Home » biendao
Chủ Nhật, 3 tháng 8, 2014
CHXHCN Việt Nam có bị ràng buộc bởi công thư 1958?

Cho dù những suy
diễn về ý nghĩa của Công thư 1958 có đi xa như thế nào, cũng như phía Trung
Quốc có đưa thêm bất kỳ bằng chứng gì, thì những gì liên quan tới Hoàng Sa và
Trường Sa xảy ra ngoài lãnh thổ miền Nam Việt Nam trước 24.6.1976 không hề ràng
buộc CHXHCN Việt Nam.
Những
ngày vừa qua, trên báo chí nổi lên cuộc tranh luận về Công thư năm 1958 của Thủ
tướng VNDCCH Phạm Văn Đồng cũng như về một vài tư liệu khác (bản đồ, sách giáo khoa…)
mà ngày 9.6.2014 Trung Quốc đề nghị cho lưu hành tại Liên Hiệp Quốc.
Sau khi
đọc những tài liệu trên và một số bài của các học giả Trung Quốc, tôi thấy cần
phải trao đổi đôi điều về vấn đề thừa kế quốc gia của Việt Nam - một trong
những luận cứ chính mà phía Trung Quốc muốn dùng để bào chữa cho hành động hạ
đặt trái phép giàn khoan Hải Dương-981 trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục
địa Việt Nam.
Một số
khái niệm cơ bản về thừa kế quốc gia
1. Thừa
kế quốc gia là một chế định luật pháp quốc tế khá phức tạp cả về lý luận lẫn
thực tiễn. Cho đến khi ra đời 2 Công ước của Liên Hiệp Quốc (LHQ): Công ước về
thừa kế quốc gia đối với điều ước quốc tế năm 1978; Công ước về thừa kế quốc
gia đối với tài sản, lưu trữ và nợ quốc gia năm 1983, các luật gia trên thế
giới đã tranh luận rất nhiều về vấn đề này.
Căn cứ
vào hai Công ước nói trên, có 3 trường hơp làm phát sinh thừa kế quốc gia, đó
là: Thừa kế khi thuộc địa trở thành quốc gia mới độc lập; Thừa kế khi có sự sáp
nhập hoặc tách rời quốc gia; Thừa kế khi chuyển giao một bộ phận lãnh thổ từ
quốc gia này sang quốc gia khác.
Nhiều
luật gia còn nêu ra trường hợp thừa kế quốc gia sau cách mạng xã hội, nhưng hai
Công ước 1978 và 1983 đã không coi cách mạng xã hội là một trường hợp dẫn đến
thừa kế quốc gia. Như vậy, luật pháp quốc tế coi cách mạng xã hội chỉ làm thay
đổi chế độ chính trị (chính phủ) trong một quốc gia chứ không hình thành nên
một quốc gia - chủ thể mới của luật pháp quốc tế. Trong 3 trường hợp trên, về
khách quan chúng ta đều thấy có sự hiện diện của hai quốc gia là quốc gia tiền
bối (predecessor state) và quốc gia thừa kế (successor state) khác nhau (với
đầy đủ các tiêu chuẩn quốc gia theo Công ước Montevideo, bao gồm: dân cư, lãnh
thổ và một chính quyền độc lập trong quan hệ đối ngoại), còn trong trường hợp
cách mạng xã hội thì tương đối khó chứng minh điều này.
2. Hai
Công ước của LHQ đều định nghĩa: “Thừa kế quốc gia” là sự thay đổi đối với
trách nhiệm về quan hệ quốc tế của lãnh thổ từ một quốc gia này sang một quốc
gia khác. (Succession of
states” means the replacement of one state by another in the responsibility for
the international relations of territory).
Đồng thời với việc xác định ba trường
hợp thừa kế quốc gia, hai Công ước cũng quy định những nguyên tắc pháp lý áp
dụng cho từng trường hợp thừa kế nói trên. Khác với nguyên tắc “thừa kế đương
nhiên và toàn bộ” trong trường hợp sáp nhập hoặc tách rời quốc gia, trường hợp
các quốc gia mới độc lập, nguyên tắc thừa kế quốc gia đối với điều ước quốc tế
cũng như nợ quốc gia được áp dụng trong hai Công ước về cơ bản là nguyên tắc
“xóa sạch” (tabula rasa) hay còn gọi là thừa kế có chọn lọc.
