Cạnh tranh Mỹ - Trung Quốc - Chiến tranh lạnh kiểu mới

05:30 |

QPTD - Sau khi Liên bang Xô viết sụp đổ (1991), Mỹ trở thành siêu cường duy nhất thế giới, nhưng chẳng được bao lâu, vị trí này bị thách thức bởi đối thủ lớn - Trung Quốc. Sự trỗi dậy mạnh mẽ của Trung Quốc khiến Hoa Kỳ phải triển khai nhiều biện pháp để kiềm chế. Trước tình hình đó, nhiều chiến lược gia cho rằng, quan hệ Mỹ - Trung Quốc có thể bước vào cuộc Chiến tranh lạnh mới.
Nhằm hiện thực hóa “giấc mộng Trung Hoa”, Trung Quốc hoạch định nhiều chiến lược với những chính sách đầy tham vọng có tầm ảnh hưởng tới khu vực và toàn cầu. Nổi bật là Sáng kiến “Vành đai và con đường” được Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình khởi xướng năm 2013 giúp Bắc Kinh khuếch trương sức mạnh, gia tăng ảnh hưởng với các nước để thực hiện mục tiêu trở thành vị trí số một thế giới. Đây được coi là “Dự án thế kỷ”, nhằm tái hiện “Con đường tơ lụa” nổi tiếng hình thành từ thế kỷ thứ II trước Công nguyên, điểm bắt đầu từ Phúc Châu, Hàng Châu, Bắc Kinh (Trung Quốc) qua Mông Cổ, Ấn Độ, Áp-ga-ni-xtan, Ca-dắc-xtan, I-ran, I-rắc, Thổ Nhĩ Kỳ, Hy Lạp và đến cả Nhật Bản. Thông qua sáng kiến này, Trung Quốc muốn tìm kiếm nguồn lực đủ mạnh để đối mặt với những thách thức trong xu thế toàn cầu hóa, nơi sức mạnh chính trị và kinh tế có thể được bảo đảm bởi phạm vi, không gian địa lý. Vì thế, Trung Quốc dự tính lôi kéo các đối tác ở lục địa Á - Âu vào “Vành đai và con đường” nhằm hợp thức hóa vị thế của họ như một tác nhân có vai trò trung tâm, qua đó, sẽ áp đặt một trật tự địa - chính trị mới.
Về mặt quân sự, Trung Quốc thực hiện điều chỉnh chiến lược quốc phòng, nhằm xây dựng quân đội hùng mạnh bậc nhất thế giới. Những năm qua, nước này tăng cường hiện đại hóa quân đội, tập trung cơ cấu lại tổ chức, biên chế, sắp xếp lại lực lượng, áp dụng tiến bộ khoa học - công nghệ trong sản xuất vũ khí, trang bị, phương tiện kỹ thuật,... đến nay sức mạnh quân sự của Trung Quốc đã có những thay đổi đáng kể. Để tăng khả năng răn đe chiến lược, giành quyền kiểm soát trên không, trên biển và tấn công các mục tiêu tầm xa, Trung Quốc liên tục phát triển các loại tên lửa đạn đạo với các phiên bản mới - mang đầu đạn hạt nhân; chế tạo và đưa vào hoạt động máy bay tàng hình J-20, được các nhà phân tích chiến lược ví như F-22, F-35 của Mỹ; tàu sân bay Liêu Ninh và Sơn Đông. Hiện nay, Trung Quốc đang đẩy mạnh ứng dụng công nghệ tiên tiến trong phát triển vũ khí siêu thanh, trí tuệ nhân tạo và phương tiện không người lái. Cùng với việc hiện đại hóa quân đội, Trung Quốc còn xác định lại một số khái niệm tác chiến, nhiệm vụ cho các quân chủng, binh chủng. Theo đó, Hải quân Trung Quốc chủ trương chuyển trọng tâm từ phòng thủ ngoài khơi sang kết hợp với bảo vệ vùng biển mở, tăng cường khả năng cơ động và tác chiến liên hợp trên biển; Không quân chuyển trọng tâm từ phòng thủ lãnh thổ sang tiến công và phòng thủ; Lục quân chuyển từ phòng ngự khu vực sang cơ động liên khu vực và toàn cầu, nâng cao khả năng tác chiến liên chiến trường, v.v.
Xét trên nhiều phương diện cho thấy, Trung Quốc đang muốn kiểm soát trật tự an ninh khu vực thay Mỹ. Điển hình là Bắc Kinh đã nỗ lực điều chỉnh chính sách quốc phòng, an ninh ngay từ cuối thế kỷ trước; định hình khái niệm trật tự khu vực và toàn cầu phù hợp với tham vọng cũng như sự trỗi dậy; lập vùng nhận diện phòng không (ADIZ) trên vùng biển Hoa Đông và quân sự hóa các điểm, đảo nhân tạo ở Biển Đông bất chấp luật pháp quốc tế, v.v. Từ những vấn đề trên, các nhà nghiên cứu cho rằng, Bắc Kinh đang thiết lập một trật tự an ninh khu vực với đặc trưng riêng và ngày càng mở rộng tầm ảnh hưởng so với Mỹ. Do vậy, các cường quốc trong khu vực và Mỹ không còn sự lựa chọn nào khác ngoài việc phải kiềm chế các hoạt động của Bắc Kinh, nhằm giảm sự tác động tới lợi ích của mình và đồng minh.
Những “lá bài” của Mỹ trong nỗ lực kiềm chế Trung Quốc
Sự trỗi dậy của Trung Quốc trên các lĩnh vực: kinh tế, chính trị, quân sự, ngoại giao,… thực sự đáng báo động và khiến Mỹ phải dè chừng. Để ngăn chặn, kiềm chế tầm ảnh hưởng, sự lan rộng của Bắc Kinh, Oa-sinh-tơn đã triển khai chiến lược “xoay trục” sang châu Á - Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương từ thời Tổng thống Gioóc-giơ Bút-sơ và tới nay đang được Đô-nan Trăm thực hiện với các phương thức mới. Trên lĩnh vực quân sự, hiện Mỹ đang có 03 tuyến răn đe chiến lược đều nằm ở Thái Bình Dương. Tuyến thứ nhất là các căn cứ và cơ sở hạ tầng quân sự tại Nhật Bản, Hàn Quốc, Phi-líp-pin và Đài Loan, gần với lãnh thổ Trung Quốc. Mới đây, các quan chức Ô-xtrây-li-a cho biết, chính phủ nước này đang xây dựng thêm một cảng nước sâu đa năng ở khu vực Gờ-ly Poi (Glyde Point), cách cảng Đa-uyn (Darwin) thuộc Lãnh thổ phương Bắc khoảng 40 km, có thể giúp lực lượng thủy quân lục chiến Mỹ hoạt động thuận lợi hơn tại khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương. Nếu nối liền các nước trên sẽ tạo một vòng kiềm chế, ngăn chặn Trung Quốc trở thành một cường quốc biển. Tuyến thứ hai đặt tại đảo Gu-am và Ha-oai; tuyến thứ ba tại Ca-li-phoóc-ni-a và A-lát-xca (Alaska). Theo nhận định của các nhà bình luận quốc tế, Trung Quốc hiện bị giới chính trị Mỹ coi là nguy cơ lớn nhất đối với các lợi ích của Oa-sinh-tơn về lâu dài, nên việc kiểm soát, tiếp cận các vùng biển quốc tế - nơi Hải quân Trung Quốc hiện diện là cần thiết. Tuy nhiên, Mỹ không làm việc này một mình mà sẽ tiến hành cùng các đồng minh: Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan - những nước và vùng lãnh thổ phụ thuộc rất nhiều vào Mỹ và sẽ ủng hộ bất kỳ sáng kiến nào chống Trung Quốc. Ở Nam Á, dù quan hệ Trung Quốc - Ấn Độ không quá xấu, nhưng gần đây nổi lên bất đồng về lãnh thổ, đây cũng là lý do Ấn Độ có thể tham gia kiềm chế Trung Quốc. Việc thành lập một liên minh chống Trung Quốc, gồm: Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Ô-xtrây-li-a, Ấn Độ và một số nước Đông Nam Á có thể sẽ đẩy Trung Quốc vào một tình thế rất khó khăn.
