; không cần phải sử dụng vũ lực một cách quy mô và trực tiếp.
Như vậy, vừa gây sức ép lên đối thủ, vừa kiểm soát rủi ro trên thực địa; đồng
thời giấu mặt, không đưa hải quân ra tuyến trước, nhưng lâu dần sẽ khiến thực
trạng tranh chấp thay đổi theo hướng có lợi cho Trung Quốc.
Dân
quân biển Trung Quốc là lực lượng chuyên nghiệp, được tuyển dụng từ việc giảm
biên chế quân đội, từ các cựu chiến binh phục vụ trong lực lượng hải quân (khoảng
300.000 quân nhân bị tinh giản biên chế) đã được đề nghị làm việc cho “một công
ty ngư nghiệp” với mức lương cạnh tranh cùng nhiều chế độ đãi ngộ mà không đòi
hỏi năng lực đánh bắt cá. Dân quân biển Trung Quốc được trang bị vũ khí cá nhân
phù hợp, được sử dụng những con tàu hiện đại, được trả lương hậu hĩnh ngoài phần
thu được từ đánh bắt cá, đồng thời đóng vai trò quan trọng trong một số chiến dịch
“cưỡng chế” trong những năm qua. Trước năm 2017, riêng tỉnh Hải Nam đã đóng 84
tàu cá dân quân cỡ lớn, mạn tàu được gia cố chịu lực phần mũi để có thể đâm đa,
va húc; được trang bị vòi rồng công suất cao để tấn công thủy thủ đoàn trên tàu
nhỏ; được trang bị thiết bị viễn thông hiện đại để hoạt động gián điệp cũng như
dễ phối hợp theo mệnh lệnh của quân đội. Ngoài đóng mới, Trung Quốc cũng cải tạo,
trang bị cho hàng trăm tàu cá của ngư dân trở thành tàu của dân quân biển. Các
đội tàu cá kiêm dân quân biển của Trung Quốc có khả năng hoạt động xa bờ dưới
danh nghĩa tàu cá chính phủ. Dân quân biển do một công ty quản lý gọi là chi đội;
chi đội được biên chế thành các đại đội; các tổ sản xuất được biên chế thành
trung đội; mỗi tàu là một tiểu đội dân quân biển. Dân quân biển được huấn luyện
đối phó với các tình huống bất thường trong thời bình và thời chiến, bao gồm sử
dụng vũ khí hạng nhẹ và triển khai thường xuyên đến các khu vực trên Biển Đông.
Dân
quân biển Trung Quốc thường đội lốt là các ngư dân đánh bắt cá trên các vùng biển
tranh chấp. Trong quá trình đánh bắt cá, các đội dân quân này nhiều lần xâm phạm
chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán trên biển của các nước trong khu vực.
Theo nhà nghiên cứu Ryan D.Martinson thuộc Đại học Hải chiến Mỹ, lực lượng dân
quân biển Trung Quốc hiện đang trú đóng trái phép trên đảo Phú Lâm thuộc quần đảo
Hoàng Sa của Việt Nam được xem là “hình mẫu chuyên nghiệp” cho toàn Trung Quốc,
với hơn 70 tàu lớn được thiết kế và đóng mới chỉ để phục vụ chiến thuật “vùng
xám”.
Trên
thực tế, kể từ năm 2009 đến nay, hầu như tất cả các vụ đụng độ đáng chú ý trên
Biển Đông giữa Trung Quốc và các quốc gia liên quan đều có sự xuất hiện của dân
quân biển. Ví dụ như: Tham gia quấy rối tàu Impeccabele của Mỹ năm 2009 tại khu
vực phía nam đảo Hải Nam; hỗ trợ Hải quân Trung Quốc chiếm bãi cạn Scaborough của
Philippines năm 2012; hỗ trợ tàu Hải Dương 981 thăm dò trái phép trong Vùng đặc
quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam năm 2014; đánh cá trộm tại vùng biển
Indonesia năm 2016; quấy rối tàu thăm dò dầu khí của Malaysia tháng 5/2019 tại
bãi Luconia; từ tháng 7/2019, hộ tống và bảo vệ tàu Hải Dương 8 hoạt động thăm
dò trái phép tại Vùng đặc quyền kinh tế thuộc bãi Tư Chính của Việt Nam.