Việt Nam là quốc gia mới độc lập đã
áp dụng nguyên tắc này trong Tuyên ngôn Độc lập do Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc tại
Quảng trường Ba Đình ngày 2.9.1945: “Chúng tôi, Lâm thời Chính phủ của nước
Việt Nam mới, đại biểu cho toàn dân Việt Nam, tuyên bố thoát ly hẳn khỏi quan
hệ thực dân với Pháp, xóa bỏ hết những Hiệp ước mà Pháp đã ký về nước Việt Nam,
xóa bỏ mọi đặc quyền của Pháp trên đất nước Việt Nam”.
3. Mặc dù vậy, vẫn có một nguyên tắc
được áp dụng chung cho tất cả mọi trường hợp thừa kế quốc gia - đó là khi thừa
kế quốc gia liên quan đến biên giới và lãnh thổ. Đ.11 và 12 của Công ước 1978
về thừa kế quốc gia quy định: thừa kế quốc gia không làm ảnh hưởng đến đường
biên giới, chế độ biên giới hoặc quy chế các vùng lãnh thổ được quy đinh trong
các điều ước quốc tế. Nói cách khác tức là các quốc gia thừa kế (ngay cả trường
hợp quốc gia mới độc lập), đều không thể đơn phương hủy bỏ, thay đổi các điều
ước về biên giới, về chế độ biên giới hoặc về quy chế một vùng lãnh thổ nào đó.
Nếu điều ước đó là bất hợp lý thì quốc gia mới được thành lập (quốc gia thừa
kế), trong bất kỳ trường hợp nào, cũng phải đàm phán với các quốc gia liên quan
để sửa đổi.
Đ.11 và 12 làm rõ thêm quy định của
luật pháp quốc tế: tranh chấp về biên giới lãnh thổ không thể giải quyết bằng
các hành động đơn phương, đặc biệt là bằng vũ lực. Điều này vi phạm những
nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế: nguyên tắc cấm sử dụng vũ lưc và đe
dọa sử dụng vũ lưc, nguyên tắc giải quyết tranh chấp quốc tế bằng các biện pháp
hòa bình…
Thừa kế quốc gia của Nhà nước Việt
Nam
1. Trước khi bị Pháp xâm lược, nước
Việt Nam, mà người đại diện là Triều đình của các Hoàng đế nhà Nguyễn, đã là
một quốc gia - chủ thể của luật pháp quốc tế. Các vua chúa nhà Nguyễn là người
đã xác lập và thực thi chủ quyền của quốc gia Việt Nam đối với hai quần đảo
Hoàng Sa và Trường Sa.
Thông qua việc ký Hiệp ước 1884 với
Triều đình Huế, về phương diện pháp lý quốc tế, Pháp đã hoàn tất quá trình biến
Việt Nam thành thuộc địa của mình. Từ thời điểm này, Việt Nam mất độc lập chủ
quyền, không có quan hệ đối ngoại, không phải là chủ thể luật pháp quốc tế.
Theo luật pháp quốc tế thời bấy giờ
thì Pháp là quốc gia thừa kế của Nhà nước phong kiến Việt Nam. Với tư cách đó,
Pháp đã ký Hiệp ước hoạch định biên giới trên bộ với Triều đình nhà Thanh và
khi phân chia các đơn vị hành chính Việt Nam, Pháp đã đưa Hoàng Sa vào quản lý
hành chính của tỉnh Quảng Nam, Trường Sa vào tỉnh Bà Rịa. Cũng với tư cách là
quốc gia thừa kế của Việt Nam, chính phủ Pháp đã cho xây dựng trạm khí tượng
trên Hoàng Sa và cấp phép cho các công ty khai thác phân dơi trên quần đảo này…
Ngày 9.3.1945, Nhật đảo chính Pháp,
chiếm độc quyền cai trị Việt Nam dẫn đến sự kiện Hoàng đế Bảo Đại tuyên bố xóa
bỏ các điều ước bất bình đẳng 1862, 1874, 1884 giữa Việt Nam và Pháp, xóa bỏ
quy chế thuộc địa và việc chia cắt Việt Nam thành ba Kỳ. Nhưng sẽ sai lầm nếu
cho rằng với sự kiện này Việt Nam trở thành quốc gia độc lập có chủ quyền.