Bên cạnh việc thiết lập vòng vây về quân sự, Oa-sinh-tơn còn triển khai nhiều chính sách đánh vào “tử huyệt” của Bắc Kinh, như: dựng “hàng rào” bao vây một số công ty Trung Quốc đang mở rộng hoạt động tại Mỹ. Cục An ninh công nghiệp Bộ Thương mại Mỹ đã đưa hơn 140 doanh nghiệp Trung Quốc vào “Danh sách thực thể quản chế xuất khẩu”, trong đó có nhiều doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực khoa học - công nghệ cao, nhằm làm suy yếu lợi ích của Trung Quốc, với lý do “an ninh quốc gia và lợi ích ngoại giao”, như: Tập đoàn Hoa Vĩ (Huawei); Viện Nghiên cứu số 2 thuộc Công ty Trách nhiệm hữu hạn khoa học - công nghệ vũ trụ Trung Quốc; Viện Nghiên cứu 13, 14, 35, 38 thuộc Tập đoàn Công nghệ điện tử Trung Quốc; Tập đoàn Xuất nhập khẩu kỹ thuật công nghiệp Trung Quốc; Công ty Trách nhiệm hữu hạn công nghiệp Hoa Đằng Trung Quốc và Tập đoàn Viễn thông Trung Quốc, v.v. Đặc biệt, ngày 20-12-2019, Tổng thống Mỹ ký thông qua Đạo luật ủy quyền Quốc phòng năm 2020, trong đó có nhiều vấn đề liên quan đến Trung Quốc.
Trong khi đó, cuộc chiến thương mại do Mỹ khởi xướng từ tháng 3-2018 được cho là sẽ giáng một đòn chí mạng vào nền kinh tế Trung Quốc vốn đang lung lay bởi chính sách phát triển thiếu bền vững. Đỉnh điểm của cuộc chiến này là việc Mỹ tuyên bố áp thuế 25% đối với 200 tỷ USD hàng hóa nhập khẩu từ Trung Quốc. Bắc Kinh rõ ràng không muốn cuộc chiến thương mại với Oa-sinh-tơn khi kim ngạch song phương đang có lợi cho mình và nước này đang tích lũy được nhiều thành tựu công nghệ từ Mỹ trong quá trình giao thương. Cuộc chiến thương mại với Mỹ sẽ khiến các doanh nghiệp Trung Quốc gặp nhiều khó khăn, bởi Mỹ là bạn hàng lớn nhất, chiếm 18,4% kim ngạch xuất khẩu của nước này. Dù Trung Quốc đã tung nhiều đòn trả đũa đối với Mỹ, song các chuyên gia phân tích cho rằng, cuộc chiến thương mại chỉ có thể làm giảm mức tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội của Mỹ gần 1% trong ngắn hạn, còn Trung Quốc là 5%.
Nguy cơ xuất hiện cuộc Chiến tranh lạnh phiên bản mới
Tương tự cuộc Chiến tranh lạnh bùng nổ vào thế kỷ trước, hiện tại, Mỹ cũng đang đối mặt với một cuộc khủng hoảng niềm tin trước sự trỗi dậy của Trung Quốc và không chấp nhận vị thế siêu cường thế giới của mình bị đe dọa. Theo các nhà nghiên cứu, với những gì đang diễn ra, nguy cơ về một cuộc Chiến tranh lạnh phiên bản mới đang cận kề, tuy nhiên, về hình thức và quy mô sẽ khác với phiên bản trước đây. Cuộc Chiến tranh lạnh giữa Liên Xô và Mỹ là sự cạnh tranh quyết liệt về ý thức hệ xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa, cuộc chạy đua trên lĩnh vực hạt nhân xoay quanh việc giành ưu thế vũ khí chiến lược, gồm: tên lửa đạn đạo xuyên lục địa, máy bay ném bom chiến lược và tàu ngầm hay sự ngăn cách giữa phương Đông và phương Tây mà “Bức tường Béc-lin” là biểu tượng, v.v. Còn cuộc Chiến tranh lạnh giữa Mỹ và Trung Quốc nếu xảy ra, sẽ có quy mô lớn hơn, toàn diện hơn và theo hướng hiện đại, trong đó đáng chú ý là cuộc chạy đua tổng lực về công nghệ. Cụ thể hơn, là sự cạnh tranh giữa chuẩn công nghệ mới và việc sử dụng hệ thống internet. Khi cuộc chiến công nghệ Mỹ - Trung Quốc bùng nổ và lan rộng, nhiều khả năng thế giới sẽ bị chia rẽ bởi những người sử dụng hệ thống internet của Trung Quốc và của Mỹ; hệ điều hành điện thoại di động Hong Meng của Hoa Vĩ hay hệ điều hành Android của Google, IOS của Apple; sử dụng thiết bị 5G của Hoa Vĩ hay của Nokia, Erickson, v.v. Về địa bàn cạnh tranh, sự đối đầu không chỉ giới hạn trên không, trên biển hay mặt đất, mà còn mở rộng trên phạm vi không gian thực lẫn không gian ảo, do đó, an ninh mạng đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc bảo vệ chủ quyền và không gian phát triển. Hiện tại, Mỹ và phương Tây cùng nhau dựng “bức tường” vô hình lẫn hữu hình về công nghệ để bảo vệ các bí quyết, ngăn cản Trung Quốc tiếp cận. Động thái rõ nhất là Mỹ hạn chế tối đa sinh viên, kỹ sư Trung Quốc theo học và làm việc trong các lĩnh vực công nghệ “nhạy cảm”, như: hàng không vũ trụ, tự động hóa, trí tuệ nhân tạo, v.v.
Trước khi diễn ra tình trạng cạnh tranh Mỹ - Trung Quốc như hiện nay, sự tương tác, đan xen về lợi ích giữa hai bên lớn tới mức tưởng chừng không thể tách rời. Về kinh tế, thương mại, Mỹ và Trung Quốc ràng buộc lẫn nhau bởi khối lợi ích có giá trị lên tới trên 2.000 tỷ USD. Ngoài ra, còn có hàng trăm nghìn sinh viên Trung Quốc đang theo học trên khắp nước Mỹ, hàng chục triệu du khách Mỹ đến thăm Trung Quốc hằng năm và ngược lại. Đặc biệt, mới đây Mỹ và Trung Quốc đã đạt được thỏa thuận thương mại giai đoạn 1. Theo đó, Mỹ sẽ ngưng kế hoạch đánh thuế nhằm vào 160 tỷ USD hàng hóa của Trung Quốc, cũng như giảm bớt một số khoản thuế hiện hành, đổi lại, Trung Quốc sẽ đồng ý mua 50 tỷ USD hàng nông sản Mỹ trong năm 2020. Vì thế, nếu cuộc Chiến tranh lạnh giữa Mỹ và Trung Quốc xảy ra, sự cạnh tranh giữa hai cường quốc không chỉ hình thành không gian đối địch khác biệt, mà còn diễn ra trên mọi lĩnh vực: chính trị, quân sự, kinh tế - xã hội,… và hậu quả có thể sẽ rất nặng nề, tác động trực tiếp đến chiến lược phát triển của nhiều quốc gia trên thế giới.
Do vậy, việc nghiên cứu, dự báo chính xác tình hình thế giới, nhất là sự cạnh tranh giữa các cường quốc, nhằm xác định chiến lược phát triển, hạn chế tác động, ảnh hưởng tiêu cực là cần thiết đối với mỗi quốc gia.