Cách
thứ hai, Trung Quốc luôn tìm cách che giấu hoạt động của tàu dân quân biển. Các
hình ảnh vệ tinh có độ phân giải cao cho thấy, luôn có từ 200-300 tàu cá Trung
Quốc hoạt động xung quanh đá Xu Bi và Vành Khăn thuộc quần đảo Trường Sa của Việt
Nam. Hầu hết những con tàu này đều có tải trọng trên 500 tấn, đồng nghĩa là
chúng bắt buộc phải lắp đặt hệ thống nhận dạng tự động (AIS). Tuy nhiên trên thực
tế, đa số trong số tàu này không bật hệ thống AIS thường xuyên nhằm để che giấu
số lượng và hành tung. Vì thế, Bắc Kinh thường giải thích những vụ đâm tàu trên
Biển Đông do các tàu này gây ra là “các tai nạn hàng hải thông thường”. Việc
Trung Quốc đặt lực lượng dân quân biển trong “bóng tối” sẽ giúp Bắc Kinh có thể
tái diễn trò đâm va và quấy rốicác tàu nước ngoài mà họ cho là đang hoạt động
trong “đường chín khúc”phi lý do họ tự vẽ ra, qua đó nhằm củng cố sự hiện diện
của Trung Quốc ở Biển Đông.
Cách
làm trên của Trung Quốc còn khiến cho các bên có tranh chấp trên Biển Đông,
cũng như các lực lượng khác qua lại trên biển thường không thể xác định họ đang
đối mặt với tàu cá bình thường hay là “bất thường” của Trung Quốc, nên thường
kiềm chế tránh leo thang xung đột để không bị Trung Quốc cáo buộc là “vi phạm
nhân quyền”. Trong khi đó, Trung Quốc lợi dụng sự mơ hồ này để thực hiện mưu đồ
kiểm soát Biển Đông.
Trong
vụ việc Trung Quốc đưa tàu địa chất Hải Dương 8 xâm phạm bãi Tư Chínhcủa Việt
Nam vừa qua, chiến thuật “vùng xám” được thể hiện ở mấy yếu tố sau:
Một
là, bên cạnh sự hiện diện mạnh mẽ của các tàu cảnh sát biển Trung Quốc, còn có
các tàu dân quân biển. Đây là hiện tượng không mới. Cảnh sát biển và dân quân
biển đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong toàn bộ chiến thuật “vùng xám” của
Trung Quốc. Đây được xem là lực lượng chấp pháp biển “bán quân sự”, có thể can
thiệp vào bất cứ một va chạm nào ở Biển Đông. Đặc trưng cốt lõi trong việc sử dụng
lực lượng này chính là việc căng thẳng có thể kiểm soát ở mức độ chấp nhận được,
bởi vì chiến thuật chủ yếu của cảnh sát biển và dân quân biển chỉ là đâm va.Hai
tàu cảnh sát biển nổi bật nhất của Trung Quốc trong vụ xâm phạm bãi Tư Chính là
tàu Hải cảnh 35111, con tàu vốn đã tham gia tuần tra vùng nước gần cụm bãi cạn
Luconia, ngoài khơi bang Sarawak của Malaysia. Con tàu thứ hai là tàu Hải cảnh
3901, tàu cảnh sát biển lớn nhất thế giới của Trung Quốc với lượng giãn nước
12.000 tấn, lớn hơn cả một số lớp tàu chiến hiện đại của Mỹ.Có thể thấy, thông
qua sự kiện này, Trung Quốc đã phô trương khả năng mới được tăng cường kể từ
năm 2014 với nhiều loại tàu mới và hùng hậu hơn.
Hai
là, các căn cứ quân sự mới, phi pháp do Trung Quốc lập ra ở Biển Đông, như Đá
Chữ Thập thuộc quần đảo Trường Sa, có thể là nơi tiếp sức cho tàu hải cảnh
Trung Quốc (như tiếp nhiên liệu, vật tư). Điều này cho thấy giá trị mới của các
đảo nhân tạo mà Trung Quốc đã xây dựng trên Biển Đông. Những cơ sở hậu cần quân
sự này giúp cho các lực lượng của Trung Quốc có thể triển khai nhanh chóng tại
những điểm nóng. Qua đó tăng cường năng lực kiểm soát thực tế của Bắc Kinh ở
các khu vực tranh chấp.
