Định vị Việt Nam khi hội nhập sâu, rộng với khu vực và quốc tế
Trong
bối cảnh cách mạng công nghiệp lần thứ tư và hội nhập khu vực và quốc tế ngày
càng sâu rộng, khoa học và công nghệ đã, đang khẳng định vai trò quan trọng
trong tiến trình hội nhập đó. Việt Nam học là môn khoa học liên ngành, nghiên cứu
về Việt Nam thông qua các lĩnh vực của khoa học xã hội nhân văn đã có những bước
tiến góp phần nâng cao vị thế Việt Nam trên trường quốc tế. Tuy nhiên, để quảng
bá, phát huy giá trị Việt thì nội lực nghiên cứu ở trong nước cần phải được
nâng cao hơn nữa.
“Bản sắc Việt” trong hội nhập
Mới
đây, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam phối hợp Đại học Quốc gia Hà Nội tổ
chức thành công hội thảo quốc tế Việt Nam học lần thứ sáu với chủ đề: “Việt Nam
chủ động hội nhập và phát triển bền vững”. Hội thảo góp phần làm rõ hơn các
thành tựu phát triển kinh tế - xã hội của nước ta trong quá trình hội nhập và
hướng tới sự phát triển bền vững. Đồng thời, quảng bá hình ảnh Việt Nam ra thế
giới về một Việt Nam chủ động, sáng tạo, thành công trong phát triển kinh tế.
Đây
cũng là cơ hội để các nhà nghiên cứu trong nước và nước ngoài chia sẻ các thành
tựu nghiên cứu về Việt Nam, qua đó, có những kiến nghị và đề xuất giải pháp,
chính sách thúc đẩy hội nhập và phát triển bền vững ở nước ta. Ngoài ra, các
nhà khoa học đã chia sẻ, đánh giá những thành tựu đạt được trong nghiên cứu, giảng
dạy Việt Nam học thời gian qua và chỉ ra những bất cập, hạn chế cũng như xác định
đường hướng phát triển của Việt Nam.
PGS,
TS Bùi Nhật Quang, Ủy viên Trung ương Đảng, Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học xã hội
Việt Nam, chia sẻ: Điểm nổi bật nhất của hội thảo quốc tế Việt Nam học lần thứ
sáu là các nhà khoa học đã đề cập đến những nghiên cứu về Việt Nam từ nhiều
khía cạnh, nhiều phương diện. Ngoài những vấn đề về tư tưởng, lịch sử, ngôn ngữ,
văn học, dân tộc... hội thảo còn tập trung vào mối quan hệ của Việt Nam với thế
giới, đề cập toàn diện các vấn đề kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, môi trường…
của nước ta từ góc độ Việt Nam học.
Đây
là cơ hội để Việt Nam giới thiệu với bạn bè quốc tế về kho tàng văn hiến và những
thành quả phát triển ngày nay. Sứ mệnh của các nhà khoa học Việt Nam không chỉ
dừng lại ở việc nghiên cứu, chú giải lịch sử hào hùng của dân tộc, mà còn phải
xuất phát từ chính thực tiễn của đất nước, tìm ra lời giải để khai phóng sức mạnh
tiềm tàng, hướng đến một tương lai tươi sáng của đất nước.
Thực
tế cho thấy, sự nghiên cứu về Việt Nam ngày càng lớn. Khá nhiều học giả trên thế
giới tập trung nghiên cứu về nước ta ban đầu để tìm lời giải cho câu hỏi vì sao
chúng ta có thể giành thắng lợi trong cuộc chiến không cân sức. Rồi một cách tự
nhiên, những nghiên cứu về lịch sử, văn hóa, con người, đất nước Việt Nam ngày
càng thu hút sự quan tâm của các nhà Việt Nam học đến từ Nga, Pháp, Nhật Bản,
Trung Quốc... Đến nay, ngày càng có nhiều nhà Việt Nam học trẻ tuổi say mê
nghiên cứu tìm hiểu về Việt Nam và có những công bố xuất sắc.
PGS,
TS Bùi Xuân Đính, nguyên cán bộ Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam cho biết
thêm: Ngành “Việt Nam học” ra đời vào những năm 2001 - 2002, ở một số trường đại
học và đến năm 2007 - 2008 có mặt ở 76 trường đại học và cao đẳng trên cả nước.
Ngay từ khi ra đời, “Việt Nam học” đã được nhiều nhà khoa học ngoài nước cũng
như người Việt Nam đang sinh sống ở nước ngoài quan tâm, muốn tìm hiểu sâu. Hằng
năm, các nhà nghiên cứu đó gặp gỡ để trao đổi với nhau về kết quả và định hướng
nghiên cứu; dần dần hình thành ngành “Việt Nam học” ở các nước đó. Từ trao đổi ở
nước mình, các nhà khoa học các nước có nhu cầu sang Việt Nam nghiên cứu thực địa,
trao đổi thực tế, kinh nghiệm nghiên cứu và giới khoa học Việt Nam cũng có nhu
cầu trao đổi học thuật với học giả các nước.