Tuyên cáo của Bảo Đại ngày 11.3.1945 nói “nước Việt Nam khôi phục quyền độc
lập” không thể coi là văn kiện làm phát sinh thừa kế quốc gia, nếu có chăng chỉ
là việc Nhật thừa kế các quyền lợi của Pháp tại Việt Nam. Nhật đã thay thế Pháp
quản lý Hoàng Sa và Trường Sa.
2. Với Cách mạng tháng Tám 1945, Việt
Nam trở thành quốc gia độc lập có chủ quyền, chủ thể của luật pháp quốc tế. Như
Chủ tịch Hồ Chí Minh viết trong Tuyên ngôn Độc lập: “Pháp chạy, Nhật hàng, Vua
Bảo Đại thoái vị. Dân ta đã đánh đổ xiềng xích thực dân gần 100 năm nay để xây
dựng nên nước Việt Nam độc lập. Dân ta lại đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế
kỷ để lập nên chế độ dân chủ công hòa… Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do độc
lập và thật sự đã trở thành một nước tự do độc lập”.
Câu nói trên đã khái quát một cách
hết sức cô đọng vấn đề thừa kế quốc gia của Việt Nam. Bởi vì Việt Nam Dân chủ
Cộng hòa (VNDCCH) xuất hiện như một quốc gia mới độc lập - chủ thể luật pháp
quốc tế, nhưng không phải tách ra từ thuộc địa của Pháp, vì “Pháp đã chạy”,
những điều ước của Pháp đã bị xóa bỏ. Nước Việt Nam cũng không phải là quốc gia
thừa kế trực tiếp của Nhật, vì lúc đó Nhật đã đầu hàng Đồng minh. VNDCCH lại
càng không phải là quốc gia thừa kế của Triều đình Huế, bởi vì không thể có
thừa kế quốc gia đối với triều đình bù nhìn.
Việc ngày 23.9.1945, Pháp quay trở
lại xâm lược Việt Nam và trong thời gian đầu chiếm được phần lớn lãnh thổ Việt
Nam không đem lại địa vị pháp lý quốc tế mà Pháp đã có ở Việt Nam trước năm
1945. Đó chỉ là hành động xâm lược đối với một quốc gia đã có độc lập chủ quyền
là VNDCCH. Với sách lược hòa hoãn, VNDCCH đã ký Hiệp định sơ bộ 6.3.1946 cho
nên, về khách quan, giữa VNDCCH và Pháp chưa thể diễn ra việc chuyển giao những
quyền và nghĩa vụ quốc tế cụ thể theo thừa kế quốc gia.
3. Để đối phó với cuộc kháng chiến
của nhân dân Việt Nam, ngày 8.3.1949 Pháp ký với Bảo Đại Hiệp định Élysée, công
nhận “nền độc lập của Việt Nam”, trên cơ sở đó Bảo Đại về nước thành lập Quốc
gia Việt Nam (từ 1956 đổi thành Việt Nam Cộng hòa - dưới dây gọi chung là
VNCH). Hiệp định Élysée 1949 cùng với Hiệp ước trao trao trả độc lập cho Việt
Nam ngày 4.6.1954 được nhiều luật gia miền Nam trước đây coi là hai văn kiện
pháp lý quốc tế đánh dấu sự ra đời của môt quốc gia Việt Nam độc lập - chủ thể
luật pháp quốc tế và là văn kiện quy định về thừa kế quốc gia của Việt Nam sau
khi chấm dứt ách thống trị thực dân của Pháp. Về khoa học pháp lý quốc tế,
những khẳng định này là không đúng.
Từ thời điểm này trên lãnh thổ Việt
Nam song song tồn tại hai chính phủ là VNDCCH và VNCH, cả hai chính phủ này đều
coi toàn bộ lãnh thổ Việt Nam từ Ải Nam Quan đến mũi Cà Mau thuộc quyền quản lý
của mình và chỉ có mình là người đại diện chân chính, hợp pháp duy nhất của
Việt Nam.