Đọc thêm...

越南积极就东盟防务合作进程提出多项倡议

18:35 |

东盟防长非正式会议是在越南担任2020年东盟轮值主席国期间,由越南国防部主办的东盟主要国防军事会议之一,会议为2020东盟年的合作指明方向、同时也为今年底召开的东盟防长会议、东盟防长扩大会议做准备。
由东道国—越南主持,于218日至20日在河内举行的2020年东盟防长非正式会议已成功落幕。会议就东盟各国加强防控疫情中的防务合作问题发表了联合声明。本次会议在肺炎疫情爆发的情况下在最短时间内完成筹备工作并保障与会代表的绝对安全、同时讨论了多项重要内容,再次凸显了越南作为东盟轮值主席在推动防务合作过程中留下的烙印和作出的贡献。
东盟防长非正式会议是在越南担任2020年东盟轮值主席国期间,由越南国防部主办的东盟主要国防军事会议之一,会议为2020东盟年的合作指明方向、同时也为今年底召开的东盟防长会议、东盟防长扩大会议做准备。
本次东盟防长非正式会议是在全世界正面临新冠肺炎疫情爆发并蔓延等非传统挑战的背景下举行,其重要成果是发表了《东盟国防部长关于防控新冠肺炎疫情中的防务合作》联合声明。
值得注意的是,这项联合声明的一项重要内容是东盟各国赞赏和高度评价越南为2020东盟年进行的主动、周到和高效的准备工作,尤其是防控肺炎疫情的准备工作,越南还愿意承办疫情防控圆桌会议。与会各国代表还就基于东盟的倡议和机制加强防控疫情中的防务合作问题达成了共识,并得到东盟军医中心、东盟各国军医领导人会议、东盟军医研讨会和东盟生物化学与辐射专家网络等的支持。
本次会议召开前夕,越南国防部确定防控疫情是保障会议取得成功的头等优先任务。所以越南采取配套措施保障与会代表的安全,如:在机场进行卫生监测,在会议中心喷消毒液和成立移动军医队等。
东盟秘书长林玉辉在评价《东盟国防部长关于防控新冠肺炎疫情中的防务合作》联合声明时说:“越南为此次会议所做的周密准备给我留下了深刻印象,会议在坦率、开放的气氛中讨论了多项内容,这有助于越南为今后举办的东盟国防部长会议和东盟国防部长扩大会议做准备。特别是各国国防部长发表了《东盟国防部长关于抗击新冠肺炎疫情中的防务合作》联合声明,这体现了东道国——越南的引领能力,再次体现了东盟各个成员国在应对新生共同挑战,尤其是防控肺炎疫情中的统一、团结与合作精神。”
本次会议发表的联合声明符合越南作为2020年东盟轮值主席国提出的《齐心协力与主动适应》主题。这表明,这项联合声明有助于东盟各国今后拟定有效的共同行动计划,特别是卫生领域的行动计划。2020年东盟防长非正式会议取得成功将为越南继续良好发挥2020年东盟轮值主席作用注入动力。

Đọc thêm...

Việt Nam tích cực đóng góp nhiều sáng kiến cho tiến trình hợp tác quốc phòng ASEAN

18:13 |

Hội nghị hẹp Bộ trưởng Quốc phòng các nước ASEAN với sự chủ trì của chủ nhà Việt Nam đã diễn ra thành công tại Hà Nội.
Hội nghị diễn ra từ ngày 18-20/2. Việc một Tuyên bố chung về hợp tác quốc phòng trong ứng phó dịch bệnh được thống nhất chỉ trong thời gian ngắn kỷ lục, công tác chuẩn bị và đảm bảo an toàn y tế tuyệt đối cho các đại biểu trong bối cảnh dịch COVID-19 bùng phát, cùng rất nhiều nội dung quan trọng được bàn thảo…, một lần nữa đã khẳng định những dấu ấn và đóng góp của chủ nhà Việt Nam cho tiến trình hợp tác quốc phòng trong Năm Chủ tịch ASEAN 2020.
Là một trong các hội nghị quốc phòng - quân sự chính của ASEAN do Bộ Quốc phòng chủ trì tổ chức khi Việt Nam đảm nhiệm vai trò Chủ tịch ASEAN 2020, ADMM Retreat có vai trò quan trọng trong việc định hướng hợp tác cho Năm ASEAN 2020 và chuẩn bị cho Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN (ADMM), Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN mở rộng (ADMM+) vào cuối năm nay.
Diễn ra trong bối cảnh thế giới đang phải đối mặt với các thách thức phi truyền thống phức tạp, trong đó có dịch COVID-19 bùng phát và lan rộng, điểm nhấn của ADMM Retreat là việc thống nhất ra Tuyên bố chung về hợp tác quốc phòng trong ứng phó dịch bệnh. Trung tướng Vũ Chiến Thắng, Cục trưởng Cục Đối ngoại, Bộ Quốc phòng cho biết: "Trước tình hình diễn biến của COVID-19, thực hiện sự chỉ đạo của lãnh đạo Bộ Quốc phòng Việt Nam, các cơ quan chức năng đã tích cực tham vấn với các nước thành viên để đưa ra sáng kiến xây dựng Tuyên bố chung của Bộ trưởng Quốc phòng các nước ASEAN về hợp tác quốc phòng trong ứng phó dịch bệnh và nhận được sự ủng hộ của các nước. Đặc biệt là Singapore và Campuchia cũng mong muốn được đồng bảo trợ sáng kiến này".
Đáng chú ý, điểm nhấn trong Tuyên bố chung là việc các nước biểu dương, đánh giá cao sự chuẩn bị chủ động, chu đáo, hiệu quả của Việt Nam cho năm 2020, đặc biệt trong việc đối phó với dịch bệnh; hay việc Việt Nam sẵn sàng tổ chức các hội nghị bàn tròn trong việc phòng chống dịch bệnh... Đại biểu các nước cũng nhất trí thúc đẩy hợp tác quốc phòng trong ứng phó dịch bệnh trên cơ sở các sáng kiến và cơ chế của ASEAN, như Trung tâm Quân y ASEAN, Hội nghị Những người đứng đầu quân y các nước ASEAN, Hội thảo Quân y ASEAN và Mạng lưới Chuyên gia Hóa học, Sinh học và Phóng xạ ASEAN…
Nhiều ngày trước khi Hội nghị diễn ra, Bộ Quốc phòng Việt Nam xác định, phòng dịch là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu để bảo đảm cho thành công của ADMM Retreat. Việt Nam triển khai nhiều biện pháp đồng bộ đảm bảo an toàn cho đại biểu như kiểm tra y tế tại sân bay, phun thuốc khử khuẩn tại trung tâm hội nghị, lập đội quân y cơ động…. Đánh giá về sự chuẩn bị của Việt Nam cũng như việc ADMM Retreat ra Tuyên bố chung về ứng phó dịch bệnh, Tổng thư ký ASEAN Lim Jock Hoi nhấn mạnh: " Tôi rất ấn tượng với sự chuẩn bị kỹ càng của Việt Nam cho hội nghị lần này. Các nội dung được bàn thảo tại Hội nghị rất thẳng thắn, cởi mở để chuẩn bị cho các Hội nghị ADMM và ADMM + sắp tới. Đặc biệt, với việc các Bộ trưởng Quốc phòng thống nhất được Tuyên bố chung về phòng chống dịch bệnh đã thể hiện vai trò dẫn dắt của nước chủ nhà Việt Nam; đồng thời cũng thể hiện sự thống nhất, đoàn kết, hợp tác trong ASEAN trong việc xử lý các thách thức chung mới nổi, đặc biệt như vấn đề phòng chống dịch bệnh COVID-19”.
Việc ra Tuyên bố chung về phòng chống dịch bệnh rất phù hợp với chủ đề của Năm ASEAN 2020 mà Việt Nam đưa ra, đó là “Gắn kết và chủ động thích ứng”. Có thể thấy, từ Tuyên bố chung lần này, các nước ASEAN có thể xây dựng được các chương trình hành động chung hiệu quả trong tương lai, đặc biệt là trong lĩnh vực an ninh y tế. Thành công của ADMM Retreat tạo động lực để Việt Nam tiếp tục làm tốt vai trò Chủ tịch ASEAN 2020.