Phát triển ngành Việt Nam học theo
định hướng khu vực
Hội
thảo quốc tế Việt Nam đã qua sáu lần, với các chủ đề khác nhau, nhưng vẫn có những
băn khoăn. Đây là “Hội thảo quốc tế”, nhưng số nhà khoa học từ nước ngoài còn
ít. Trong hơn 400 báo cáo gửi đến được “phê duyệt”, chỉ có gần 50 báo cáo của
các nhà nghiên cứu người nước ngoài và của người Việt Nam đang sinh sống, học tập
ở nước ngoài. Ở nhiều tiểu ban, lĩnh vực, vắng bóng những nhà khoa học tên tuổi,
mà chủ yếu là các nhà nghiên cứu trẻ, các nghiên cứu sinh, học viên cao học...
Mặt
khác, nhiều nhà khoa học cho rằng, do quan niệm về đối tượng “Việt Nam học” rất
rộng, trải dài trên nhiều lĩnh vực của khoa học xã hội và nhân văn, mặc dù ban
tổ chức đã cố gắng phân các báo cáo thành các chủ đề thích hợp và “loại” bỏ những
báo cáo “xa” chủ đề, nhưng vẫn lọt những báo cáo vừa không phù hợp, vừa không
có được các giá trị khoa học. Trong quá trình nghiên cứu và thảo luận nhiều
quan điểm chưa thống nhất, nhiều vấn đề chưa có lời giải... song đây cũng là chất
liệu quý báu để các nhà khoa học tìm kiếm cơ hội thảo luận sâu hơn, hiệu quả
hơn.
Từ
thực tế nghiên cứu Việt Nam tại Nhật Bản trong 20 năm qua, Giáo sư Furuta
Motoo, nguyên Chủ tịch Hội Nhật Bản nghiên cứu Việt Nam, Hiệu trưởng Trường đại
học Việt Nhật, Đại học Quốc gia Hà Nội, đã chỉ ra những thách thức hiện tại và
triển vọng hướng tới tương lai. Theo đó cần đa dạng hóa và tiếp cận thực tế xã
hội Việt Nam qua điều tra điền dã là thế mạnh của ngành Việt Nam học tại Nhật Bản
hiện nay. Tuy nhiên, số lượng nhà nghiên cứu về Việt Nam học đang dần thu hẹp.
Do vậy, trong tương lai, cần phát triển ngành Việt Nam học theo định hướng khu
vực học để làm sáng tỏ vị trí của Việt Nam trên trường quốc tế và định nghĩa lại
bản sắc Việt Nam.
Tham
gia tại phiên khai mạc, Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam cho rằng: Bên cạnh những thời
cơ, thuận lợi, Việt Nam cũng như các quốc gia khác đều đang đối mặt với nhiều
thách thức, nhiều vấn đề mới, cần được nhận thức đúng đắn và giải quyết kịp thời,
hiệu quả. Giới khoa học nói chung và những người nghiên cứu Việt Nam học nói
riêng đứng trước đòi hỏi tiếp tục đi sâu làm rõ các giá trị, các tiềm năng và
phương cách để phát huy các giá trị, khơi dậy các tiềm năng, biến thành năng lực
nội sinh để đất nước phát triển nhanh hơn, bền vững hơn. Để làm được điều này,
những giá trị khoa học xã hội nhân văn phải được tôn trọng và khai thác đúng tầm;
phải được coi là một trong những nguồn tài nguyên quan trọng.
Mặt
khác, các nhà khoa học Việt Nam tiếp tục nghiên cứu, đánh giá về hệ giá trị con
người Việt Nam, hệ giá trị quốc gia trong tình hình mới. Trong đó, chú ý đến những
điểm mới, cách tiếp cận mới; phải quan tâm cả về mặt nhận thức, lý luận và thực
tiễn, để những đề xuất liên quan chính sách phát triển văn hóa, con người thật
sự đi vào cuộc sống, phù hợp thực tiễn.
Chia
sẻ một số kinh nghiệm giảng dạy ngành Việt Nam học tại Trường đại học Charles,
Crech, Tiến sĩ Bình Slavická cho biết, ngành Việt Nam học được coi là một trong
những ngành chiến lược của Khoa Triết học, Trường đại học Charles. Nguyên tắc
giảng dạy tiếng Việt ở Trường đại học Charles là: Lấy ngữ âm ngữ pháp làm trọng,
kỹ năng diễn đạt nói, nghe, đọc, viết là đích.
