Đối thoại Chính trị-An ninh-Quốc phòng thường niên Việt Nam - Hoa Kỳ
10:00 |
QĐND - Ngày 25-3, Thứ trưởng Thường trực Bộ Ngoại giao Bùi Thanh Sơn và Thứ trưởng phụ trách Kiểm soát vũ khí và An ninh quốc tế Hoa Kỳ Andrea Thompson đã đồng chủ trì Đối thoại Chính trị-An ninh-Quốc phòng thường niên lần thứ 10 tại Washington D.C., Hoa Kỳ. Tham gia đối thoại về phía Việt Nam còn có đại diện Bộ Ngoại giao, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng; về phía Hoa Kỳ có đại diện Bộ Ngoại giao, Bộ Quốc phòng, Bộ An ninh nội địa và Cơ quan phát triển Quốc tế Hoa Kỳ.
Tại đối thoại, hai bên đánh giá cao những tiến triển tích cực, thực chất và sâu rộng trong quan hệ Việt Nam-Hoa Kỳ thời gian qua, trong đó có các cuộc gặp song phương giữa lãnh đạo cấp cao hai nước nhân dịp Tổng thống Donald Trump dự Hội nghị thượng đỉnh Hoa Kỳ-Triều Tiên tại Hà Nội vào tháng 2-2019. Hai bên nhất trí tiếp tục thúc đẩy và phối hợp chuẩn bị cho trao đổi đoàn, trong đó có đoàn cấp cao trong thời gian tới.
Hai bên ghi nhận những tiến triển tích cực trong hợp tác quốc phòng giữa hai nước, nổi bật là việc Bộ trưởng Quốc phòng James Mattis thăm Việt Nam hai lần trong năm 2018, tàu sân bay Hoa Kỳ lần đầu tiên thăm cảng Việt Nam kể từ sau chiến tranh; hoàn thành dự án tẩy độc sân bay Đà Nẵng. Hai bên nhất trí tiếp tục triển khai các lĩnh vực hợp tác theo Bản ghi nhớ Hợp tác quốc phòng Việt Nam-Hoa Kỳ năm 2011 và Tuyên bố Tầm nhìn chung hợp tác quốc phòng năm 2015, cụ thể trên các lĩnh vực an ninh biển, rà phá bom mìn, vật liệu nổ, sớm khởi động dự án tẩy độc sân bay Biên Hòa và tiếp tục hỗ trợ các nạn nhân da cam/dioxin, tìm kiếm bộ đội Việt Nam mất tích trong chiến tranh.
Về hợp tác an ninh, hai bên bày tỏ hài lòng về hợp tác giữa Bộ Công an Việt Nam và các cơ quan liên quan của phía Hoa Kỳ trên lĩnh vực an ninh mạng, chống buôn bán người, buôn bán ma túy, chống tội phạm xuyên quốc gia.
Về các vấn đề khu vực và quốc tế, Thứ trưởng Andrea Thompson nhắc lại lời cảm ơn của phía Hoa Kỳ đối với Việt Nam trong vai trò chủ nhà của Hội nghị thượng đỉnh Hoa Kỳ-Triều Tiên lần thứ hai vừa qua, khẳng định tiếp tục coi trọng vai trò của Việt Nam trong việc cùng cộng đồng quốc tế thực hiện mục tiêu phi hạt nhân hóa bán đảo Triều Tiên. Hai bên cũng thảo luận sâu rộng các vấn đề quốc tế và khu vực khác cùng quan tâm, trong đó có vấn đề Biển Đông. Phía Hoa Kỳ tái khẳng định cam kết mạnh mẽ nhằm bảo đảm khu vực Ấn Độ-Thái Bình Dương tự do và mở; khẳng định lại lập trường ủng hộ hòa bình, ổn định, hợp tác, thương mại không bị cản trở, tự do, an ninh, an toàn hàng hải, hàng không; kêu gọi các bên liên quan thực hiện đầy đủ và hiệu quả Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC), hướng tới hoàn tất Bộ Quy tắc ứng xử của các bên ở Biển Đông (COC) thực chất và hiệu quả. Phía Hoa Kỳ đánh giá cao nỗ lực của Việt Nam trong lĩnh vực gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc, khẳng định sẽ tiếp tục trợ giúp Việt Nam trong lĩnh vực này.
Hai bên nhất trí đánh giá đối thoại đã diễn ra thành công, thực chất, là kênh trao đổi thông tin hiệu quả, góp phần thúc đẩy quan hệ Việt Nam-Hoa Kỳ. Đối thoại Chính trị-An ninh-Quốc phòng lần thứ 11 sẽ diễn ra tại Hà Nội vào năm 2020.
合作克服战争后果:越美树立信心
10:00 |
(VOVWORLD) - 题为“战争后果处理:越南与美国的未来合作与和解进程”的研讨会将于3月26日在美国华盛顿举行。越南战争结束近44年,越美关系正常化25年来,两国在克服战争后果领域取得了多项积极结果,而这一事件再次强调越美双方为树立信心继续建设越美美好关系所做出的努力。
越美两国曾经历过一场造成严重后果的战争。数百万人流血和牺牲。两国许多家庭付出了高昂代价,遭受了巨大损失,特别是战争还给数代越南人造成了严重后果。两国关系正常化至今,包括寻找越战美军失踪人员遗骨、处理战争遗留爆炸物、清除含二恶英橙剂在内的克服战争遗留后果工作被视为两国合作关系中的头等优先任务。
化敌为友关系的新亮点
越战结束以来,越方向美方移交了七百多具美军失踪人员遗骨。反过来,美国政府、退伍军人协会也与越南紧密配合向越方提供越南失踪军人信息。这证明了两国有关力量为医治战争创伤、克服战争后果和树立两国之间的信心所做出的不懈努力。同时也是从敌人变成当前的全面伙伴关系的亮点和美好开端。
越南驻美国大使何金玉最近在华盛顿向美国战俘及战斗失踪人员(POW/MIA) 家属联盟主席安·米尔斯格里菲思(Ann Mills Griffiths)赠送反映搜寻美国海军失踪军官詹姆·米尔(James B.Mill)遗骸过程的纪录片DVD碟,米尔是米尔斯格里菲思的大哥。米尔斯格里菲思表示,她十分激动和高兴,因为经过24年的寻找,哥哥终于找到了。她说:“尽管抱有一丝希望,但我的家人和爸爸妈妈都不敢想这事能成真。得知消息后我非常惊讶,感到很幸福。这个感觉真的很好尤其是我们知道了我的哥哥发生了什么事,我的大哥于1966年9月21日牺牲。我想这是有亲人失踪的美国家庭的共同感觉,他们都希望了解自己的亲人发生了什么事,而不愿一直等下去。这也向全世界证明曾经敌对的美越两国依然可以互相合作并把这一双边关系发展到现在。”
米尔斯格里菲思的激动心情跟因越南政府的合作和人道政策而收到了亲人遗骨的许多美国家庭一样。为取得这一结果,越美双方都要努力战胜自己,坚持行动,发挥智慧、以长远战略视野看待两国关系并对两国关系的光明未来抱有信心。越南国防部副部长阮志咏说:“美国国防部高度评价越美两国在寻找越战美国失踪人员中的合作。可以说这是我们十分自豪的合作领域。我们做这项工作是出于人道之心,出于责任感,为了与美国加强合作两国要树立信心。”
谱写越美未来的新篇章
克服战争后果是越美当前防务领域合作中的核心内容。过去期间,除了努力寻找两国失踪人员外,双方还完成了清除中部地区岘港含二恶英橙剂工作,并开始在同奈省边和机场开展清除工作。越美两国一致认为,这是给双方带来利益的合作内容。因为这不仅是克服过去的后果而且还为双方未来合作奠定互信基础。
在两国的互访和双边接触中,美国政府领导人都谈及该问题并强调将继续合作和兑现承诺,以帮助越南克服战争遗留后果。将于26日在美国华盛顿举行的题为“战争后果处理:越南与美国的未来合作与和解进程”的研讨会定将成为越美树立信心,推动双边关系发展的重要机会。
Hợp tác khắc phục hậu quả chiến tranh: Xây dựng và củng cố lòng tin Việt Nam-Hoa Kỳ
09:00 |
(VOV5) - Gần 44 năm kể từ khi kết thúc chiến tranh và 25 năm bình thường hóa quan hệ, Việt Nam và Hoa Kỳ đã đạt được nhiều kết quả tích cực trong hợp tác khắc phục hậu quả chiến tranh ở Việt Nam và sự kiện lần này thêm một lần nữa khẳng định nỗ lực từ hai phía nhằm xây dựng lòng tin, tiếp tục xây dựng mối quan hệ tốt đẹp Việt Nam-Hoa Kỳ.