Trên thực tế, Pháp đã sử dụng khá
thành công hai văn kiện 1949 và 1954 nói trên để từ chối quan hệ với VNDCCH và
chuyển giao những quyền và nghĩa vụ quốc tế của Việt Nam cho VNCH với tư cách
là quốc gia thừa kế của Pháp. Với sự vận động của Pháp, VNCH đã gia nhập nhiều
tổ chức quốc tế thuộc hệ thống của LHQ như Tổ chức Lao động quốc tế (ILO -
tháng 6.1950), Tổ chức Lương nông quốc tế (FAO - tháng 11.1950), Tổ chức Giáo
dục, Khoa học và Văn hóa của LHQ (UNESCO - tháng 6.1951), Cơ quan Năng lượng
Nguyên tử quốc tế (IAEA - tháng 9.1961)… Phần lớn các nước phương Tây, trong
khi không công nhận VNDCCH, đã thiết lập quan hệ ngoại giao và trao đổi Đại sứ
với VNCH. Họ coi VNCH như là người đại diện cho quốc gia Việt Nam.
VNCH tham dự Hội nghi San Francisco
1951, tại đây đã chính thức khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa,
Trường Sa và sau đó đã tiếp quản và quản lý hai quần đảo này từ tay Pháp
với tư cách quốc gia thừa kế.
Đáp ứng lời kêu gọi của Chính phủ
VNDCCH, bắt đầu từ tháng 1.1950 Trung Quốc, Liên Xô rồi sau đó là một loạt các
nước Xã hội chủ nghĩa (XHCN) công nhận và thiết lập quan hệ ngoại giao với
VNDCCH. Các nước XHCN công nhận VNDCCH như là người đại diện hợp pháp và chân
chính duy nhất của Việt Nam, từ chối quan hệ chính thức với VNCH.
4. Hiệp định Genève 1954 là văn kiện
pháp lý quốc tế đa phương quan trọng đầu tiên công nhận “chủ quyền, độc lập,
thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ” của Việt Nam. Bên cạnh Pháp và VNDCCH, tham dự
Hội nghị Genève cùng với các cường quốc Mỹ, Liên Xô, Trung Quốc, Anh và
Campuchia, Lào còn có đại diện của Quốc gia Việt Nam. Đại diện của Chính phủ
Bảo Đại đã từ chối ký Hiệp định Genève với lý do chính đưa ra là phản đối việc
Hiệp định này chia cắt Việt Nam thành hai miền.
Theo Hiệp định Genève, vĩ tuyến 17,
được dùng làm giới tuyến quân sự tạm thời chia Việt Nam làm hai vùng tập kết
(chính quyền và quân đội VNDCCH tập trung về miền Bắc; chính quyền và quân đội
khối Liên hiệp Pháp tập trung về miền Nam). Mặc dù “Đường ranh giới quân sự tạm
thời này không thể diễn giải bằng bất cứ cách nào rằng đó là một biên giới phân
định về chính trị hay lãnh thổ”. (Đ.6 Tuyên bố chung), nhưng Đ.14 (k.a) lại quy
định "Trong khi đợi tổng tuyển cử thống nhất Việt Nam, bên nào có quân đội
của mình tập hợp ở vùng nào theo quy định của Hiệp định này thì bên ấy sẽ phụ
trách quản lý hành chính ở vùng ấy (TG nhấn mạnh)".
5. Sự phát triển của cuộc đấu tranh
giải phóng đưa đến việc thành lập Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền
Nam Việt Nam (CHMNVN) vào ngày 8 tháng 6 năm 1969. Từ tháng 6.1969 đến cuối năm
1975, CHMNVN đã được hơn 50 nước trên thế giới công nhận và lập quan hệ ngoại
giao.
Trên lãnh thổ Việt Nam xuất hiện thêm
một chính phủ, nhưng khác với VNDCCH và VNCH, CHMNVN chỉ khẳng định chủ quyền
của mình đối với lãnh thổ miền Nam Việt Nam (tức là từ phía Nam vĩ tuyến 17) và
coi mình là “đại diện hợp pháp và chân chính duy nhất cho nhân dân miền Nam
Việt Nam”. CHMNVN được VNDCCH công nhận là chính quyền hợp pháp ở miền Nam Việt
Nam và thiết lập Văn phòng Đại diện có quy chế ngoại giao tại Hà Nội.