Chương
trình giảng dạy tiếng Việt dành cho ngữ âm chiếm phần lớn thời lượng. Điều đó
cho thấy việc quan tâm đúng mức về ngữ âm đem lại sự tự tin nhất định cho người
học. Bên cạnh đó, các hiện tượng ngữ pháp được giảng viên giới thiệu từ đơn giản
đến phức tạp và minh họa bằng những thí dụ cụ thể, dễ hiểu, giúp sinh viên nắm
vững nội dung của bài trước để hiểu được bài tiếp theo.
Các nhà khoa học cũng cho rằng, cần nghiên cứu, đề xuất những giải pháp cụ thể, khoa học nhằm phát huy được tài nguyên văn hóa của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Coi bản sắc và những giá trị truyền thống là gốc của sự phát triển. Cùng với đó, cần có những cách tiếp cận mới về khái niệm công nghiệp văn hóa trên cơ sở tổng kết thực tiễn. Nghiên cứu một cách bài bản, căn cơ để làm rõ nội hàm khơi dậy khát vọng phù hợp đặc điểm của Việt Nam; xác định đúng những cấu trúc, yếu tố, bài học từ quá khứ và kinh nghiệm của các nước trên thế giới.
Hot (焦点)
-
胡志明是二十世纪越南革命杰出的马克思主义思想家。他老人家的思想是马克思列宁主义在符合越南的条件和历史背景基础上的运用、发展与创新,体现着时代精神及现代与当代世界的运动与发展趋势。 1 、胡志明思想、道德、风格体系的道德榜样。他老人家的思想合成了越南革命及革命之路的战略策...
-
为维护国家海岛主权,越南历代封建王朝都着重投资建设强大的水军力量。越南丁、李、陈、黎、阮等王朝的水军力量不断得到加强和完善。这支水军为捍卫祖国事业作出了巨大贡献,在各个阶段留下了历史烙印。 至今还收藏的古籍显示,越南历代封建王朝早已对黄沙群岛和长沙群岛确立主权、实施...
-
1954 年《日内瓦协议》签署之后,越南暂时被分成南北两方不同政治制度的政体。据此,越南北纬 17 度以南的领土(包括黄沙、长沙两群岛)由越南共和国政府管辖。根据《协议》规定,法国殖民者被迫撤离越南之后,西贡政权立即派遣海军力量接管黄沙、长沙两群岛并对其行使主权。与此同时,...
-
(VOVWORLD) - 越南伟大领袖胡志明主席的思想、道德、作风、革命生涯是越南全党、全民学习和实践胡志明道德榜样的生动和具有说服力的楷模。至今,越南开展学习和实践胡志明道德榜样运动已有 8 年并取得多项重要结果。 胡志明主席在其革命生涯中牺牲个人利益,为祖国和人...
-
越南的黄沙群岛位于东海(中国称南海)北边,处于北纬 15°45′ 至 17°15′ 、东经 110° 至 113° ,距越南广义省李山岛约 120 海里。黄沙群岛由 37 多个岛、洲、礁和沙滩组成,分为西面和东面两个群岛。东面为安永群岛(中国称宣德群岛),由 12 个岛、洲...
-
数十年来,中国人拿出大量书籍、资料和史料,企图证明从两千年前的汉朝起,中国人就发现了西沙和南沙(即越南的黄沙群岛和长沙群岛),从而说古代中国发现西沙南沙群岛就足够证明中国对西沙和南沙的不可争议的领土主权。据说,中国人最迟于唐宋发现南沙群岛至今,就一直在岛上及其海域从事生产活...
-
越南对黄沙、长沙两座群岛的主权不仅在越南古籍和古文献中有记载,而且还出现在西方航海家和传教士等的书籍、报纸、地图、日记、航路指南等外国资料中。这些资料描述黄沙、长沙“是越南中部海上的一块沙渚…”,这和越南同一历史时期资料和古地图描述的类似。法国 1936 年在印度支那建立的...
-
BDN - 位于东海边国土陆地呈 “S” 字形的越南,无形中拥有沿着国土走向三千公里海岸及依照 1982 年《联合国海洋法公约》从岸边向外延伸的辽阔海域。这意味着从越南 1982 年 11 月确定和公布的垂直基线算起往外延伸 200 海里宽的海域属越南的主权,被称作专属经济...
-
从十六、十七世纪至今,西方国家的轮船日益频繁来往于东海。他们来到这里,不只为了扩大贸易还为了传教和传播西方文化。在来往东海期间,西方航海家和传教士们以当时最现代的技术很详细地描述和绘画黄沙群岛和长沙群岛,以避免这两个群岛的礁石给来往的船舶造成危害。为此,他们很仔细地研究东海...
-
香港媒体最近透露中国在东海划分“新边界线”的海洋研究项目,为“资源研究”创造了条件,北京对这片海域的主权主张“增添了筹码”。这条新边界线是一条与囊括了蕴藏着丰富矿产和能源资源的东海海域九段线相吻合的实线,九段线内的海域就是北京声索主权的那片海域。 从国际法的角度来看实线...




Comments[ 0 ]
Đăng nhận xét