Ba
là, mặt trận thông tin đóng vai trò quan trọng. Đây cũng là một phần của chiến
thuật “vùng xám” khi Trung Quốc cố gắng tung ra những bằng chứng lịch sử có lợi
cho họ. Vừa qua, mặc dù truyền thông chính thống của Trung Quốc không đề cập gì
nhiều tới sự kiện bãi Tư Chính, nhưng một số nhóm nghiên cứu và học giả Trung
Quốc đã tiến hành các hành động tuyên truyền bất lợi cho Việt Nam. Họ cố tình
rêu rao rằng, Việt Nam là bên gây hấn trước, rồi từ đó đưa ra những lập luận ủng
hộ chủ quyền của Trung Quốc ở Biển Đông. Tiêu biểu là lập luận về cơ sở pháp lý
của bãi Tư Chính (Việt Nam cho rằng bãi Tư Chính nằm trong thềm lục địa Việt
Nam, không liên quan tới quần đảo Trường Sa; Trung Quốc cho rằng bãi Tư Chính
thuộc quần đảo Trường Sa). Họ tăng cường cử học giả ra nước ngoài để bảo vệ
quan điểm chủ quyền hay gia tăng xuất bản các bài báo học thuật quốc tế ủng hộ
quan điểm của Trung Quốc.
Trở
lại vai trò của dân quân biển Trung Quốc, tháng 6/2019, tại Đối thoại
Shangri-La, quyền Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ đã tố cáo Trung Quốc gia tăng phối hợp
giữa 3 lực lượng hải quân, cảnh sát biển và dân quân biển, tạo sự mập mờ giữa
các hoạt động của lực lượng quân sự và lực lượng thực thi pháp luật, gây ra mối
nguy hiểm đối với các nước nhỏ hơn có yêu sách chủ quyền. Do đó, Mỹ cảnh báo,
các hành vi khiêu khích của tàu dân quân biển Trung Quốc sẽ bị coi như hành động
của lực lượng hải quân.
Như
vậy có thể thấy, chiến thuật “vùng xám” với công cụ thực hiện chính là dân quân
biển đang và sẽ được Trung Quốc thực hiện một cách từ từ, chậm mà chắc, với thời
gian hoạt động kéo dài trong nhiều thập kỷ. Đặc biệt, nó ngày càng hiệu quả
trong bối cảnh khu vực chưa có tiếng nói chung về vấn đề chủ quyền, trong khi
Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS 1982) đang bị các nước lớn
xem thường, bất tuân, trong đó có Trung Quốc. Có chuyên gia đã cảnh báo, xung đột
xảy ra trên Biển Đông rất nhiều khả năng liên quan đến dân quân biển Trung Quốc
hơn là hải quân hay cảnh sát biển nước này. Dân quân biển không có cơ chế liên
lạc và xuống thang căng thẳng như hải quân; dân quân biển cũng không phải là đối
tượng trong phạm vi áp dụng Bộ quy tắc tránh va chạm bất ngờ trên biển (CUES)
mà hải quân các nước đã ký với nhau. Những ai theo dõi sự kiện ở bãi Tư Chính vừa
qua đều thấy rõ, Trung Quốc đã vận dụng chiến thuật “vùng xám” rất linh hoạt để
tạo ra căng thẳng ở Biển Đông, đẩy các bên liên quan vào những tình huống leo
thang nhưng lại mơ hồ về cách giải quyết vấn đề.
Có
thể nói, với việc không chủ trương dùng quân đội đơn thuần hay sức mạnh “cơ bắp”
để gây chiến tranh ở Biển Đông, Trung Quốc đang từng bước kết hợp nhiều lực lượng
dân sự, bán quân sự, quân sự trên các mặt trận thực địa, thông tin, pháp lý lẫn
tâm lý để tìm kiếm lợi ích tại vùng biển được đánh giá là nhộn nhịp và quan trọng
vào hàng bậc nhất thế giới. Vì vậy, các nước cần hết sức cảnh giác với chiến
thuật “vùng xám” và hoạt động của các lực lượng bán vũ trang của Bắc Kinh trên
Biển Đông, nhất là lực lượng dân quân biển.
