Đấu tranh chống “xâm lăng văn hóa” trong tình hình hiện nay

16:16 |
Nhằm chống phá cách mạng Việt Nam, các thế lực thù địch và cơ hội chính trị không từ một thủ đoạn nào; trong đó, truyền bá các sản phẩm văn hóa độc hại làm băng hoại những giá trị truyền thống, tinh hoa văn hóa tốt đẹp của dân tộc, từng bước làm chệch hướng đời sống văn hóa xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam luôn được chúng coi trọng. Thực chất đây là hình thức “xâm lăng văn hóa” rất nguy hiểm, đòi hỏi chúng ta phải luôn nêu cao cảnh giác và chủ động đấu tranh.
Nhận diện thủ đoạn “xâm lăng văn hóa” trong chiến lược “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch hiện nay
Mục tiêu “xâm lăng văn hóa” của các thế lực thù địch là tiêm nhiễm văn hóa xấu độc, làm xói mòn giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc; đồng thời, từ lĩnh vực văn hóa chuyển hóa dần sang lĩnh vực chính trị, hình thành ý thức chống đối về chính trị, phản bội lại Đảng, chống lại chế độ xã hội chủ nghĩa.
Đối tượng chúng hướng tới là nhân dân, trước hết là lớp trẻ đang trong quá trình phát triển và hoàn thiện nhân cách, bản lĩnh chưa vững vàng, còn ít kinh nghiệm sống. Chúng dùng nhiều thủ đoạn tinh vi, chiêu trò thâm hiểm; đặc biệt là chiến thuật “tâm công” theo phương châm “mưa dầm thấm lâu” để đánh vào lòng người. Chúng lợi dụng các phương tiện thông tin, truyền thông để truyền bá các sản phẩm văn hóa xấu độc, ngoại lai cùng những hành vi phản nhân văn, phi tiến bộ để tác động vào tâm lý, sở thích, kích thích những ham muốn vật chất tầm thường của mỗi người. Qua đó, từng bước làm thay đổi các thang giá trị xã hội, đạo đức, lối sống, làm cho một số người sao nhãng nghĩa vụ, trách nhiệm; khơi dậy bản năng thấp hèn, chạy theo lạc thú, lợi ích vật chất, chỉ lo “cái tôi” mà quên đạo nghĩa, quay lưng lại với truyền thống và những giá trị hiện hữu tốt đẹp của dân tộc. Cùng với công kích chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chúng ra sức xuyên tạc chủ nghĩa yêu nước Việt Nam; phủ nhận giá trị của hai cuộc kháng chiến chống thực dân, đế quốc xâm lược trước đây và sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc của dân tộc hiện nay; đánh đồng chính nghĩa và phi nghĩa, làm lẫn lộn vai trò của những chiến sĩ cách mạng chân chính với những kẻ cướp nước, bán nước. Chúng tuyên truyền các giá trị văn hóa phương Tây; phủ nhận tính giai cấp, tính Đảng của văn hóa - văn nghệ và đòi tách lĩnh vực này ra khỏi đời sống chính trị - xã hội của đất nước. Đồng thời, đề cao chủ nghĩa cá nhân và chủ nghĩa cơ hội trong văn hóa - văn nghệ; hạ bệ những tác phẩm đỉnh cao chứa đựng sâu sắc tính nhân văn, chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa anh hùng cách mạng của nhân dân ta,… tiến tới phủ nhận sự lãnh đạo của Đảng đối với văn hóa - văn nghệ. Đặc biệt là, các thế lực thù địch còn dùng mọi thủ đoạn để kích động, lôi kéo, lung lạc đội ngũ nhà văn, nghệ sĩ hoạt động trong lĩnh vực văn học - nghệ thuật; thực hiện âm mưu ly gián về nhân tâm, tư tưởng và chia rẽ về tổ chức, lôi kéo văn nghệ sĩ đi theo các trào lưu tư tưởng văn hóa phương Tây, đào sâu “tự do, dân chủ” trong sáng tác, thành lập cái gọi là “Văn đoàn độc lập” để đối trọng với Hội Nhà văn Việt Nam, v.v. Thậm chí, họ còn dùng những tác phẩm văn học, nghệ thuật để tạo cớ gây áp lực đòi “nhân quyền”, kích động bạo lực và lối sống thực dụng, dung tục, hòng làm phai mờ những giá trị đạo đức tốt đẹp của con người Việt Nam. Đó là mưu đồ rất thâm độc của các thế lực thù địch khi thực hiện “xâm lăng văn hóa” đối với nước ta.