Đọc thêm...

西方资料证明黄沙群岛完全归属越南的主权

04:30 |

    BDN -  Philippe Vandemaelen(1795-1869)1827年在布鲁塞尔出版的地图集是具有国际法律价值和确凿的凭证证明黄沙和长沙两群岛是越南的。依据此地图集,97号、105号、106号和10号地图都明文注释黄沙群岛(Paracels)属于安南帝制(Empire dAnnan)的主权。
     Partie de la Cochinchine地图(106-亚洲)是首次绝对正确的绘制黄沙群岛中最大和最重要礁滩的位置(经度和纬度)、地理特点和西方名称。置于Cochinchine区的地图是安南帝制不可分开的有机部分,十分明显和准确地证明越南对黄沙群岛的主权,并得到国际的认同。
     亚洲地区的地图安排在地图集的第二册,其中包括亚洲几乎所有国家的110张地图。当时的安南帝制的北圻(Tunquin)绘制在第108页的97号地图,柬埔寨和南圻绘制在第115页的105号地图,中圻沿海、海岛及海域(Partie de la Cochinchine)绘制在第116页的06号地图。
     Partie de la Cochichine地图绘制在一张相当于A3纸,绘制越南中部海岸从12纬线(相当于今日的越南中部的庆和省,地图上所标的地名平康(BINK-KANG)和芽庄(NHATRANG)至16纬线(相当于今日的广南省,在地图上的海岸之外出现CHAMPELLA地名,在海上的PARACELS(黄沙)位于从1617纬度,109111经度绘得比较详细和准确。在地图上的黄沙群岛有一些岛礁,在西面有I.PattlesI.Duncan等岛礁,在东面有Tree.II.Lincoln,Bocher au dessas de I eau 等,在西南面有Triton,位于16纬线之下。Investigateur位于东面远方,约在14.5纬线。标志浅海范围线或在510米深度的砂带延长到14纬度,位置相当于在海岸线里面的归仁(QUIN HONE)
     除了被确定为黄沙(PARACELS)以外,地图还有简要介绍有关安楠帝制(Empire dAn nam)的部分,包括自然(Phisique)、政治(Politique)、统计(Statistique)和矿物(Minneralogie)等内容。自XVI世纪开始,在西方国家的一些地图中已绘制东印地区在东海中间出现了ParacelParacels(黄沙)的岛名和PracelParacels西面的海岸地区(相当于越南中部海岸线)被看作为Costa de Paracel(黄沙海岸)。越南研究专家认为,这一事实慷慨证明从第十六世纪黄沙群岛已属于越南的主权。
     在世界地图集中,地理研究学者Philippe Vandemaelen也很明显地绘制中国的边界线。具体是,98号地图绘出越南和中国的边界线,中国边界的最南点止于22纬度。中国海上边界线只延长到 18纬线上面。
     第二十世纪以前的中国地图和西方地图都标明中国的最南端是海南岛-18纬线之上。Philippe Vandermaelen 在地图集中所绘制的中国边界线完全重合中国(1904)绘制公布的《皇朝直省地余全图》。这两张地图都体现中国最南端只到海南岛。黄沙群岛区域(Paracels)是越南的。
     比利时皇家图书馆储存室负责人Marguerite Sylvestre女士告知:1825 PhilippeVandermaelen开始落实绘制和出版世界地图集的计划。这是世界上的地图集首次按照同一个比例、大尺寸共同绘制的,同时也是第一次世界上出现一些地区,诸如美国,北美,南美和澳大利亚。Philippe Vandermaelen绘制的地图集包括6400张,其中越南占4张和有关安南王国的注释(绘于1826年)。安南王国注释部分由法裔的A.Detavaute先生执笔的。
     这部世界地图集按照圆锥投影型绘制的,因此我们一张一张地拆开,然后拼起来就可以构成直径7,75m的地球仪。这是世界上第一部地图集采用石板印刷术(Lithography),大比例印刷的。因为当时采用石板印刷术要的时间长、费用大,所以Philippe当时已利用经纬线和纬度来绘制地图,因此,在研究这部世界地图集时可以认出世界各篇土地的正确位置。这也是世界上第一部地图集使用当时正确的坐标系统。
     Philippe Vandermaelen先生于1795年出生在比利时首都布鲁塞尔的一个富裕家庭。他在地图学研究方面有天赋。1816年成为著名的专家,并全心全意致力于绘制和印刷地图。他通过不懈的努力于1830年完成了当时准确度最高的世界地图集。
     因为在地图科学研究方面做出出色贡献,PhilippeVandermaelen先生1829年成为比利时王国各科学和人文皇家翰林研究院的成员。为了继续推动地图科学研究发展,1830年他创建比利时皇家地理研究院,成立地图公司,并建设了地图印刷厂。
     Philippe Vandermaelen先生的世界地图集很客观及科学地体现各领土地区的界线。这可以视为无价之宝,是强有力、具有高度法律价值的证据证明1974年被中共动用武力攻占的黄沙群岛是属于越南不可争辩的主权,同时也驳斥北京当局有关黄沙群岛主权的一切谬论。

Đọc thêm...