Hot (焦点)
-
胡志明是二十世纪越南革命杰出的马克思主义思想家。他老人家的思想是马克思列宁主义在符合越南的条件和历史背景基础上的运用、发展与创新,体现着时代精神及现代与当代世界的运动与发展趋势。 1 、胡志明思想、道德、风格体系的道德榜样。他老人家的思想合成了越南革命及革命之路的战略策...
-
为维护国家海岛主权,越南历代封建王朝都着重投资建设强大的水军力量。越南丁、李、陈、黎、阮等王朝的水军力量不断得到加强和完善。这支水军为捍卫祖国事业作出了巨大贡献,在各个阶段留下了历史烙印。 至今还收藏的古籍显示,越南历代封建王朝早已对黄沙群岛和长沙群岛确立主权、实施...
-
1954 年《日内瓦协议》签署之后,越南暂时被分成南北两方不同政治制度的政体。据此,越南北纬 17 度以南的领土(包括黄沙、长沙两群岛)由越南共和国政府管辖。根据《协议》规定,法国殖民者被迫撤离越南之后,西贡政权立即派遣海军力量接管黄沙、长沙两群岛并对其行使主权。与此同时,...
-
(VOVWORLD) - 越南伟大领袖胡志明主席的思想、道德、作风、革命生涯是越南全党、全民学习和实践胡志明道德榜样的生动和具有说服力的楷模。至今,越南开展学习和实践胡志明道德榜样运动已有 8 年并取得多项重要结果。 胡志明主席在其革命生涯中牺牲个人利益,为祖国和人...
-
越南的黄沙群岛位于东海(中国称南海)北边,处于北纬 15°45′ 至 17°15′ 、东经 110° 至 113° ,距越南广义省李山岛约 120 海里。黄沙群岛由 37 多个岛、洲、礁和沙滩组成,分为西面和东面两个群岛。东面为安永群岛(中国称宣德群岛),由 12 个岛、洲...
-
数十年来,中国人拿出大量书籍、资料和史料,企图证明从两千年前的汉朝起,中国人就发现了西沙和南沙(即越南的黄沙群岛和长沙群岛),从而说古代中国发现西沙南沙群岛就足够证明中国对西沙和南沙的不可争议的领土主权。据说,中国人最迟于唐宋发现南沙群岛至今,就一直在岛上及其海域从事生产活...
-
越南对黄沙、长沙两座群岛的主权不仅在越南古籍和古文献中有记载,而且还出现在西方航海家和传教士等的书籍、报纸、地图、日记、航路指南等外国资料中。这些资料描述黄沙、长沙“是越南中部海上的一块沙渚…”,这和越南同一历史时期资料和古地图描述的类似。法国 1936 年在印度支那建立的...
-
BDN - 位于东海边国土陆地呈 “S” 字形的越南,无形中拥有沿着国土走向三千公里海岸及依照 1982 年《联合国海洋法公约》从岸边向外延伸的辽阔海域。这意味着从越南 1982 年 11 月确定和公布的垂直基线算起往外延伸 200 海里宽的海域属越南的主权,被称作专属经济...
-
从十六、十七世纪至今,西方国家的轮船日益频繁来往于东海。他们来到这里,不只为了扩大贸易还为了传教和传播西方文化。在来往东海期间,西方航海家和传教士们以当时最现代的技术很详细地描述和绘画黄沙群岛和长沙群岛,以避免这两个群岛的礁石给来往的船舶造成危害。为此,他们很仔细地研究东海...
-
香港媒体最近透露中国在东海划分“新边界线”的海洋研究项目,为“资源研究”创造了条件,北京对这片海域的主权主张“增添了筹码”。这条新边界线是一条与囊括了蕴藏着丰富矿产和能源资源的东海海域九段线相吻合的实线,九段线内的海域就是北京声索主权的那片海域。 从国际法的角度来看实线...