Việt Nam và Hoa Kỳ từng trải qua một cuộc chiến tranh với những hậu quả nặng nề. Hàng triệu người đã đổ máu và ngã xuống. Đó là cái giá rất đắt, mất mát rất lớn mà nhiều gia đình hai nước phải gánh chịu, đặc biệt di chứng chiến tranh còn để lại hậu quả vô cùng nặng nề cho nhiều thế hệ người Việt Nam. Kể từ khi hai nước bình thường hóa quan hệ ngoại giao đến nay, công tác khắc phục hậu quả chiến tranh như tìm kiếm quân nhân bị mất tích, rà phá bom mìn, tẩy độc dioxin…, được coi là một ưu tiên hàng đầu trong hợp tác giữa hai nước.
Điểm sáng cho mối quan hệ từ cựu thù thành bạn hữu
Kể từ khi kết thúc chiến tranh Việt Nam, đã có khoảng hơn 700 bộ hài cốt quân nhân Hoa Kỳ mất tích được phía Việt Nam trao trả cho Hoa Kỳ. Ngược lại, Chính phủ Hoa Kỳ, các tổ chức cựu chiến binh, cũng phối hợp chặt chẽ với Việt Nam để cung cấp thông tin về bộ đội Việt Nam mất tích. Đây là minh chứng cho sự hợp tác chặt chẽ giữa các lực lượng của hai nước trong nỗ lực không mệt mỏi nhằm hàn gắn và khắc phục hậu quả chiến tranh và góp phần xây dựng lòng tin giữa hai nước. Đây cũng là điểm sáng và sự khởi đầu tốt đẹp trong quá trình hai nước từ “cựu thù” đến đối tác toàn diện như hiện nay.
Tại thủ đô Washington DC mới đây, Đại sứ Việt Nam tại Hoa Kỳ Hà Kim Ngọc đã trao một đĩa DVD phim tài liệu kể về quá trình tìm kiếm hài cốt của một quân nhân Hoa Kỳ mất tích tại Việt Nam. Chiếc đĩa DVD được trao cho bà Ann Griffiths, Chủ tịch Liên đoàn quốc gia các gia đình của tù binh và người mất tích Hoa Kỳ. Bà cũng chính là người có anh trai chết trong chiến tranh Việt Nam. Bà Griffths cho biết: "Tôi thực sự cảm động và vui mừng khi hài cốt của anh trai bà đã được tìm thấy sau 24 năm tìm kiếm. Mặc dù còn một tia hy vọng nhưng gia đình và bố mẹ tôi chưa bao giờ nghĩ điều này có thể xảy ra. Tôi đã rất ngạc nhiên và hạnh phúc sau khi nhận được tin này. Cảm giác đó thật tuyệt, đặc biệt là khi biết chuyện gì đã thực sự xảy ra với anh tôi, anh tôi đã hy sinh ngày 21/09/1966. Tôi nghĩ rằng đây là cảm giác chung của các gia đình người Mỹ có thân nhân bị mất tích, họ muốn biết điều gì đã thực sự diễn ra và không muốn lúc nào cũng trong tình trạng mong đợi. Đây chính là minh chứng đối với thế giới rằng từ hai cựu thù, Mỹ và Việt Nam có thể hợp tác cùng nhau và đưa quan hệ song phương tới mức phát triển như hiện nay".
Tâm trạng xúc động của bà Ann Griffiths cũng là tâm trạng chung của nhiều gia đình Hoa Kỳ có người thân được “trở về” nhờ sự hợp tác và chính sách nhân đạo của Việt Nam. Bởi để có những kết quả này cả hai bên đều phải dũng cảm vượt qua chính mình với sự kiên định trong hành động, sự sáng suốt về trí tuệ và có tầm nhìn chiến lược và niềm tin mạnh mẽ vào tương lai tươi sáng của hai nước, hai dân tộc. Thứ trưởng Bộ Quốc Phòng Việt Nam Nguyễn Chí Vịnh từng chia sẻ: "Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ đánh giá cao về sự hợp tác của chúng ta với Hoa Kỳ về tìm kiếm người Mỹ mất tích trong chiến tranh. Có thể nói đây là một lĩnh vực hợp tác mà chúng ta rất là tự hào. Chúng ta làm vì lòng nhân đạo, vì trách nhiệm và cũng vì xây dựng lòng tin để tăng cường hợp tác với Hoa Kỳ".
Viết tiếp trang sử tương lai Việt Nam-Hoa Kỳ
Khắc phục hậu quả chiến tranh là một nội dung trọng tâm trong hợp tác quốc phòng Việt Nam và Hoa Kỳ hiện nay. Thời gian qua, ngoài những nỗ lực tìm kiếm quân nhân mất tích, hai bên đã hoàn thành tẩy độc dioxin sân bay Đà Nẵng và bắt đầu triển khai tẩy độc sân bay Biên Hòa, Đồng Nai. Cả Việt Nam và Hoa Kỳ đều thống nhất quan điểm cho rằng đây là một nội dung hợp tác đem lại lợi ích cho cả hai phía cùng với những ưu tiên khác như thương mại, hợp tác an ninh, những vấn đề môi trường, biến đổi khí hậu... Bởi đây không chỉ là vấn đề khắc phục hậu quả của quá khứ mà còn tạo nền tảng lòng tin cho tương lai hợp tác giữa hai bên.
Trong các chuyến thăm, tiếp xúc song phương, các lãnh đạo Hoa Kỳ đều đề cập đến vấn đề này và khẳng định tiếp tục hợp tác và thực hiện những cam kết của mình để giúp đỡ Việt Nam khắc phục hậu quả chiến tranh. Hội thảo “Khắc phục hậu quả chiến tranh: Chặng đường hòa giải và hợp tác tương lai giữa Việt Nam và Hoa Kỳ” diễn ra ngày mai (26/3) tại thủ đô Washington, Hoa Kỳ, chắc chắn sẽ là một bước tiếp theo nhằm xây dựng lòng tin, mối quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ đang trên đà phát triển.
Việt Nam kiên quyết phản đối hành động vi phạm chủ quyền ở Trường Sa và Hoàng Sa
09:12 |
Ngày 21-3, trả lời câu hỏi của phóng viên về việc Ðài Loan (Trung Quốc) diễn tập bắn đạn thật ở đảo Ba Bình, thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Lê Thị Thu Hằng nêu rõ:
"Việt Nam có đầy đủ cơ sở pháp lý và bằng chứng lịch sử khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa theo quy định của luật pháp quốc tế.
Việc Ðài Loan bất chấp phản đối của Việt Nam, nhiều lần tổ chức diễn tập bắn đạn thật ở vùng biển chung quanh đảo Ba Bình thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam là hành động xâm phạm nghiêm trọng chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam đối với quần đảo này, đe dọa hòa bình, ổn định, an toàn, an ninh hàng hải, gây căng thẳng và làm phức tạp tình hình ở Biển Ðông.
Một lần nữa, Việt Nam kiên quyết phản đối và yêu cầu Ðài Loan không tiến hành các hành động tương tự".