Một số giải pháp đấu tranh chống “xâm lăng văn hóa” trong chiến lược “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch hiện nay
Xác định đúng vai trò, vị trí quan trọng của văn hóa, những năm qua Đảng, Nhà nước ta luôn xác định: văn hóa là nền tảng tinh thần xã hội, là động lực, mục tiêu và nguồn lực nội sinh quan trọng của sự phát triển. Nghị quyết Đại hội XII của Đảng chỉ rõ: “Đấu tranh phê phán, đẩy lùi cái xấu, cái ác, thấp hèn, lạc hậu; chống các quan điểm, hành vi sai trái, tiêu cực ảnh hưởng xấu đến xây dựng nền văn hóa, làm tha hóa con người. Có giải pháp ngăn chặn và đẩy lùi sự xuống cấp về đạo đức xã hội, khắc phục những mặt hạn chế của con người Việt Nam”1. Để đấu tranh có hiệu quả với sự “xâm lăng văn hóa” hiện nay, thiết nghĩ, cần có sự nghiên cứu tổng hợp, giải pháp đồng bộ; dưới đây xin nêu mấy vấn đề cơ bản:
Thứ nhất, tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước đối với lĩnh vực văn hóa. Đây là giải pháp quan trọng nhất để giành thắng lợi trong “trận chiến văn hóa” mà các thế lực thù địch tiến hành ở Việt Nam. Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng theo hướng bảo đảm để văn hóa phát triển đúng định hướng chính trị của Đảng, bảo đảm quyền tự do, dân chủ, phát huy khả năng sáng tạo ra những tác phẩm văn học, nghệ thuật có giá trị, trên cơ sở phát huy trách nhiệm xã hội, nghĩa vụ công dân với mục đích đúng đắn; khắc phục tình trạng buông lỏng sự lãnh đạo hoặc mất dân chủ, làm hạn chế sự sáng tạo trong lĩnh vực văn hóa. Theo đó, các cấp, các ngành cần tập trung đẩy nhanh việc thể chế hóa, cụ thể hóa các quan điểm, đường lối của Đảng về văn hóa bằng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, cơ chế, chính sách, bảo đảm phù hợp với chuẩn mực quốc tế và thực tiễn Việt Nam. Tăng cường xây dựng, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác văn hóa thật sự tiêu biểu về phẩm chất, năng lực, đủ khả năng làm tham mưu cho các cấp có thẩm quyền thực hiện tốt chức năng quản lý nhà nước về văn hóa. Đồng thời, khuyến khích đầu tư phát triển các loại hình hoạt động văn hóa lành mạnh, tốt đẹp và có chế tài nghiêm khắc với các đối tượng vi phạm quy chế hoạt động văn hóa, lợi dụng hoạt động văn hóa để chống phá Đảng và Nhà nước ta, tạo hành lang pháp lý ngăn cản sự thâm nhập của văn hóa xấu độc và hạn chế thấp nhất các kẽ hở, không để các thế lực thù địch lợi dụng.
Thứ hai, xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh. Một trong những vấn đề nền tảng trong cuộc chiến chống “xâm lăng văn hóa” là chúng ta cần tạo ra sức đề kháng, đó chính là môi trường văn hóa lành mạnh ở ngay mỗi địa phương, trong từng cộng đồng làng, bản, khu phố, cơ quan, đơn vị và mỗi gia đình. Đây cũng là phương châm kết hợp giữa “xây” và “chống”, lấy “xây” là nhân tố quyết định, “chống” là quan trọng. Quán triệt tinh thần đó, các cấp, các ngành, các tổ chức, cơ quan, đơn vị và các địa phương cần cụ thể hóa đường lối văn hóa của Đảng, tiến hành đồng bộ các giải pháp phù hợp với thực tiễn để hướng dẫn, động viên mọi tầng lớp nhân dân tích cực tham gia có hiệu quả vào xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh trên phạm vi cả nước. Trong đó, đặc biệt quan tâm xây dựng các trường học, trung tâm văn hóa giáo dục, xây dựng con người, nếp sống văn hóa tiến bộ, văn minh. Cần đẩy mạnh phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” do Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phát động và “Môi trường văn hóa phong phú, tốt đẹp, lành mạnh” trong Quân đội gắn với Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị (khóa XII) về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, làm cho lòng yêu nước, các giá trị văn hóa tốt đẹp của dân tộc ngày càng nhân lên, chuyển hóa thành hành động cách mạng trong thực tiễn. Từng bước thu hẹp khoảng cách về hưởng thụ văn hóa giữa các vùng, miền, các giai tầng xã hội; đồng thời, phát huy tốt các thiết chế văn hóa ở cơ sở và các giá trị, nhân tố tích cực của văn hóa tôn giáo, tín ngưỡng trong xây dựng nền văn hóa mới xã hội chủ nghĩa. Qua đó, tạo sự thống nhất, đồng tâm hiệp lực của các tổ chức chính trị, xã hội và quần chúng nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng, tạo sức mạnh tổng hợp của khối đại đoàn kết toàn dân trong xây dựng con người về nhân cách, đạo đức, lối sống, hướng tới những giá trị cao đẹp, “chân, thiện, mỹ”, vì một Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; nói không với những gì trái với đạo lý, truyền thống văn hiến của dân tộc.