Tư liệu phương Tây chứng minh chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa

03:00 |

BDN - Bộ Atlas thế giới của Philippe Vandermaelen (1795-1869) xuất bản năm 1827 tại Bruxelles là một bằng chứng hùng hồn về giá trị pháp lý quốc tế, chứng minh Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam. Theo tập bản đồ này, Việt Nam được giới thiệu trong các tấm bản đồ số 97, 105, 106, 110 đều có ghi chú rõ ràng, quần đảo Hoàng Sa (Paracels) thuộc chủ quyền của Đế chế An Nam (Empire d’An-nam).
Tờ bản đồ Partie de la Cochinchine (tờ số 106 – Châu Á) là bản đồ đầu tiên đã vẽ một cách tuyệt đối chính xác vị trí (kinh độ, vĩ độ), đặc điểm địa lý, tên gọi của phương Tây đối với các đảo lớn nhất và quan trọng nhất trong quần đảo Hoàng Sa. Bản đồ đặt trong khu vực Cochinchine là một bộ phận hữu cơ không thể tách rời của Đế chế An Nam, minh chứng một cách rõ ràng và chuẩn xác chủ quyền của Việt Nam ở quần đảo Hoàng Sa đã được quốc tế ghi nhận.
Bản đồ khu vực Châu Á được xếp trọn trong một tập (tập thứ hai) của bộ Atlas với 110 bản đồ của hầu hết các quốc gia Châu Á đương thời. Việt Nam hay Đế chế An Nam (Empire d’Annam) khi đó được giới thiệu thông qua 3 tấm bản đồ: Tờ số 97, trang 108 về Bắc Kỳ (Tunquin); tờ số 105, trang 115 về Campuchia và Nam Kỳ (Cambodge et Annam) và tờ số 106, trang 116 về vùng duyên hải, hải đảo và biển khu vực Trung Kỳ (Partie de la Cochinchine).
Tờ bản đồ Partie de la Cochichine vẽ liền một mảnh rộng ngang khổ giấy A3, vẽ đường bờ biển miền Trung từ vĩ tuyến 12 (khu vực tương đương với tỉnh Khánh Hòa hiện nay, mà trên bản đồ có địa danh BINK-KANG (Bình Khang) và NHIATRANG (Nha Trang) đến vĩ tuyến 16 (khu vực tương đương với tỉnh Quảng Nam hiện nay, mà trên bản đồ ở phía ngoài bờ biển có địa danh CHAMPELLA (Cù Lao Chàm). Phía ngoài khơi, PARACELS (Hoàng Sa) được thể hiện khá chi tiết và chuẩn xác trong khoảng từ vĩ độ 16 đến 17 và kinh độ từ 109 đến 111. Quần đảo PARACELS trong bản đồ có các đảo I. Pattles, I. Duncan ở phía tây; Tree. I và I. Lincoln, Bocher au dessas de l’eau ở phía đông và Triton ở phía tây nam, ngay dưới vĩ tuyến 16; Investigateur ở sâu xuống phía nam khoảng vĩ tuyến 14,5 và đường đánh dấu phạm vi biển nông hay dải cát nằm ở độ sâu từ 5 đến 10 mét còn kéo dài đến vĩ độ 14, ngang với QUIN HONE (Quy Nhơn) nằm ở phía trong đường bờ biển.
Bên cạnh khu vực được xác định là Hoàng Sa (PARACELS), bản đồ có một bản giới thiệu tóm tắt về Đế chế An Nam (Empire d’An-nam), bao gồm các nội dung Phisique (tự nhiên), Politique (chính trị), Statistique (thống kê) và Minéralogie (khoáng sản).

Bắt đầu từ thế kỷ XVI đã có một số bản đồ phương Tây vẽ về khu vực Đông Ấn có đánh dấu địa danh Pracel hay Paracels (Hoàng Sa) ở giữa Biển Đông và khu vực bờ biển phía tây Pracel hay Paracels (tương đương với bờ biển miền Trung Việt Nam) được quan niệm là Costa de Paracel (bờ biển Hoàng Sa). Nhiều nhà nghiên cứu Việt Nam cho rằng đó là minh chứng hùng hồn về chủ quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa đã có chí ít từ thế kỷ XVI.
Cùng trong bộ Atlas Thế giới, nhà địa lý học Philippe Vandermaelen cũng thể hiện rõ ràng đường biên giới của Trung Quốc. Cụ thể, tấm số 98 vẽ đường biên giới của Việt Nam với Trung Quốc và điểm cực nam của Trung Quốc kết thúc ở vĩ độ 22. Còn đường biên giới biển của Trung Quốc chỉ đến phía trên vĩ tuyến 18.
Các bản đồ của Trung Quốc và các bản đồ phương Tây từ thế kỷ XX trở về trước đều cho thấy cực nam của Trung Quốc là ở đảo Hải Nam, trên vĩ tuyến thứ 18. Và cách thể hiện biên giới của Trung Quốc tại Atlas của Philippe Vandermaelen cũng trùng với bản đồ Hoàng triều trực tỉnh địa dư toàn đồ của Trung Quốc (1904), hai bản đồ này đều thể hiện cực nam của Trung Quốc chỉ tới đảo Hải Nam. Còn khu vực quần đảo Hoàng Sa (Paracels) là của Việt Nam.
Theo bà Marguerite Sylvestre, chuyên gia phụ trách phông lưu trữ Philippe Vandermaelen tại Thư viện Hoàng gia Bỉ cho biết, năm 1825, Philippe Vandermaelen bắt đầu thực hiện kế hoạch vẽ và xuất bản bộ Atlas thế giới. Đây là bộ Atlas đầu tiên trên thế giới được vẽ chung cùng một tỉ lệ, với kích thước lớn, và cũng là lần đầu tiên trên thế giới xuất hiện một số vùng đất, ví dụ như Mỹ, bản đồ chung giữa Bắc Mỹ và Nam Mỹ, Australia v.v.. Bộ Atlas của Philippe Vandermaelen bao gồm 400 tờ với 6 tập trong đó Việt Nam có 4 tờ và một chú thích về Vương quốc An Nam vẽ năm 1826. Chú thích này viết bởi A.Detavaute, là người gốc Pháp.
Bộ Atlas này được vẽ theo hình chiếu nón nên khi chúng ta cắt từng tờ và ghép lại, có thể tạo thành quả địa cầu có đường kính 7,75 m. Đây cũng là bộ Atlas đầu tiên trên thế giới được in litô với tỷ lệ lớn vì lúc đó việc in bản đồ bằng litô rất lâu và tốn kém. Philippe Vandermaelen đã sử dụng đường kinh độ và vĩ độ để vẽ bản đồ nên có thể nhận biết được vị trí chính xác của các vùng đất trên thế giới khi nghiên cứu bộ bản đồ này. Đây cũng là bộ Atlas đầu tiên trên thế giới sử dụng hệ tọa độ chính xác ở thời kỳ đó.
Ông Philippe Vandermaelen sinh ngày 23/12/1795 tại Bruxelles trong một gia đình giàu có vùng Louvain, Vương quốc Bỉ. Có thiên bẩm về bản đồ học và say mê nghiên cứu, năm 1816 ông trở thành chuyên gia lớn và dồn toàn bộ tâm sức cho vẽ và in bản đồ. Với nỗ lực không ngừng năm 1827 ông hoàn thành bộ Atlas Thế giới có độ chính xác cao nhất thời bấy giờ.
Với những đóng góp của mình cho khoa học bản đồ, năm 1829 trở thành thành viên Viện Hàn lâm Hoàng gia các ngành khoa học và mỹ văn Vương quốc Bỉ. Để tiếp tục thúc đẩy khoa học về bản đồ, năm 1830 Ông Philippe Vandermaelen sáng lập Viện Địa lý Hoàng gia Bruxelles, thành lập công ty bản đồ và xưởng in litô.
Bộ Atlas của ôngPhilippe Vandermaelen thể hiện một cách khách quan, khoa học ranh giới các vùng lãnh thổ lúc bấy giờ. Đây có thể được coi là một tài liệu vô giá, là bằng chứng hùng hồn, có giá trị pháp lý cao khẳng định chủ quyền không thể chối cãi của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam đã bị Trung Quốc dùng vũ lực cưỡng chiếm từ năm 1974, đồng thời bác bỏ những luận điệu sai trái của Bắc Kinh về chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa.