Theo thông tin từ các cơ quan chức năng Việt Nam, 9 giờ sáng ngày 6-3, tàu cá Việt Nam mang số hiệu QNg 90819 TS cùng năm ngư dân đang neo đậu tại khu vực đảo Ðá Lồi thuộc quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam, thì phát hiện tàu Hải cảnh Trung Quốc mang số hiệu 44101 chạy đến dùng vòi rồng phun lên tàu cá để xua đuổi; trong quá trình di chuyển, đến 10 giờ cùng ngày, tàu QNg 90819 TS đâm vào rạn đá ngầm và chìm tại tọa độ 16 độ 15 phút vĩ bắc - 111 độ 38 phút kinh đông (cách tây bắc đảo Ðá Lồi thuộc quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam khoảng 0,5 hải lý); các ngư dân bám vào mũi tàu trôi dạt trên biển, được tàu cá của Việt Nam số hiệu QNg 90620 TS cứu vớt vào khoảng 13 giờ cùng ngày.
Ngày 20-3, Cục Lãnh sự, Bộ Ngoại giao đã có buổi làm việc với đại diện Ðại sứ quán Trung Quốc tại Việt Nam, trao công hàm và phản đối việc làm nêu trên của tàu Trung Quốc đã xâm phạm chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa, đe dọa tính mạng, gây thiệt hại về tài sản và lợi ích hợp pháp của ngư dân Việt Nam.
Cục Lãnh sự, Bộ Ngoại giao đã đề nghị Ðại sứ quán Trung Quốc thông báo cho Bộ Ngoại giao và các cơ quan chức năng của Trung Quốc về vụ việc trên để xử lý nghiêm đối với nhân viên và tàu Hải cảnh Trung Quốc nêu trên, không để tái diễn những hành động tương tự, đồng thời bồi thường thỏa đáng các thiệt hại cho ngư dân Việt Nam.
关于独立、自主与融入国际社会之间的关系
09:01 |
我党在《社会主义过渡时期国家建设纲领(2011年补充与发展版)》中确定,要特别注重把握并正确处理八大关系,尤其是独立、自主与融入国际社会之间的关系。越共十二大就独立、自主与积极主动融入国际社会之间的关系加以肯定并进一步具体化。为了正确认识并处理好此关系,我党已指出其原则和方针,即要出发于实践,紧跟着实践,注重研究预测国家和世界的发展趋势以及地区乃至世界形势给我国带来的机遇与挑战,旨在把握时机,主动解决问题,尊重客观规律,“绝不片面、极端并走向唯意志主义”。
1.独立、自主与融入国际社会之间的关系:本质及内涵
这一客观关系产生并成熟于我国革新、发展及融入国际社会的过程中。它们在彼此互动中形成一种辩证关系。若不正确处理将给国家、民族的最高利益带来负面影响。其本质及内涵体现在以下几个方面:
首先,独立自主为积极主动融入国际社会奠定基础。其表现为:第一,独立自主并不意味着与世界隔绝、与国际社会保持距离,而代表着国家民族的自决权。自主是实现自决权的实际能力。独立自主体现在政治、经济、文化、国防、安全、外交等所有领域。没有独立自主就谈不上融入国际社会,更何况谈起“积极主动”。因此,独立自主便是积极主动融入国际社会的前提。第二,独立自主对融入国际社会起着决定性作用。独立自主是融入国际社会过程中影响到我国自决权的首要因素。我党实施独立自主路线,为融入进程提出正确方向,指引我国选择优先领域并确定符合的融入进程。当初,我国主动融入国际经济,然后逐步全面融入地区乃至国际社会;对外关系不断从广度和深度扩大,致力于提升国家的综合力量。我党根据国内外形势的变化对党的独立自主政策进行补充,发展和具体化。这为我国深入融入国际社会进程铺平了道路,为建设和捍卫社会主义事业做出了贡献。第三,在地区乃至世界复杂演变的背景下,坚持独立自主才能正确分析、处理信息,找到切实有效的解决办法。第四,独立自主为包括越南在内的中小发展中国家面对全球化带来的机遇和挑战奠定基础。第五,独立自主是我国在融入国际社会过程中主动提升比较优势的基础。只有在我国深入融入国际经济之后才能对外出口我国的农产品、林产品、渔产品等优势产品。但若没有独立自主,融入过程中的比较优势将由大国所支配。所以只有独立自主才能具有号召力和凝聚力来吸引合作伙伴。
其次,融入国际社会为维护国家独立自主做出贡献。其表现为:第一,融入国际社会将为我国在所有领域上维护独立自主创造便利条件。在越南革命实践中,尤其是革新30年来,在我党的领导和政府的精心指导下,融入国际社会已为我国巩固独立自主做出贡献。积极主动融入国际社会既是维护独立自主的方法,又是维护独立自主的动力。第二,融入国际社会将为经济社会发展奠定基础。实践证明,积极主动融入国际社会已为我国吸引各种外部资源做出贡献。第三,积极主动融入国际社会有助于我国实现工业化、现代化和发展知识经济。全球化过程正在改变国际劳动分工。我们可以利用劳动力的再分配来促进经济发展的优势和比较优势。基于此,推进工业化和现代化事业。第四,目前恐怖主义、气候变化、自然灾害等全球性挑战均令人担忧。这需要各国、各地区乃至全球之间建立一个统一协调的推进机制。因此,积极主动融入国际社会将为我国发挥潜力、维护独立自主做出贡献。第五,积极主动融入国际社会将有助于我国深入融入地区乃至世界的经济体系,为我国促进经济发展、维护独立自主做出贡献。
2.处理独立、自主与融入国际社会之间关系的关键方向
为了创造伟大成就并面对融入过程带来的机遇和挑战,应避免以下极端思想和行动:(1)独立自主是不变的常数,不能与融入国际社会过程相容;世界是一个不可预测的复合体,因此必须非常谨慎,不应推动融入国际事业更上一层楼。(2)在全球化和国际一体化的时代,无需也无法维护和巩固独立自主。这表明,处理独立、自主与融入国际社会之间关系并不简单,而应集中全面就下列问题进行研究:
在政治和外交方面,应注意以下重要因素:第一,牢固把握和处理好地区问题。东南亚乃至亚太地区的稳定和发展直接影响到我国对外关系以及融入过程中捍卫祖国的独立自主。第二,我国独立自主的对外政策受到世界大国及各国际权力中心之间关系的影响。越南可以从融入过程中获取多大的利益,取决于国内稳定发展以及与大国关系的处理能力。第三,融入国际社会为发展国家创造良好条件,但是敌对势力也将利用此机会来推动“和平演变”战略、暴乱颠覆、煽动工人停工罢工等。
在经济方面,有四个重要因素:第一,通过正式签署并有效落实各有关国际经济合作协议推进国家国际经济融入进程;基于确保独立自主建立各类型的经济体系。第二,必须坚持社会主义市场经济改革方向。第三,确保国家经济不受外部支配。第四,一个国家要维护其独立自主就必须有实力,有一个独立自主的经济。其表现为:拥有合理有效的经济结构;经济竞争力高和可持续发展;进出口结构均衡;产品结构多元化,其中技术产品及高附加值产品的比例占多;国际市场结构多元化,避免将生产经营过度集中在某些目标市场上。
为了确保在文化社会领域上的国家主权,最关键的是不断提高我党的领导能力和水平以及政府的管理效率。第一,建设富有民族本色的先进文化,培养人民爱国之心与创造性,做好传媒和网络空间管理和领导工作。第二,应重视各有关文化社会、民族与宗教政策,旨在防止敌对势力进行分裂和破坏;不断巩固民族大团结;推动行政改革,加强公务纪律纪纲,加强司法效率,推进反腐败工作向纵深发展。第三,越南已经成为中等收入国家,因此社会工作的重点已从减贫扶贫转向治理和福利。因而,应强化法制国家的作用,推动全社会民主,确保更多人民参与政治活动。
在国防安全方面,为了维护独立自主,应重视国防潜力建设,同时注重处理好各重大关系,其中包括建设与捍卫祖国之间、发展经济社会与确保国防安全之间、国防安全任务与对外工作之间等关系。与此同时,准确预测与我国有关的地区乃至国际形势以及世界大国关系调整等,从而提出符合的应付方案。
一些原则性问题:第一,国家利益在国内外政策和国际一体化中处于第一位。第二,必须实施独立自主的对外政策,避免受到外部支配。第三,加强与周边国家的外交关系,建设和平友好环境,并将其视为对外工作和融入国际社会事业中的主导任务。第四,建设现代强大国防并将其视为捍卫国家主权和实施对外路线的重要基础。第五,避免经济依赖并受外部支配。第六,重视发展同大国的关系,因为世界大国对国际关系以及地区、世界和平稳定具有重要影响。第七,建立多边外交,因为这是实现国家利益、增进相互了解和信任、维护地区乃至世界和平安全的有效措施。第八,坚定民族独立和社会主义的目标。
3.处理独立、自主与融入国际社会之间的关系的现状
基于贯彻并逐步处理此关系,我国已取得巨大的成果。其表现为:
在政治领域,我国已深化各种合作伙伴关系,使得同部分国家的关系开始深入务实有效发展,积极主动致力于建设和形成各种多边体制。在双边和多边渠道上尽力开展国际政治融入活动。双边融入为越南发挥其在多边论坛中的作用奠定基础,从而为深入融入国际社会创造良好条件。融入国际社会已致力于提升越南在地区乃至全球的地位。至今,越南已经成为地区的积极因素,是国际社会各国的朋友,值得信赖的伙伴和负责任的成员,为提出倡议、促进互联互通做出贡献。
在经济领域,我国已促进国际贸易和投资,扩大市场的广度,有效利用国际合作机制和各种有益资源,成功签署各种协议等。吸引外资最明显的成果是建立了先进技术制造业的开发区。据越南统计总局的数字,截至2018年,对越南的投资已达到近4000亿美元,在吸引外国直接投资方面排名前15位。目前,在越南有50多个捐助者(包括双边和多边)。此外,我国还从600余国际非政府组织获得官方发展援助资金。融入国际经济还有助于改善物质技术条件,为维护国家独立自主创造便利条件,为融入国际政治和其他领域奠定基础。经济发展是维护国家独立自主的重要因素。