Cho đến ngày 30.4.1975, bên cạnh việc
tham dự Hội nghi Paris bốn bên về Việt Nam, CHMNVN vận động để được tham gia
các tổ chức quốc tế liên chính phủ. Đầu tiên là việc gia nhập Phong trào Không
Liên kết tại Hội nghị cấp cao Alger 1973; sau đó là cuộc vận động để tham dự
Hội nghị Ngoại giao về Luật quốc tế Nhân đạo tai Genève năm 1974; CHMNVN đã gửi
Công thư cho Tổng thư ký LHQ yêu cầu được hưởng quy chế Quan sát viên tại tổ
chức này (sau ngày 30.4.1975 CHMNVN tiếp quản quy chế Quan sát viên của VNCH
tại LHQ)…
Đầu năm 1974, khi Trung Quốc xâm
chiếm Hoàng Sa, CHMNVN đã có Tuyên bố chính thức phản đối hành động này vì coi
mình là người quản lý lãnh thổ miền Nam Việt Nam.
6. Ngay sau khi giải phóng hoàn toàn
miền Nam 30.4.1975, CHMNVN đã có một loạt Tuyên bố khẳng định quyền thừa kế đối
với tài sản quốc gia của miền Nam Việt Nam ở nước ngoài. Ví du như: Tuyên
bố ngày 1.5.1975 của Bộ Ngoại giao CHMNVN khẳng định mọi tài sản, bao gồm cả
tài liệu, hồ sơ lưu trữ, tài khoản ngân hàng, trụ sở, phương tiện giao thông và
tất cả những tài sản khác của các cơ quan đại diện của VNCH ở nước ngoài (Đại
sứ quán, Lãnh sự quán, Cơ quan đại diện bên cạnh các tổ chức quốc tế…) là tài
sản của nhân dân miền Nam Việt Nam và phải do CHMNVN quản lý…
Cũng với cách tiếp cận tương tự,
CHMNVN đã đòi quyền đại diện tại hầu như tất cả các tổ chức quốc tế trong và
ngoài hệ thống LHQ mà trước đó VNCH đã tham gia (WHO, ILO, UNESCO, ICAO,
IAEA, IMF, WB…).
Việc CHMNVN tiếp quản các cơ quan đại
diện và tài sản của chính phủ VNCH cũng như quy chế hội viên tại các TCQT diễn
ra thuận lợi, không gặp một trở ngại nào về pháp lý vì các quốc gia và tổ chức
quốc tế đều quan niệm rằng đây chỉ là sự thay đổi chính quyền trên lãnh thổ
miền Nam Việt Nam, không làm phát sinh chủ thể mới luật pháp quốc tế. Theo họ
đây là thừa kế chính phủ chứ không phải thừa kế quốc gia. Việc tuyệt đại đa số
thành viên Hội đồng Bảo an và Đại Hội đồng LHQ khóa XXX (1975) biểu quyết ủng
hộ kết nạp CHMNVN cùng với VNDCCH làm thành viên LHQ càng chứng minh rõ việc
này (năm 1975 không được kết nạp là do phiếu phủ quyết của Mỹ).
Về đối nội, các văn kiện Hội nghị
Hiệp thương chính trị thống nhất tổ quốc diễn ra tại TP.HCM ngày 21.11.1975 đã
khẳng định CHMNVN thi hành quyền lực pháp lý ở miền Nam, còn VNDCCH thi hành
quyền lực ở miền Bắc. Chính quyền CHMNVN đã tổ chức các cuộc bầu cử ở cấp địa
phương, và ban hành các văn bản pháp luật theo thẩm quyền.
Trên biển, quân giải phóng MNVN đã
tiếp thu tất cả các đảo trên biển Đông phía Nam vĩ tuyến 17 do quân đội VNCH
đồn trú mà không gặp phải sự phản đối của bất kỳ quốc gia nào trong cũng như
ngoài khu vực.
7. Tổng tuyển cử bầu quốc hội của
nước Việt Nam thống nhất diễn ra trên toàn lãnh thổ VNDCCH và CHMNVN vào ngày
25.4.1976. Ngày 24.6.1976, Quốc hội Việt Nam thống nhất họp kỳ đầu tiên quyết
định đặt tên nước là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (CHXHCNVN) với Thủ đô
là Hà Nội.