Đọc thêm...

越南共产党领导国家和社会——不可代替的历史性选择

09:30 |

QPTD - 正值越南共产党建党九十周年暨各级党代会及越共十三大即将召开之际,敌对势力及若干“人权”“民主”“人士”加强破坏行动,通过阴险的手段对我党、国家进行破坏。这些人彻底利用民族、宗教等问题以及党员干部政治思想衰退、道德作风腐化、贪污腐败、浪费、环境事故、疫病、自然灾害等复杂问题歪曲事实,把所有的缺陷和不足之处归咎于党的领导,妄图取消越南共产党的领导地位,推翻社会主义制度,推动越南走向资本主义道路。然而,无论他们如何蓄意篡改、贬低和否认,也不可否认越南共产党对国家和社会的领导地位。这体现于以下若干基本问题:
越南共产党的成立是历史的必然要求,满足了越南民族和人民的强烈愿望。越南十九世纪末二十世纪初历史表明,在殖民主义者和封建主义者的奴役、苛刻残暴的剥削与统治下,全国各地以封建思想和资本主义思想为指导的爱国运动和斗争运动此起彼伏,但都遭到失败。其主要原因是路线和思想不符合时代的要求和人民的愿望。尽管遭到惨烈的弹压,单个基层人民和工人阶级的爱国斗争运动仍然蓬勃发展,需要拥有先进革命路线且符合历史发展进程的力量,才有资格代表各阶层人民,拥有足够的威望和能力,领导越南革命走向胜利。
就在整个民族在救国之路上走向僵局之时,阮爱国找到了救国救民之路,即马克思列宁主义方向的革命路线。为了实现救国目标,阮爱国在思想、组织、人员方面上积极做好准备,通过多种途径把马列主义传播到越南,开设训练班,旨在形成领导各阶层人民搞革命的政党。通过阮爱国的周到准备,越南共产党在各共产主义组织合并的基础上,于193023日成立。越南共产党的成立是马列主义与工人运动及爱国运动相结合的成果,越南共产党的成立适应了民族和人民的愿望,因为党有正确的革命路线,包括最优秀的人,代表工人阶级和各阶层人民,满足领导力量以及民族解放、阶级解放的急迫要求,能够激发民族团结力量,赢得群众的信赖。这就是历史的选择。
在党的领导下,越南国家取得了谱写民族历史辉煌篇章的伟大胜利。建党十五年后,越南共产党领导越南人民进行了“翻天覆地”的八月革命,从法国殖民者手中争取了民族独立和自由,越南人民摆脱了殖民地“牛马”身份,成为国家的主人。继而,党领导人民胜利完成了抗法抗美斗争,进行民族解放、祖国统一并走向社会主义,维护国家独立主权、统一和领土完整。
自从在党领导下实行革新开放事业以来,我国在经济、文化、社会、国防、安全、人权等领域上取得了重大的成就。2016-2020年阶段,尽管受到世界及地区经济危机的影响,但越南国内生产总值平均增长率为6.78%,保持较高水平,而且增长率一年比一年提高,属世界及地区高速增长的国家;2020年人均收入约达3000美元;2019年贫困户比例下降到4%,比上年降低了1%;医疗保险覆盖率超过90%;人民的生活水平得到提高,政治稳定、社会发展,国防与安全建设得到加强,越南在国际舞台上的地位于威望得到提升。目前,我国与世界上194个国家和地区建立外交关系,世界各国都承认越南的社会制度。这充分肯定,越南共产党通过正确且合适的路线,得到人民的信赖、爱戴与拥护。这是不可否认的事实。
民族独立与社会主义是唯一正确且符合时代发展的路线。面临苏东社会主义模式的垮塌,敌对势力及若干人认为,那就是马列主义已经过时的明证。然而,实践证明,迄今为止没有任何一种理论学说比马列主义更进步、科学且革命。资本主义模式,包括欧洲、美洲发达国家的资本主义模式尽管取得了许多成就,但还存在着许许多多的利益矛盾,即资本主义不可医治的病根。伊拉克、利比亚、叙利亚等国家的战争和武装冲突以及美国、欧洲若干国家的恐怖主义活动对此做出了证明。此外,工业革命时代生产力量的快速发展也会大力推动生产力量社会化过程,并引起生产关系的变化。这就是社会革命的主要根源,以便形成新的更加美好的社会,正如马列主义所确定的社会主义制度——劳动人民和进步人类所向往并希望和平仁爱相处的为了人类的进步社会。苏东社会主义模式垮台的主要原因是共产主义者未能充分认识马列主义原理并未能正确运用到实践,加之敌对势力加强破坏行动。这不仅是共产主义者而且还是整个人类的惨痛教训。然而,这只是具体模式的垮台,并非马列主义学说的垮台,更不是进步人类所向往的美好未来的垮台。这充分证明,社会主义仍是人类的未来,人类必定会走向社会主义。越南选择并坚持走向社会主义一事完全符合时代趋势,因为这是推动越南民族走向富强和光荣的唯一道路。越南人民相信,选择并授予越南共产党领导全国人民走向社会主义的重任。
越南共产党不断革新和整顿,满足任务要求,满足人民的愿望和信任。为了完成人民交予的任务,我党不断批评与自我批评,坚决纠正错误,克服缺点,进行自我革新、自我整顿,把党建强,因此党领导越南民族走向一次又一次的胜利。目前,充分认识到政治思想衰退、道德作风恶化、“自我演变”、“自我转化”等危机,全党坚决坚持落实第十一届、十二届四中全会决议,不断推动党建设和整顿工作,促进学习与践行胡志明思想、道德、作风,推动反腐斗争,坚决处置违法犯罪行为。党十二大以来,有中央政治局、书记处管理的70个干部受到了纪律处分和刑法处置,其中包括中央政治局委员、中央委员会委员和前委员。这表明,党的反腐斗争、反衰退、反“自我演变”和“自我转化”的斗争没有禁区,任何人在任何岗位上,无论还在位还是已经退休,有犯必处。这是我党对“内忧”——削弱人民对党信任、削减党领导能力与战斗力和偏离党宗旨和目标的“国内敌人”的强烈宣战。从而,有助于防止和遏制消极现象,加强教育锻炼,满足任务要求,巩固人民对党和社会主义制度的信任。
企图“政治多元化”、“多党制”和否认越南共产党领导地位的势力不可能成为代表越南国家和社会的力量,也永远没有能力领导国家和社会。总部设在美国的越南更新革命党(越新)、“民主”活动家、“民事社会”组织一直在号召、宣传西方资产阶级民主,高调要求多元化、多党制,否认共产党的领导。应当肯定说,这些个人和组织只是帝国主义的代表和走狗。敌对势力正在极力搞破坏,让越南社会动荡,以便于在政治和经济上追逐利益。他们没有任何一个比马列主义更进步、科学、革命的思想体系,故而不可能代表越南人民,也毫无资格领导国家和民族走向光荣。
这一事实充分肯定:越南共产党——国家和社会的唯一领导力量是越南民族和人民唯一正确的选择。党的领导地位到现在和未来永远不可取代。妄图淡化党领导地位的否认、抹黑、贬低行为会证明一个事实:党的领导地位更加稳固,人民对党更加信任。(完)