在文化社会领域,我国以多种形式与方法推进国际社会融入事业向纵深发展,吸引更多世界朋友来到越南。越南已签署100余有关文化的双边协议和国际条约。仅2018年,赴越游客已超过1550万人次。一大批重大文化工程和项目因此得以实施,为我国人民欣赏到世界各国的典型文化价值提供便利条件,从而提升人民的创造潜力。加强社会文化建设将成为我国维护民族文化本色的重要因素,使越南文化更加丰富多彩。
在国防安全领域,我国已逐步扩大同世界大国以及地区各国的合作。截至目前,我国已与近70个国家建立国防关系,在30余个国家建立国防武官办公室;40余个国家在越南建立国防武官办公室或兼任驻越国防武官机制。同时,积极参与地区的国防安全论坛,逐步参与各种国际合作活动。
在融入国际社会过程中,维护独立自主是我党政策路线和政府法律中最为关键的理论和实践问题。独立自主是不变的原则。基于贯彻我党的对外路线,应继续研究并处理好独立、自主与融入国际社会之间的关系,同时提高意识和行动统一。积极主动融入国际社会将为我国牢牢捍卫独立自主和国家主权做出贡献。我们要充分发挥所取得的成果,把握时代的变化,制定具体的政策和措施,为新形势下取得新成就注入动力。(完)
作者:越共中央理论委员会副主席武文贤教授博士
Quan hệ giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế
08:00 |
Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), Đảng ta xác định phải đặc biệt chú trọng nắm vững và giải quyết tốt tám mối quan hệ lớn, trong đó có mối quan hệ “giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế”. Đại hội XII của Đảng nhấn mạnh và cụ thể hơn là mối quan hệ “giữa độc lập, tự chủ và chủ động, tích cực hội nhập quốc tế”. Để nhận thức đúng và xử lý tốt mối quan hệ đó, Đảng đã chỉ rõ nguyên tắc và phương châm: phải xuất phát từ thực tiễn, bám sát thực tiễn; chú trọng nghiên cứu dự báo xu hướng phát triển của đất nước và thế giới, những diễn biến của khu vực, quốc tế tác động tới nước ta cả thuận lợi và khó khăn, tích cực và tiêu cực để đón kịp, tận dụng thời cơ, chủ động vượt qua thách thức và nguy cơ, tôn trọng quy luật khách quan, “không phiến diện, cực đoan, duy ý chí”.
1. Bản chất, nội hàm của mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế
Đây là mối quan hệ khách quan, nảy sinh và ngày càng sâu đậm trong quá trình đổi mới, phát triển đất nước, mở cửa, hội nhập với thế giới. Đó là mối quan hệ biện chứng, tác động qua lại lẫn nhau, nếu không xử lý tốt, có thể dẫn đến những hạn chế, kìm hãm nhau trong bảo đảm lợi ích tối cao của quốc gia, dân tộc. Bản chất và nội hàm của nó thể hiện trên những điểm cơ bản sau:
Trước hết, độc lập, tự chủ là cơ sở, điều kiện, tiền đề để chủ động, tích cực hội nhập quốc tế. Điều đó thể hiện: Một là, độc lập, tự chủ không phải là biệt lập, cô lập với thế giới bên ngoài, đứng ngoài hội nhập quốc tế, mà thể hiện chủ quyền, quyền tự quyết, tự lựa chọn, quyết định con đường, mô hình phát triển của quốc gia, dân tộc. Tự chủ là năng lực thực hiện chủ quyền, tức là thực hiện quyền tự quyết dân tộc trên thực tế. Độc lập, tự chủ bao gồm độc lập, tự chủ về chính trị, kinh tế, văn hóa, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, v.v. Do đó, không có độc lập, tự chủ thì không thể nói tới hội nhập quốc tế chứ chưa nói tới chủ động, tích cực hội nhập quốc tế. Hai là, độc lập, tự chủ là nhân tố đóng vai trò quyết định trong mối quan hệ với hội nhập quốc tế. Có độc lập, tự chủ thì mới độc lập, tự chủ trong việc tự quyết định lộ trình, bước đi, cách thức, nội dung, biện pháp, đối tác, lĩnh vực,… trong hội nhập quốc tế. Đường lối độc lập, tự chủ của Đảng đã định hướng đúng cho tiến trình hội nhập từ việc lựa chọn lĩnh vực ưu tiên, xác định lộ trình hội nhập phù hợp. Ban đầu, chúng ta chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, sau đó đã từng bước hội nhập toàn diện vào khu vực và quốc tế; quan hệ đối ngoại của nước ta được mở rộng, ngày càng đi vào chiều sâu,… góp phần tạo ra thế và lực mới của đất nước. Quan điểm và chính sách kiên trì độc lập, tự chủ của Đảng luôn được cụ thể hóa, bổ sung và phát triển theo sự chuyển biến của tình hình trong nước và quốc tế. Điều đó đã mở đường cho quá trình hội nhập quốc tế của Việt Nam ngày càng sâu rộng, phục vụ thiết thực, hiệu quả cho sự nghiệp bảo vệ và xây dựng đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa. Ba là, có độc lập, tự chủ thì mới độc lập, tự chủ trong phân tích, xử lý thông tin; lựa chọn, đề xuất các giải pháp thiết thực, đồng bộ, hữu hiệu trước sự thay đổi mau lẹ, hạn chế tác động tiêu cực, phát huy tác động tích cực của tình hình thế giới và khu vực trong quá trình chủ động, tích cực hội nhập quốc tế. Bốn là, độc lập, tự chủ là cơ sở để tận dụng nhiều cơ hội lớn; hạn chế tối đa thách thức do quá trình toàn cầu hóa gây ra, nhất là đối với những nước vừa, nhỏ, đang phát triển như Việt Nam. Năm là, độc lập, tự chủ là cơ sở, điều kiện để nước ta chủ động phát huy lợi thế so sánh trong quá trình hội nhập quốc tế nhằm từng bước phát triển. Chúng ta chỉ có thể xuất khẩu được những mặt hàng có lợi thế, như: các sản phẩm nông nghiệp, ngư nghiệp, lâm nghiệp, may mặc, giày da,… khi hội nhập đầy đủ và sâu rộng vào kinh tế quốc tế. Nhưng nếu không độc lập, tự chủ, thì lợi thế so sánh trong hội nhập sẽ bị các nước lớn lái theo ý họ. Có độc lập, tự chủ thì mới lôi cuốn, kêu gọi các đối tác đến làm ăn tại nước ta, v.v.