Ngay sau đó, Bộ Ngoại giao CHXHCNVN
có Công thư gửi cho các quốc gia và tổ chức quốc tế thông báo về những quyết
định của Quốc hôi nước Việt Nam thống nhất và về việc hợp nhất cơ quan đại diện
đối ngoại của VNDCCH và CHMNVN ở nước ngoài thành cơ quan đại diện của
CHXHCNVN.
Tuy vậy, vấn đề thừa kế quốc gia của
Việt Nam lúc này diễn ra không hoàn toàn thuận lợi như trước đây. Quan điểm của
CHXHCNVN không công nhận sự ràng buộc đối với những Hiệp định vay nợ mà VNCH đã
ký trước ngày 30.4.1975 đã không được các quốc gia và tổ chức quốc tế chấp
nhận. Quan điểm của các luật gia Việt Nam đấu tranh đòi áp dụng nguyên tắc thừa
kế quốc gia đối với quốc gia mới độc lập cũng không thuyết phục được đối tác
trong các cuộc đàm phán. Các quốc gia và tổ chức quốc tế nhất quán quan điểm
coi CHXHCNVN là chủ thể mới của luật pháp quốc tế, hình thành trên cơ sở sát
nhập VNDCCH và CHMNVN. Ba trường hợp sau sẽ cho thấy thực tiễn giải quyết vấn
đề thừa kế quốc gia của CHXHCNVN.
- VNCH là hội viện sáng lập của Ngân
hàng phát triển châu Á (ADB) từ 1966. Trong gần 10 năm, ADB đã dành cho VNCH 11
khoản vay để thực hiện 9 dự án phát triển. Cho đến 30.4.1975, VNCH còn nợ ADB
5.580.000 USD (gần như tương đương với 5.360.000 USD là khoản đóng góp mà VNCH
đang có tại ADB). Sau khi giải phóng miền Nam, ADB đương nhiên coi CHMNVN là
hội viên thay thế cho VNCH. Nhưng sau khi thống nhất đất nước, để có thể thừa
kế quyền hội viên của CHMNVN thì Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã phải
có Công thư ngày 30.8.1976 gửi cho Chủ tịch ADB tuyên bố thay mặt Chính phủ
CHXHCNVN nhận tất cả những nghĩa vụ đối với các khoản tín dụng mà ADB dành cho
miền Nam Việt Nam trước ngày 24.6.1976.
- Đối với các Hiệp định tín dụng mà
Chính phủ Nhật cho VNCH vay trước 1975, cách giải quyết có khác hơn, nhưng về
nguyên tắc vẫn không thay đổi. Sau những cuộc đàm phán khó khăn và kéo dài, đầu
năm 1978 hai bên đã đi đến thỏa thuận: CHXHCNVN đồng ý trả khoản nợ của VNCH
trong thời hạn 25 năm, để đổi lại, trong vòng 3 năm Nhật viện trợ không hoàn
lại cho Việt Nam một khoản tiền tương đương với khoản nợ của VNCH, đồng thời
trong 2 năm tài khóa 1978 - 1979 Nhật sẽ cung cấp cho CHXHCNVN một khoản tín
dụng 20 tỉ Yên với lãi xuất ưu đãi là 2,78% và thời gian trả nợ là 30 năm.
- Cuộc đàm phán đi đến bình thường
hóa quan hệ giữa Việt Nam và Hoa Kỳ vào những năm 90 của thế kỷ trước cũng
không phải là ngọai lệ, cuối cùng CHXHCNVN cũng đồng ý trả, tuy không phải là
tất cả, những khoản tín dụng hợp lý mà Chính phủ Hoa Kỳ đã ký kết với VNCH.
Công thư 1958 có ràng buộc CHXHCNVN
hay không ?
1. Từ những dẫn chứng trên có thể kết
luận: VNCH là một quốc gia chủ thể của luật pháp quốc tế và những hành động với
tư cách quốc gia phù hợp với luật pháp quốc tế của VNCH cần phải được tôn
trọng. Thực tế lịch sử cho thấy, tất cả những quốc gia bị chia cắt sau Chiến
tranh Thế giới II, đều trở thành các quốc gia độc lập - chủ thể luật pháp quốc
tế (CHLB Đức, CHDC Đức, Triều Tiên, Hàn Quốc…). Việt Nam không phải là ngoại
lệ. Chẳng phải trước kia nhiều quốc gia cũng đã từng không công nhận Hàn Quốc
hoặc Triều Tiên nhưng nay đã có quan hệ ngoại giao với hai quốc gia này. Thực
tế này không cản trở việc thống nhất Hàn Quốc và Triều Tiên trong tương lai
(như trường hợp Việt Nam và Đức).