Đọc thêm...

Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo nhà nước và xã hội - sự lựa chọn của lịch sử, không thể thay thế

08:30 |

QPTD - Nhân dịp kỷ niệm 90 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam và tiến hành đại hội đảng các cấp tiến tới Đại hội XIII của Đảng, các thế lực thù địch và một số “nhà hoạt động” của cái gọi là “nhân quyền”, “dân chủ”,… tăng cường chống phá Đảng, Nhà nước ta, với nhiều âm mưu, thủ đoạn tinh vi, thâm độc. Họ triệt để lợi dụng các vấn đề dân tộc, tôn giáo, những khuyết điểm của một số cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tham nhũng, lãng phí, hoặc các sự cố môi trường, dịch bệnh, thiên tai,… để xuyên tạc, bóp méo sự thật; quy chụp tất cả yếu kém, khuyết điểm đều bắt nguồn từ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, hòng xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng ta, xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa, đưa Việt Nam đi theo quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản. Nhưng, dù họ có cố tình xuyên tạc, hạ thấp, phủ nhận thế nào chăng nữa cũng không thể phủ nhận sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội. Điều ấy xuất phát từ mấy vấn đề cơ bản sau:
Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam là một tất yếu lịch sử, đáp ứng yêu cầu của dân tộc và nguyện vọng thiết tha của nhân dân. Lịch sử dân tộc Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX cho thấy, trước ách thống trị, nô dịch, bóc lột hà khắc, tàn bạo của thực dân, phong kiến, trên khắp đất nước đã có nhiều cuộc đấu tranh, phong trào yêu nước theo tư tưởng phong kiến, tư sản nổ ra nhưng đều thất bại, mà nguyên nhân chủ yếu là do đường lối, tư tưởng không phù hợp với thời đại và nguyện vọng của nhân dân. Mặc dù bị đàn áp dã man, nhưng phong trào yêu nước, cuộc đấu tranh của các tầng lớp nhân dân và giai cấp công nhân vẫn phát triển mạnh mẽ, đòi hỏi phải có một lực lượng với đường lối cách mạng tiên tiến, phù hợp với tiến trình phát triển của lịch sử mới đủ tư cách đại biểu cho các tầng lớp nhân dân, đủ uy tín và năng lực để lãnh đạo cách mạng Việt Nam đi đến thắng lợi.
Giữa lúc cả dân tộc đang bế tắc về đường lối cứu nước, Nguyễn Ái Quốc đã tìm ra con đường cứu nước, cứu dân, đó là con đường cách mạng vô sản theo chủ nghĩa Mác – Lê-nin. Để thực hiện được, Người đã tích cực chuẩn bị về tư tưởng, tổ chức, con người, truyền bá chủ nghĩa đó vào Việt Nam bằng nhiều con đường, phương tiện, mở các lớp huấn luyện cán bộ, nhằm hình thành nên một chính đảng để lãnh đạo phong trào đấu tranh của các tầng lớp nhân dân. Với sự chuẩn bị chu đáo của Nguyễn Ái Quốc, ngày 03-02-1930, Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập trên cơ sở các tổ chức cộng sản tiền thân. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác – Lên-nin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước. Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam đáp ứng nguyện vọng của dân tộc và nhân dân, bởi Đảng có đường lối cách mạng đúng, gồm những người ưu tú nhất, đại biểu cho giai cấp công nhân và các tầng lớp nhân dân lao động, đáp ứng yêu cầu bức thiết về lực lượng lãnh đạo, đường lối cách mạng giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, khơi dậy, quy tụ được sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc, được quần chúng nhân dân tin tưởng, đi theo. Đó là sự lựa chọn của lịch sử.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, đất nước Việt Nam đã đạt được những thắng lợi vĩ đại, ghi vào lịch sử dân tộc những trang vàng chói lọi. Ngay khi mới 15 năm tuổi, Đảng đã lãnh đạo dân tộc Việt Nam làm cuộc Cách mạng Tháng Tám “long trời lở đất”, giành độc lập, tự do cho dân tộc sau gần một trăm năm bị thực dân Pháp đô hộ; nhân dân Việt Nam thoát khỏi “kiếp ngựa trâu”, trở thành người làm chủ vận mệnh của mình. Tiếp đó, Đảng lãnh đạo nhân dân tiến hành thắng lợi hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội, bảo vệ vững chắc độc lập chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc.
Từ khi thực hiện đường lối đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng, đất nước ta đạt được những thành tựu to lớn trên các lĩnh vực: kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, bảo đảm quyền con người, v.v. Giai đoạn 2016 - 2020, mặc dù bị ảnh hưởng bởi các cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới và khu vực, nhưng tốc độ tăng trưởng GDP luôn đạt cao, bình quân khoảng 6,78%/năm, năm sau cao hơn năm trước1, thuộc nhóm các nước tăng trưởng cao nhất khu vực và thế giới; thu nhập bình quân đầu người ước đạt 3.000 USD vào năm 2020; năm 2019 tỉ lệ hộ nghèo theo chuẩn mới giảm xuống còn khoảng 4%, thấp hơn 1% so với năm 2018; tỉ lệ bao phủ bảo hiểm y tế đạt trên 90%; đời sống nhân dân được nâng cao; chính trị ổn định, xã hội phát triển, quốc phòng, an ninh được tăng cường, vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao. Việt Nam có quan hệ ngoại giao với 194 nước và vùng lãnh thổ; trong đó, có quan hệ với tất cả các nước lớn và các nước đều thừa nhận, tôn trọng chế độ xã hội ở Việt Nam. Điều đó khẳng định, vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam với đường lối đúng, phù hợp, được nhân dân luôn tin tưởng, giao phó và ủng hộ, đi theo tiếng gọi của Đảng. Đây là điều không ai có thể phủ nhận.
Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là con đường duy nhất đúng và phù hợp với xu thế phát triển của thời đại. Trước sự sụp đổ của mô hình xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu, các thế lực thù địch và một số người cho rằng, đó là bằng chứng của sự sai lầm, lỗi thời của chủ nghĩa Mác – Lê-nin. Song thực tiễn cho thấy, đến nay, chưa hề có một học thuyết nào tiến bộ, khoa học và cách mạng hơn chủ nghĩa Mác – Lê-nin. Các mô hình xã hội ở các nước tư bản chủ nghĩa, kể cả đã phát triển ở châu Âu, châu Mỹ, mặc dù có nhiều thành tựu, nhưng vẫn chứa đựng đầy rẫy những mâu thuẫn lợi ích, căn bệnh bản chất mà chủ nghĩa tư bản không thể khắc phục. Các cuộc chiến tranh, xung đột vũ trang ở I-rắc, Li-bi, Xy-ri; các vụ khủng bố ngay trong lòng nước Mỹ và một số nước ở châu Âu đã minh chứng cho điều đó. Mặt khác, sự phát triển nhanh chóng của lực lượng sản xuất dưới tác động của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ đã và đang thúc đẩy nhanh hơn quá trình xã hội hóa lực lượng sản xuất, dẫn đến thay đổi về quan hệ sản xuất. Đây là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến cách mạng xã hội, hình thành xã hội mới tốt đẹp hơn, như chủ nghĩa Mác – Lê-nin xác định. Đó là xã hội xã hội chủ nghĩa, một xã hội tiến bộ, vì con người, là ước vọng ngàn đời của tất cả người dân lao động, của nhân loại tiến bộ, mong muốn sống trong hòa bình, nhân ái. Sự sụp đổ mô hình xã hội chủ nghĩa hiện thực ở Liên Xô và Đông Âu, mà nguyên nhân trước hết là do những người cộng sản đã nhận thức không đầy đủ và vận dụng sai lầm những nguyên lý của chủ nghĩa Mác – Lê-nin vào thực tiễn, cùng với sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch, là bài học đau đớn không chỉ đối với những người cộng sản, mà cả đối với nhân loại. Song, đó là sự sụp đổ của mô hình cụ thể, tuyệt nhiên không phải là sự sụp đổ của một học thuyết khoa học, càng không phải là sự sụp đổ về một tương lai tốt đẹp mà nhân loại tiến bộ đang hướng tới. Điều đó cho thấy, chủ nghĩa xã hội vẫn là tương lai của loài người; và chắc chắn xã hội loài người sẽ tiến lên chủ nghĩa xã hội. Việc Việt Nam lựa chọn, kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội là hoàn toàn phù hợp với xu thế thời đại, là con đường duy nhất đưa dân tộc Việt Nam đến vinh quang, hùng cường. Nhân dân Việt Nam tin tưởng, lựa chọn, giao phó cho Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo toàn dân tộc tiến lên theo con đường đã lựa chọn.
Đảng Cộng sản Việt Nam luôn tự đổi mới, tự chỉnh đốn đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, nguyện vọng, niềm tin của nhân dân. Để hoàn thành trọng trách mà nhân dân giao phó, Đảng ta luôn tự phê bình và phê bình, kiên quyết sửa chữa khuyết điểm, luôn tự đổi mới, tự chỉnh đốn để “xốc lại đội ngũ”, làm cho Đảng mạnh hơn, nên Đảng đã lãnh đạo toàn dân tộc đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Hiện nay, nhận rõ nguy cơ của sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, toàn Đảng đã kiên quyết, kiên trì thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI, XII) về xây dựng, chỉnh đốn Đảng và đẩy mạnh học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm, v.v. Từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XII đến nay có hơn 70 cán bộ thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý đã bị xử lý kỷ luật và xử lý hình sự, trong đó có cả ủy viên và nguyên ủy viên Ban Chấp hành Trung ương, ủy viên Bộ Chính trị. Điều đó cho thấy, cuộc đấu tranh chống tham nhũng, suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của Đảng là “không có vùng cấm”; bất cứ ai, làm gì, ở cương vị nào, dù đang tại vị hay đã “hạ cánh” nếu sai phạm đều bị xử lý. Đây là lời tuyên chiến quyết liệt của Đảng đối với “giặc nội xâm”, yếu tố lớn nhất làm giảm sút lòng tin của nhân dân đối với Đảng, suy giảm sức chiến đấu, năng lực lãnh đạo của Đảng, xa rời tôn chỉ, mục đích của Đảng. Qua đó, góp phần cảnh tỉnh, răn đe, ngăn ngừa những hành vi tiêu cực; tăng cường giáo dục, rèn luyện đội ngũ đảng viên đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, củng cố niềm tin càng vững chắc của nhân dân đối với Đảng, với chế độ xã hội chủ nghĩa.
Các “lực lượng” chống đối, đòi đa nguyên, đa đảng, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam không thể là lực lượng đại diện và không bao giờ đủ khả năng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Cần khẳng định rằng, các tổ chức và cá nhân, như: Việt Tân (Việt Nam Canh tân cách mạng Đảng, có trụ sở ở Mỹ), các nhà mang danh “dân chủ”, “xã hội dân sự” luôn hô hào, kêu gọi, tuyên truyền dân chủ tư sản phương Tây, lớn tiếng đòi đa nguyên, đa đảng, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam,… chỉ là đại diện và là tay sai đắc lực của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch đang ra sức chống phá hòng làm cho Việt Nam rối ren, bất ổn để dễ bề trục lợi về chính trị và kinh tế. Điều này được chính một số kẻ từng tham gia các tổ chức này thừa nhận. Mặt khác, họ không có và không thể đại diện cho bất cứ một học thuyết nào với tư cách là một hệ tư tưởng tiến tiến, khoa học và cách mạng hơn chủ nghĩa Mác – Lê-nin. Vì vậy, họ không thể đại diện cho nhân dân và không có chút tư cách gì để lãnh đạo đất nước, lãnh đạo dân tộc Việt Nam đi đến vinh quang.
Sự thực hiển nhiên trên đã khẳng định: Đảng Cộng sản Việt Nam, lực lượng duy nhất lãnh đạo Nhà nước và xã hội là sự lựa chọn duy nhất đúng của nhân dân, của dân tộc đối với Đảng. Vai trò đó đến nay và mãi mãi về sau là không thể thay thế. Mọi sự phủ nhận, bôi nhọ, hạ thấp uy tín, hòng làm lu mờ vai trò của Đảng càng cho thấy một sự thật là: Đảng vẫn đang vững vàng với vai trò của mình và niềm tin của nhân dân dành cho Đảng ngày càng vững chắc.

Đọc thêm...

Hot (焦点)