Thứ hai, hội nhập quốc tế góp phần tăng cường khả năng giữ vững độc lập, tự chủ của quốc gia, dân tộc. Điều đó được thể hiện: Một là, hội nhập quốc tế sẽ tạo ra những cơ hội, tiền đề cho chúng ta giữ vững độc lập, tự chủ trên mọi lĩnh vực: chính trị, kinh tế, văn hóa, quốc phòng, an ninh, v.v. Thực tiễn hơn 30 năm đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự điều hành, quản lý của Nhà nước, hội nhập quốc tế đã trở thành một trong các nguồn lực quan trọng để chúng ta củng cố độc lập, tự chủ. Chủ động, tích cực hội nhập quốc tế vừa là giải pháp, vừa là động lực để giữ vững độc lập, tự chủ. Hai là, hội nhập quốc tế tạo ra những cơ hội thuận lợi để huy động nguồn lực bên ngoài cho phát triển kinh tế - xã hội trong nước. Thực tiễn đã minh chứng, chính hội nhập quốc tế cho chúng ta những điều kiện để tận dụng được lợi thế của các nguồn lực bên ngoài, như: vốn, kỹ thuật, công nghệ, quản lý, v.v. Ba là, chủ động, tích cực hội nhập quốc tế giúp chúng ta thực hiện hiệu quả công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức. Quá trình toàn cầu hóa đang làm thay đổi phân công lao động trên từng khu vực và toàn thế giới. Chúng ta có thể tận dụng sự tái phân công lao động này để phát huy mặt mạnh và lợi thế so sánh cho phát triển kinh tế. Trên cơ sở đó, rút ngắn quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Bốn là, hiện nay, đang nổi lên nhiều vấn đề an ninh đáng lo ngại, như: chủ nghĩa khủng bố, xung đột tôn giáo, xung đột sắc tộc, chủ nghĩa ly khai, nguy cơ bất ổn chính trị,… đe dọa trực tiếp đến sự ổn định và phát triển của từng quốc gia, khu vực và cả thế giới. Điều này đòi hỏi phải có sự phối hợp chặt chẽ, nhịp nhàng cùng một cơ chế thống nhất, hiệu quả trên cơ sở hợp tác giữa các nước, khu vực cũng như toàn cầu. Muốn vậy, các nước phải cùng nhau hợp tác. Cho nên, chủ động, tích cực hội nhập quốc tế sẽ tạo ra cơ hội, môi trường hòa bình, ổn định để chúng ta phát triển đất nước, trên cơ sở đó góp phần giữ vững độc lập, tự chủ. Năm là, chủ động, tích cực hội nhập quốc tế sẽ giúp chúng ta hội nhập đầy đủ, sâu rộng hơn vào các thể chế kinh tế thế giới, khu vực, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế, giữ vững độc lập, tự chủ.
2. Những định hướng trọng tâm để xử lý mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và chủ động, tích cực hội nhập quốc tế
Để tạo nên những thành tựu to lớn của đất nước và hạn chế tác động tiêu cực trong khi hội nhập, cần tránh cực đoan trong cả nhận thức và hành động, nhất là quan điểm cho rằng: (1). Độc lập, tự chủ là hằng số bất biến, có nội dung không thay đổi, không thể tương dung với hội nhập quốc tế; xem thế giới như một phức thể khó lường nên phải hết sức thận trọng, không nên thúc đẩy hội nhập quốc tế. (2). Trong thời đại của toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, không nhất thiết và không thể duy trì, củng cố độc lập dân tộc, tự chủ. Điều đó cho thấy, việc xử lý mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và chủ động, tích cực hội nhập quốc tế không đơn giản mà phải có sự nghiên cứu thấu đáo và khoa học trên mấy phương diện sau:
Trên lĩnh vực chính trị và đối ngoại, trong cả môi trường quốc tế, khu vực và toàn cầu, xử lý mối quan hệ này cần hiểu rõ, sâu sắc các nhân tố quan trọng sau: Thứ nhất, phải nắm chắc và xử lý tốt môi trường khu vực. Sự ổn định và phát triển, hay sự bất ổn và khủng hoảng tại Đông Nam Á và rộng hơn là châu Á - Thái Bình Dương có ảnh hưởng trực tiếp đến quan hệ đối ngoại của nước ta và ảnh hưởng tới việc bảo vệ, giữ vững độc lập, tự chủ khi hội nhập. Thứ hai, về môi trường quốc tế, độc lập và tự chủ về đối ngoại của Việt Nam luôn chịu ảnh hưởng trong tương quan và quan hệ chiến lược giữa các nước lớn, các trung tâm quyền lực quốc tế. Việt Nam có thể khai thác lợi ích từ hội nhập đến đâu tùy thuộc vào sự ổn định, phát triển trong nước, cũng như năng lực xử lý quan hệ với các nước lớn, các trung tâm quyền lực thế giới, bảo đảm cân bằng lợi ích của nước ta trong quan hệ với họ. Thứ ba, về môi trường toàn cầu, hội nhập và mở cửa tạo cơ hội cho đất nước phát triển nhưng cũng là điều kiện để các thế lực thù địch bên ngoài nhân danh nhân quyền, dân chủ, tôn giáo, can thiệp vào công việc nội bộ, thực hiện “diễn biến hòa bình”, kích động, xúi giục các hoạt động bạo loạn, lật đổ, đe dọa an ninh quốc gia.
Trên lĩnh vực kinh tế, xử lý mối quan hệ này có 4 nội dung chính yếu. Thứ nhất, đẩy mạnh hội nhập kinh tế một cách chủ động và tích cực với việc ký kết chính thức và thực hiện có hiệu quả các hiệp định hợp tác kinh tế quốc tế; xây dựng loại hình các thể chế kinh tế hướng tới hội nhập quốc tế trên cơ sở bảo đảm độc lập, tự chủ. Thứ hai, luôn giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa trong nền kinh tế thị trường. Thứ ba, bảo đảm nền kinh tế của đất nước không bị lệ thuộc vào bên ngoài. Thứ tư, điều cốt lõi nhất để giữ vững độc lập, tự chủ là quốc gia phải có thực lực, cụ thể là có một nền kinh tế độc lập, tự chủ. Đó là nền kinh tế có cơ cấu kinh tế hợp lý, hiệu quả và đảm bảo độ an toàn cần thiết, phát triển bền vững và có năng lực cạnh tranh cao; cơ cấu xuất nhập khẩu cân đối; cơ cấu mặt hàng đa dạng, phong phú, với tỷ lệ các mặt hàng công nghệ và có giá trị gia tăng lớn chiếm ưu thế; cơ cấu thị trường quốc tế và đối tác đa dạng, tránh chỉ tập trung quá nhiều vào một vài mục tiêu, một vài đối tác.