Chính phủ và các học giả Trung Quốc
đang tìm cách không công nhận thực tế này với ý đồ tranh chấp chủ quyền của
Việt Nam đối với Hoàng Sa và Trường Sa liệu có thể chối cãi được việc họ đã
công nhận trên lãnh thổ Việt Nam giai đoạn 1954 - 6.1976 tồn tại hai quốc gia
chủ thể luật pháp quốc tế thông qua việc bỏ phiếu ủng hộ VNDCCH và CHMNVN cùng
gia nhập LHQ với tư cách là quốc gia hội viên? Và còn nhiều bằng chứng không
thể bác bỏ khác.
2. Với tư cách là quốc gia chủ thể
luật pháp quốc tế, VNCH đã tiếp quản và quản lý Hoàng Sa và Trường Sa phù hợp
với luật pháp quốc tế. Mặc dù năm 1974 Trung Quốc chiếm được Hoàng Sa, nhưng
luật pháp quốc tế đã khẳng định rõ ràng, xâm chiếm bằng vũ lực vĩnh viễn không
đem lai danh nghĩa chủ quyền cho quốc gia đã tiến hành những hành động vi phạm
luật pháp quốc tế.
3. Công thư năm 1958 của Thủ tướng
VNDCCH Phạm Văn Đồng không nói đến hai quần đảo, không thể dùng Công thư
này để khẳng định VNDCCH công nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với Hoàng Sa và
Trường Sa. Tuy vậy, nếu không có Công thư này thì sẽ tránh được những sự lợi
dụng ác ý.
Cho dù những suy diễn về ý nghĩa của
Công thư 1958 có đi xa như thế nào, cũng như phía Trung Quốc có đưa thêm bất kỳ
bằng chứng gì để vu cáo Việt Nam, thì những gì liên quan tới Hoàng Sa và Trường
Sa xảy ra ngoài lãnh thổ miền Nam Việt Nam trước 24.6.1976 không hề ràng buộc
CHXHCNVN. Với tư cách là quốc gia thừa kế của VNDCCH và CHMNVN, những gì liên
quan đến Hoàng Sa và Trường Sa nếu có sự mâu thuẫn giữa hai quốc gia tiền bối
thì những hành động (hơn nữa, đó là những hành động rõ ràng, kiên quyết và phù
hợp với luật pháp quốc tế) của CHMNVN và Chính phủ tiền nhiệm của nó là VNCH,
người thực sự quản lý hai quần đảo này một cách hợp pháp, sẽ có hiệu lực ràng
buộc đối với CHXHCNVN. Điều này được luật pháp quốc tế quy định rõ ràng. Xương
máu bao đời của cả dân tộc Việt nam đã đổ ra để bảo vệ chủ quyền hai quần đảo
sẽ không bao giờ trở thành vô ích.
4. Nếu có ai còn có những định kiến
về học thuật (và cả chính trị, nếu có) thì cũng cần phải nhìn nhận thực tế
khách quan được cả thế giới công nhận trên để đi đến những kết luận đúng đắn về
thừa kế quốc gia của Việt Nam. Như G.V.Goethe, thi hào vĩ đại và là nhà tư
tưởng của nước Đức đã từng nói: “Mọi lý thuyết đều màu xám, chỉ cây đời mãi mãi
xanh tươi”.