Để bảo đảm chủ quyền quốc gia trên lĩnh vực văn hóa - xã hội, khâu then chốt nhất là không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng và hiệu lực, hiệu quả quản lý văn hóa, xã hội của Nhà nước. Thứ nhất, xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, xây dựng con người mới giàu lòng yêu nước, sáng tạo; làm tốt công tác lãnh đạo, quản lý báo chí, truyền thông và không gian mạng. Thứ hai, các chính sách văn hóa - xã hội, dân tộc, tôn giáo phải được coi trọng, tránh để các thế lực thù địch kích động, chia rẽ; không ngừng củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc; đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao chất lượng và hiệu quả hệ thống cung cấp các dịch vụ công, tăng cường hiệu lực tư pháp, đẩy mạnh phòng, chống tham nhũng. Thứ ba, Việt Nam đã trở thành một nước có mức thu nhập trung bình, nên trọng tâm công tác xã hội chuyển dần từ vấn đề xóa đói, giảm nghèo sang quản trị và an sinh. Do đó, cần tăng cường vai trò của Nhà nước pháp quyền, thực hành dân chủ, mở rộng sự tham gia của người dân vào hoạt động của Nhà nước.
Trên phương diện quốc phòng - an ninh, để giữ vững độc lập, tự chủ khi hội nhập quốc tế, cùng với việc xây dựng tiềm lực quốc phòng, an ninh phải luôn chú trọng giải quyết mối quan hệ giữa: xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; phát triển kinh tế - xã hội với bảo đảm quốc phòng, an ninh; nhiệm vụ quốc phòng, an ninh với công tác đối ngoại. Đồng thời, dự báo đúng tình hình quốc tế, khu vực, những điều chỉnh chiến lược và các quan hệ của các nước lớn có liên quan đến nước ta, từ đó dự liệu trước những khả năng, tình huống để tính đến các phương án đối phó.
Một số vấn đề có tính nguyên tắc: Thứ nhất, lợi ích quốc gia được đặt ở vị trí số một trong mục tiêu chính sách đối nội, đối ngoại và hội nhập quốc tế. Thứ hai, phải thực hiện chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ, không lệ thuộc vào sự chi phối từ bên ngoài. Thứ ba, coi trọng, củng cố và thiết lập quan hệ ngoại giao với các quốc gia láng giềng, xây dựng môi trường hòa bình, thân thiện, hữu nghị, coi đây là nhiệm vụ hàng đầu trong công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế. Thứ tư, xây dựng nền quốc phòng vững mạnh, hiện đại, coi đó là một trong những cơ sở quan trọng để bảo vệ chủ quyền quốc gia và thực thi đường lối đối ngoại. Thứ năm, trên lĩnh vực kinh tế, cần tuyệt đối tránh tình trạng bị lệ thuộc. Thứ sáu, coi trọng và phát triển quan hệ với các nước lớn, vì nước lớn luôn có vai trò ảnh hưởng đến đời sống quan hệ quốc tế, hòa bình, ổn định của khu vực và thế giới. Thứ bảy, xây dựng và thiết lập nền ngoại giao đa phương. Bởi lẽ, cùng với mở rộng ngoại giao song phương với các chủ thể là quốc gia dân tộc, các nước còn tham gia tích cực vào các tổ chức quốc tế và khu vực, coi đó là biện pháp hữu hiệu để hiện thực hóa lợi ích quốc gia, cũng như tăng cường sự hiểu biết và tin cậy lẫn nhau, giữ gìn an ninh và hòa bình khu vực cũng như trên thế giới. Thứ tám, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
3. Thực trạng xử lý mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và chủ động, tích cực hội nhập quốc tế
Quán triệt và từng bước xử lý mối quan hệ trên, chúng ta đã thu được những thắng lợi ấn tượng: “Thực hiện đường lối đối ngoại đúng đắn của Đảng, trong thời gian qua, hoạt động đối ngoại và hội nhập quốc tế của nước ta đã đạt được nhiều kết quả quan trọng. Môi trường hòa bình thuận lợi cho phát triển, độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ tiếp tục được giữ vững”1. Kết quả đó được thể hiện:
Lĩnh vực chính trị, chúng ta đã đẩy mạnh và làm sâu sắc hơn quan hệ với các đối tác, nhất là các đối tác quan trọng đối với sự phát triển của đất nước, đưa khuôn khổ quan hệ đã xác lập vào thực chất: chủ động tham gia và phát huy vai trò tại các cơ chế đa phương, đặc biệt là ASEAN và Liên hợp quốc. Hội nhập quốc tế về chính trị được thực hiện tương đối nhanh, sâu rộng, thực chất cả trên kênh song phương và đa phương. Hội nhập song phương tạo tiền đề để Việt Nam phát huy vai trò trên diễn đàn đa phương, qua đó tạo thuận lợi cho quá trình hội nhập quốc tế sâu rộng hơn. Hội nhập khu vực và hội nhập toàn cầu đã góp phần cải thiện đáng kể tiềm lực trong nước, nâng cao vị thế địa chiến lược của Việt Nam tại khu vực Đông Nam Á, Đông Á, châu Á - Thái Bình Dương và trên phạm vi toàn cầu. Từ một quốc gia mới tham gia vào tiến trình hội nhập, Việt Nam đã trở thành nhân tố tích cực trong khu vực và chủ động đề xuất các sáng kiến, thúc đẩy các liên kết, nhất là trật tự kinh tế, chính trị toàn cầu, trở thành thành viên có trách nhiệm và uy tín trong cộng đồng quốc tế.
Lĩnh vực kinh tế, chúng ta đã xúc tiến mạnh thương mại và đầu tư quốc tế, mở rộng thị trường, khai thác hiệu quả các cơ chế hợp tác quốc tế, các nguồn lực về vốn, khoa học - công nghệ, trình độ quản lý tiên tiến và các thỏa thuận được ký kết, đặc biệt là khu vực mậu dịch tự do song phương và đa phương. Thành công rõ nhất của việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài là đã hình thành các cụm sản xuất và phát triển các ngành sản xuất có trình độ công nghệ tiên tiến. Theo Tổng cục Thống kê, tới năm 2018, đầu tư vào Việt Nam đã đăng ký gần 400 tỷ USD; được xếp vào nhóm 15 quốc gia thu hút FDI hàng đầu thế giới. Hiện nay, cộng đồng tài trợ quốc tế hoạt động thường xuyên ở nước ta đã lên tới hơn 50 nhà tài trợ (gồm cả song phương và đa phương). Ngoài ra, nước ta còn nhận được vốn ODA từ hơn 600 tổ chức phi chính phủ quốc tế. Thành công của hội nhập kinh tế quốc tế đã góp phần tăng cường nguồn lực, tạo điều kiện vật chất - kỹ thuật thuận lợi cho bảo vệ độc lập, tự chủ của đất nước, tạo nền tảng để hội nhập về chính trị và các lĩnh vực khác. Kinh tế phát triển, sức mạnh tổng hợp được tăng lên là nhân tố quan trọng để giữ vững độc lập, tự chủ của đất nước.
Lĩnh vực văn hóa - xã hội, hội nhập quốc tế của nước ta với cộng đồng thế giới đã được đẩy mạnh, đa dạng về hình thức, phương thức, đối tác, có chuyển biến về chất lượng và đi vào chiều sâu, thu hút bạn bè quốc tế đến với Việt Nam ngày một nhiều hơn. Việt Nam đã ký hơn 100 thỏa thuận, điều ước quốc tế song phương có nội dung văn hóa. Riêng năm 2018, khách quốc tế đến Việt Nam đã vượt 15,5 triệu lượt người. Từ thành công của hội nhập trong lĩnh vực này, đã đưa tới việc hình thành nhiều dự án, công trình văn hóa tại Việt Nam với quy mô ngày càng được mở rộng, tạo điều kiện để nhân dân ta có cơ hội tiếp cận và thưởng thức những giá trị văn hóa tiêu biểu của các quốc gia trên thế giới, thúc đẩy tiềm năng sáng tạo của nhân dân. Nguồn lực và động lực về văn hóa - xã hội được tăng cường sẽ là yếu tố quan trọng để chúng ta giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, để văn hóa Việt Nam là ngôi sao lấp lánh trong bầu trời văn hóa các dân tộc trên thế giới.
Hội nhập trên lĩnh vực quốc phòng - an ninh là một trong những nhiệm vụ quan trọng để phục vụ và hỗ trợ cho chính sách chủ động, tích cực hội nhập quốc tế toàn diện của Đảng, Nhà nước ta, vừa phục vụ cho sự nghiệp phát triển của đất nước, vừa bảo vệ độc lập, tự chủ, chủ quyền quốc gia trong bối cảnh môi trường quốc phòng - an ninh trên thế giới và khu vực có những diễn biến phức tạp. Việt Nam đã từng bước mở rộng hợp tác quốc phòng - an ninh với các nước lớn và các nước trong khu vực. Hiện nay, nước ta đã có quan hệ quốc phòng chính thức với gần 70 nước, đặt văn phòng tùy viên quốc phòng tại hơn 30 nước và hơn 40 nước có văn phòng tùy viên quân sự tại Việt Nam. Đồng thời, tham gia tích cực vào các diễn đàn an ninh - quốc phòng khu vực và từng bước tham gia các hoạt động hợp tác quốc tế về an ninh - quân sự toàn cầu.
Giữ vững độc lập, tự chủ trong hội nhập quốc tế là một trong những vấn đề lý luận, thực tiễn quan trọng trong đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Độc lập, tự chủ là nguyên tắc nhất quán, bất di, bất dịch. Quán triệt đường lối đối ngoại của Đảng, quan niệm về độc lập, tự chủ và xử lý mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế cần được tiếp tục nghiên cứu, làm rõ để tạo sự thống nhất cao trong nhận thức và hành động. Thực hiện quá trình hội nhập quốc tế trên các lĩnh vực một cách chủ động, tích cực, sâu rộng và có hiệu quả là phương thức hữu hiệu để chuyển hóa ngoại lực thành nội lực, sức mạnh quốc tế trở thành sức mạnh quốc gia, sức mạnh thời đại thành sức mạnh dân tộc, qua đó giữ vững độc lập, tự chủ, chủ quyền đất nước. Chúng ta cần phát huy kết quả đã đạt được, đồng thời nắm bắt những thay đổi của thời cuộc để có chính sách, biện pháp cụ thể nhằm đạt được những thành công mới trong tình hình mới.
GS, TS. VŨ VĂN HIỀN, Phó Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương
2020年东盟轮值主席国:越南的地位与作用
19:18 |
据《越南之声》,越南将于2020年1月1日担任东盟轮值主席国。这是越南第二次担任该职务。近10年来,国家的势与力不断提高,越南的威望在国际舞台上得到肯定。越南愿继续在东盟发挥作用和责任,保持东盟在全球政治中的提升势头。
再过9个多月越南将正式担任2020年东盟轮值主席国。这既是荣耀,也是越南对东盟的重大责任,更是越南继续为东盟共同体做出有效贡献的良机。因此,准备工作受到高度重视。
为担任东盟轮值主席国做好准备
东盟今后的路必然面临重重挑战。东盟的内部团结和共同利益是否能够让东盟有足够韧性应对战略竞争和外部政治与经济变动。东盟的合作基础及目前的体制框架是否能满足日益增加的互联互通需求?东盟能否满足6.3亿人口的切身利益需求,让他们感到日常生活离不开东盟?应对上述挑战是东盟各国的责任。
这并不是越南首次担任东盟轮值主席国。为了做好准备,越南很早就成立了东盟国家委员会,其下设各个工作组、建立了配合机制。内容方面,越南与各部门和国内外东盟问题专家磋商,确定重点问题及2020年主题。
东盟各国的信任
加入东盟以来,越南一直把东盟视为对外优先。越南曾担任2010年东盟轮值主席国。康拉德·阿登纳基金会(KAS)驻越首席代表彼得·吉尔克就越南在东盟的地位及越南为第二次担任东盟轮值主席国所做的准备表示:“越南体现了建设共同体的出色作用。今后担任东盟轮值主席国,越南的经验将对东盟有好处。越南是国际和地区一体化中的主动和积极成员”。
担任东盟轮值主席国既是成员国的责任、义务,同时也是巨大机会。主席国一方面要继承、发扬东盟取得的成就,一方面要延续东盟正在开展的工作。此外,主席国的能力还体现在推动内部合作和提高东盟的国际地位上。
马来西亚战略与国际问题研究所高级研究员沙赫里曼·洛克曼(Shahriman Lockman)表示:“我认为,越南有能力担任东盟轮值主席国,和2020-2021年任期联合国安理会非常任理事国。这是越南提升话语权乃至代表东盟共同体为联合国做出贡献的良机”。
印度尼西亚前外长马尔迪·纳塔勒加瓦表示:“我十分相信越南能当好2020年东盟轮值主席国。我和学者们看到了越南所做的周密准备。我认为,越南担任东盟轮值主席国不仅仅只是职务的转移,而且还包括具体政策的变化。因此,我相信,东盟将因越南担任2020年东盟轮值主席国受益”。
2020年对东盟和越南是特殊的一年。2020年是东盟共同体成立5周年华诞,是对2015至2020年东盟共同体建设进行中期评估的节点,也是东盟与伙伴一系列行动计划的收官年。对越南来说,2020年是越南加入东盟25周年。因此,担任东盟轮值主席国是越南展现能力、发挥引领作用,不辜负成员国和伙伴的期待和信任的良机。
Chủ tịch ASEAN 2020: Vai trò và trách nhiệm của Việt Nam
18:07 |
(VOV5) - Việt Nam đã và đang sẵn sàng để tiếp tục khẳng định vai trò và trách nhiệm của mình trong ASEAN, duy trì đà tiến triển của ASEAN trong đời sống chính trị toàn cầu.
Việt Nam sẽ đảm nhiệm vai trò Chủ tịch Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) từ ngày 1/1/2020. Đây là lần thứ hai Việt Nam đảm nhiệm vai trò này. Với thế và lực mới của đất nước sau 10 năm, với vai trò ngày càng được khẳng định của ASEAN trên trường quốc tế, Việt Nam đã và đang sẵn sàng để tiếp tục khẳng định vai trò và trách nhiệm của mình trong ASEAN, duy trì đà tiến triển của ASEAN trong đời sống chính trị toàn cầu.
Tại thời điểm này, chỉ còn hơn 9 tháng nữa, Việt Nam sẽ chính thức đảm nhiệm vai trò Chủ tịch ASEAN 2020. Đây vừa là một vinh dự, một trọng trách của Việt Nam đối với ASEAN, vừa là cơ hội để Việt Nam tiếp tục đóng góp hiệu quả cho Cộng đồng ASEAN. Do đó, việc chuẩn bị kỹ lưỡng cho nhiệm kỳ Chủ tịch này được Việt Nam hết sức coi trọng.
Chuẩn bị tốt nhất cho vai trò Chủ tịch ASEAN
Chặng đường tiếp theo của ASEAN chắc chắn còn nhiều thách thức. Sự gắn kết nội khối và các mẫu số lợi ích chung của ASEAN liệu có đủ mạnh để ASEAN giữ vững năng lực tự cường trước các tác động sâu sắc của cạnh tranh chiến lược và những nhiễu động chính trị và kinh tế từ bên ngoài hay không?
Nền tảng hợp tác và khuôn khổ thể chế hiện tại của ASEAN có đáp ứng được nhu cầu liên kết ngày càng gia tăng hay không?
ASEAN đã và sẽ làm được gì để đem lại lợi ích thiết thực nhất cho hơn 630 triệu dân khu vực hay không để họ cảm nhận được ASEAN trong từng nhịp sống hàng ngày của mình?
Tất cả những thách thức này đặt ra trách nhiệm cho mỗi nước thành viên Hiệp hội, đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam sẽ đảm nhận vai trò Chủ tịch ASEAN từ ngày 1/1/2020.
Đây không phải lần đầu tiên Việt Nam làm chủ tịch ASEAN và để chuẩn bị cho lần thứ hai này, Việt Nam đã thành lập Ủy ban quốc gia về ASEAN ngay từ rất sớm. Trong Ủy ban Quốc gia này có các tiểu ban, các trụ cột, quy chế phối hợp. Về nội dung, Việt Nam cũng đã tiến hành xúc tiến, trao đổi với các bộ, ngành, chuyên gia về ASEAN trong và ngoài nước để xác định những vấn đề Việt Nam nên tập trung, chủ đề cho năm 2020.