(Quốc Pháp)

- Đối thoại biển lần thứ 8: Thúc đẩy hợp tác biển tại Đông Nam Á
- 必须对“绿色宪章”持有正确的看法
- Cần cái nhìn đúng về bản “Hiến chương xanh”
- 应用1982年UNCLOS 促进越南成为海洋强国
- Vận dụng UNCLOS 1982 để đưa Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh
- 心系家乡海洋岛屿
- 越南海警提高国际合作效率
- Cảnh sát biển Việt Nam nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế
- 越南努力减少海洋塑料污染
- Việt Nam tăng cường quản lý giảm ô nhiễm rác thải nhựa đại dương
- 昏果岛的历史、自然条件与发展潜力
- Lịch sử, điều kiện tự nhiên và tiềm năng phát triển của đảo Cồn Cỏ
Hot (焦点)
-
胡志明是二十世纪越南革命杰出的马克思主义思想家。他老人家的思想是马克思列宁主义在符合越南的条件和历史背景基础上的运用、发展与创新,体现着时代精神及现代与当代世界的运动与发展趋势。 1 、胡志明思想、道德、风格体系的道德榜样。他老人家的思想合成了越南革命及革命之路的战略策...
-
为维护国家海岛主权,越南历代封建王朝都着重投资建设强大的水军力量。越南丁、李、陈、黎、阮等王朝的水军力量不断得到加强和完善。这支水军为捍卫祖国事业作出了巨大贡献,在各个阶段留下了历史烙印。 至今还收藏的古籍显示,越南历代封建王朝早已对黄沙群岛和长沙群岛确立主权、实施...
-
1954 年《日内瓦协议》签署之后,越南暂时被分成南北两方不同政治制度的政体。据此,越南北纬 17 度以南的领土(包括黄沙、长沙两群岛)由越南共和国政府管辖。根据《协议》规定,法国殖民者被迫撤离越南之后,西贡政权立即派遣海军力量接管黄沙、长沙两群岛并对其行使主权。与此同时,...
-
(VOVWORLD) - 越南伟大领袖胡志明主席的思想、道德、作风、革命生涯是越南全党、全民学习和实践胡志明道德榜样的生动和具有说服力的楷模。至今,越南开展学习和实践胡志明道德榜样运动已有 8 年并取得多项重要结果。 胡志明主席在其革命生涯中牺牲个人利益,为祖国和人...
-
越南的黄沙群岛位于东海(中国称南海)北边,处于北纬 15°45′ 至 17°15′ 、东经 110° 至 113° ,距越南广义省李山岛约 120 海里。黄沙群岛由 37 多个岛、洲、礁和沙滩组成,分为西面和东面两个群岛。东面为安永群岛(中国称宣德群岛),由 12 个岛、洲...
-
数十年来,中国人拿出大量书籍、资料和史料,企图证明从两千年前的汉朝起,中国人就发现了西沙和南沙(即越南的黄沙群岛和长沙群岛),从而说古代中国发现西沙南沙群岛就足够证明中国对西沙和南沙的不可争议的领土主权。据说,中国人最迟于唐宋发现南沙群岛至今,就一直在岛上及其海域从事生产活...
-
越南对黄沙、长沙两座群岛的主权不仅在越南古籍和古文献中有记载,而且还出现在西方航海家和传教士等的书籍、报纸、地图、日记、航路指南等外国资料中。这些资料描述黄沙、长沙“是越南中部海上的一块沙渚…”,这和越南同一历史时期资料和古地图描述的类似。法国 1936 年在印度支那建立的...
-
BDN - 位于东海边国土陆地呈 “S” 字形的越南,无形中拥有沿着国土走向三千公里海岸及依照 1982 年《联合国海洋法公约》从岸边向外延伸的辽阔海域。这意味着从越南 1982 年 11 月确定和公布的垂直基线算起往外延伸 200 海里宽的海域属越南的主权,被称作专属经济...
-
从十六、十七世纪至今,西方国家的轮船日益频繁来往于东海。他们来到这里,不只为了扩大贸易还为了传教和传播西方文化。在来往东海期间,西方航海家和传教士们以当时最现代的技术很详细地描述和绘画黄沙群岛和长沙群岛,以避免这两个群岛的礁石给来往的船舶造成危害。为此,他们很仔细地研究东海...
-
香港媒体最近透露中国在东海划分“新边界线”的海洋研究项目,为“资源研究”创造了条件,北京对这片海域的主权主张“增添了筹码”。这条新边界线是一条与囊括了蕴藏着丰富矿产和能源资源的东海海域九段线相吻合的实线,九段线内的海域就是北京声索主权的那片海域。 从国际法的角度来看实线...
Comments[ 0 ]
Đăng nhận xét