Sự tin tưởng của các quốc gia thành viên ASEAN
Từ khi gia nhập ASEAN đến nay, Việt Nam luôn coi ASEAN là một trong những ưu tiên đối ngoại hàng đầu. Năm 2010, khi đảm nhiệm vai trò Chủ tịch ASEAN, những dấu ấn của năm với những hành động thiết thực vẫn được tiếp tục triển khai.
Đánh giá về vai trò của Việt Nam trong ASEAN cũng như sự chuẩn bị của Việt Nam cho lần thứ 2 đảm nhận vai trò Chủ tịch ASEAN 2020, ông Peter Girke, Trưởng đại diện Văn phòng Quỹ KAS tại Việt Nam, cho rằng: Việt Nam đã cho thấy vai trò rất xuất sắc trong việc xây dựng cộng đồng tại chính quốc gia này.
Những kinh nghiệm của Việt Nam chắc chắn sẽ có lợi cho ASEAN khi Việt Nam đảm nhận vai trò Chủ tịch của khối ASEAN trong thời gian tới. Việt Nam rõ ràng là một thành viên chủ động, tích cực trong các hoạt động hội nhập khu vực và trên toàn thế giới.
Đảm nhận Chủ tịch ASEAN vừa là trách nhiệm, nghĩa vụ của nước thành viên, đồng thời cũng vừa là một cơ hội rất lớn. Chủ tịch ASEAN phải có trách nhiệm kế thừa, phát huy những gì ASEAN đã đạt được hoặc tiếp nối những gì ASEAN đang triển khai và hơn nữa, năng lực của Chủ tịch còn thể hiện ở việc thúc đẩy hợp tác nội khối và nâng cao vị thế của ASEAN với bên ngoài.
Ông Shahriman Lockman, Viện nghiên cứu chiến lược và quốc tế Malaysia bày tỏ: Tôi cho rằng Việt Nam đang có rất nhiều tiềm năng để vừa đảm nhiệm vai trò Chủ tịch ASEAN, đồng thời cũng ứng cử vào vai trò Ủy viên không thường trực của Hội đồng bảo an Liên Hợp Quốc nhiệm kỳ 2020-2021. Đó là cơ hội để Việt Nam đóng góp không chỉ tiếng nói của mình mà còn đại diện cho cả Cộng đồng ASEAN ở một diễn đàn quan trọng và tầm cỡ như Liên hợp quốc
Còn Nguyên Bộ trưởng ngoại giao Indonesia Marty Netalegawa cũng chia sẻ: "Tôi rất tin tưởng vào việc Việt Nam đảm nhiệm vai trò Chủ tịch ASEAN 2020. Tôi và các học giả đã được chứng kiến được sự chuẩn bị chu đáo của Việt Nam cho quá trình đảm nhiệm này. Tôi cho rằng Việt Nam coi việc đảm nhận vai trò Chủ tịch ASEAN không chỉ đơn thuần là sự chuyển giao kỹ thuật mà còn là các chính sách cụ thể. Chứng kiến sự sẵn sàng này của Việt Nam, tôi cùng các thành viên khác hoàn toàn tin tưởng ASEAN sẽ được hưởng lợi từ vai trò Chủ tịch ASEAN vào năm 2020".
Năm 2020 là một năm rất đặc biệt đối với cả ASEAN và Việt Nam. Với ASEAN, đó là tròn 5 năm thành lập Cộng đồng, là mốc kiểm điểm giữa kỳ việc triển khai xây dựng Cộng đồng 2015-2020, hoàn tất triển khai một loạt kế hoạch hành động giữa ASEAN với đối tác.
Với Việt Nam, 2020 cũng là tròn 25 năm Việt Nam tham gia ASEAN. Như vậy, việc đảm nhận thành công Chủ tịch ASEAN trong năm tới chính là cơ hội để Việt Nam thể hiện năng lực và phát huy vai trò dẫn dắt của mình, đáp ứng sự trông đợi, tin tưởng của các nước thành viên và đối tác.
Hot (焦点)
-
胡志明是二十世纪越南革命杰出的马克思主义思想家。他老人家的思想是马克思列宁主义在符合越南的条件和历史背景基础上的运用、发展与创新,体现着时代精神及现代与当代世界的运动与发展趋势。 1 、胡志明思想、道德、风格体系的道德榜样。他老人家的思想合成了越南革命及革命之路的战略策...
-
为维护国家海岛主权,越南历代封建王朝都着重投资建设强大的水军力量。越南丁、李、陈、黎、阮等王朝的水军力量不断得到加强和完善。这支水军为捍卫祖国事业作出了巨大贡献,在各个阶段留下了历史烙印。 至今还收藏的古籍显示,越南历代封建王朝早已对黄沙群岛和长沙群岛确立主权、实施...
-
1954 年《日内瓦协议》签署之后,越南暂时被分成南北两方不同政治制度的政体。据此,越南北纬 17 度以南的领土(包括黄沙、长沙两群岛)由越南共和国政府管辖。根据《协议》规定,法国殖民者被迫撤离越南之后,西贡政权立即派遣海军力量接管黄沙、长沙两群岛并对其行使主权。与此同时,...
-
(VOVWORLD) - 越南伟大领袖胡志明主席的思想、道德、作风、革命生涯是越南全党、全民学习和实践胡志明道德榜样的生动和具有说服力的楷模。至今,越南开展学习和实践胡志明道德榜样运动已有 8 年并取得多项重要结果。 胡志明主席在其革命生涯中牺牲个人利益,为祖国和人...
-
越南的黄沙群岛位于东海(中国称南海)北边,处于北纬 15°45′ 至 17°15′ 、东经 110° 至 113° ,距越南广义省李山岛约 120 海里。黄沙群岛由 37 多个岛、洲、礁和沙滩组成,分为西面和东面两个群岛。东面为安永群岛(中国称宣德群岛),由 12 个岛、洲...
-
数十年来,中国人拿出大量书籍、资料和史料,企图证明从两千年前的汉朝起,中国人就发现了西沙和南沙(即越南的黄沙群岛和长沙群岛),从而说古代中国发现西沙南沙群岛就足够证明中国对西沙和南沙的不可争议的领土主权。据说,中国人最迟于唐宋发现南沙群岛至今,就一直在岛上及其海域从事生产活...
-
越南对黄沙、长沙两座群岛的主权不仅在越南古籍和古文献中有记载,而且还出现在西方航海家和传教士等的书籍、报纸、地图、日记、航路指南等外国资料中。这些资料描述黄沙、长沙“是越南中部海上的一块沙渚…”,这和越南同一历史时期资料和古地图描述的类似。法国 1936 年在印度支那建立的...
-
BDN - 位于东海边国土陆地呈 “S” 字形的越南,无形中拥有沿着国土走向三千公里海岸及依照 1982 年《联合国海洋法公约》从岸边向外延伸的辽阔海域。这意味着从越南 1982 年 11 月确定和公布的垂直基线算起往外延伸 200 海里宽的海域属越南的主权,被称作专属经济...
-
从十六、十七世纪至今,西方国家的轮船日益频繁来往于东海。他们来到这里,不只为了扩大贸易还为了传教和传播西方文化。在来往东海期间,西方航海家和传教士们以当时最现代的技术很详细地描述和绘画黄沙群岛和长沙群岛,以避免这两个群岛的礁石给来往的船舶造成危害。为此,他们很仔细地研究东海...
-
香港媒体最近透露中国在东海划分“新边界线”的海洋研究项目,为“资源研究”创造了条件,北京对这片海域的主权主张“增添了筹码”。这条新边界线是一条与囊括了蕴藏着丰富矿产和能源资源的东海海域九段线相吻合的实线,九段线内的海域就是北京声索主权的那片海域。 从国际法的角度来看实线...