Thứ ba, tăng cường giáo dục, bồi đắp giá trị văn hóa giữ nước, nâng cao niềm tự hào, tự tôn dân tộc và ý thức trách nhiệm cho mọi công dân đối với sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc. Trong thực hiện, các cấp, các ngành cần quán triệt Nghị quyết Đại hội XII của Đảng: “Tạo chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức, ý thức tôn trọng pháp luật, mọi người Việt Nam đều hiểu biết sâu sắc, tự hào, tôn vinh lịch sử, văn hóa dân tộc. Khẳng định, tôn vinh cái đúng, cái tốt đẹp, tích cực, cao thượng; nhân rộng các giá trị cao đẹp, nhân văn”2. Trên cơ sở đó, cần phối hợp đồng bộ giữa các ngành, các cấp và các tầng lớp nhân dân; trong đó, cơ quan chủ trì công tác tư tưởng - văn hóa của Đảng ở các cấp là nòng cốt; các lĩnh vực báo chí, truyền thông, văn học, nghệ thuật,… là lực lượng tiên phong; mỗi cá nhân, gia đình, nhà trường và tổ chức trong xã hội là nền tảng, bảo đảm những giá trị văn hóa nói chung, văn hóa giữ nước nói riêng được giáo dục, tuyên truyền ngay từ mỗi gia đình, dòng tộc, đến nhà trường và xã hội. Từ đó, làm cho tinh thần yêu nước, nhân nghĩa, thủy chung, gắn bó cộng đồng, ý thức tự lực, tự cường, tự tôn dân tộc, tinh thần anh dũng, sáng tạo,… luôn thấm sâu vào toàn bộ đời sống, hoạt động của mỗi cá nhân, gia đình, cộng đồng và toàn xã hội, chuyển hóa thành hành động thực tiễn, chung sức, đồng lòng tạo bức tường vững chắc bảo vệ nền văn hóa dân tộc trước mưu đồ “xâm lăng văn hóa” của các thế lực thù địch. Cùng với đó, cần gắn giáo dục tình yêu gia đình, quê hương, đất nước với chủ nghĩa xã hội; phát huy dân chủ, bảo đảm đầy đủ quyền, lợi ích hợp pháp của nhân dân; đề cao tinh thần dân tộc, giá trị văn hóa truyền thống của mỗi người Việt Nam. Đồng thời, tiếp thu giá trị văn hóa tiến bộ, làm phong phú bản sắc văn hóa và văn hóa giữ nước của dân tộc. Thông qua đó, nâng cao ý thức trách nhiệm công dân đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; biết phân tích, nhận rõ đúng, sai trước những sự kiện phức tạp, nhạy cảm, thông tin trái chiều,… kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Nêu cao cảnh giác, nhận diện và kiên quyết đấu tranh với những luận điệu tuyên truyền, cổ súy cho những hành vi phản văn hóa, suy thoái về đạo đức, lối sống, trái với thuần phong, mỹ tục của dân tộc, v.v.
Thứ tư, chủ động hội nhập quốc tế, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại. Kinh nghiệm lịch sử cho thấy, để đặt ách đô hộ đối với Việt Nam, các thế lực xâm lược luôn tìm mọi cách để đồng hóa dân tộc ta, trước hết về văn hóa. Song, lịch sử cũng chứng minh rằng, không có một thế lực nào thực hiện được dã tâm đó, bởi nền văn hóa đặc sắc đã được hình thành, thử thách, tôi luyện trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước đã trở thành cốt cách, nền tảng của dân tộc ta. Để văn hóa thực sự là công cụ bảo vệ vững chắc chế độ xã hội chủ nghĩa, chống lại sự “xâm lăng văn hóa” của kẻ thù, chúng ta phải quán triệt, thực hiện tốt quan điểm, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng về xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Giải quyết hài hòa mối quan hệ, lợi ích giữa các thành viên trong xã hội; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân, đề cao tinh thần dân tộc, truyền thống yêu nước, nhân nghĩa, khoan dung và tôn trọng những giá trị văn hóa, phong tục, tập quán của đồng bào các dân tộc không trái với lợi ích quốc gia, dân tộc, tạo động lực và nguồn lực to lớn trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Cùng với đó, chủ động phát hiện và giải quyết các mâu thuẫn nảy sinh: giữa cái cũ và cái mới, giữa truyền thống và hiện đại, giữa cái đặc thù và cái phổ biến,... trong hội nhập văn hóa; tạo điều kiện thuận lợi phát huy nguồn cảm hứng của mọi cá nhân, cộng đồng trong sáng tạo những giá trị hiện thực của văn hóa dân tộc theo định hướng của Đảng. Đồng thời, kế thừa giá trị văn hóa truyền thống đã được hình thành, thử thách, tôi luyện trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước; tiếp thu những giá trị văn hóa tiên tiến của nhân loại, sáng tạo giá trị văn hóa mới, nhằm phát huy cao độ giá trị văn hóa dân tộc và ngăn chặn hiệu quả sự “xâm lăng văn hóa” phản tiến bộ len lỏi vào đời sống tinh thần nhân dân.
Trong một thế giới đầy biến động ngày nay, nhiều tổ chức, nhà đầu tư, du khách quốc tế tìm đến Việt Nam vì sự ổn định về chính trị và cũng vì một Việt Nam lôi cuốn, hấp dẫn bởi nét văn hóa đặc sắc, độc đáo đó. Song, các thế lực thù địch không muốn Việt Nam phát triển theo đường lối độc lập, tự chủ. Cái họ muốn là đất nước Việt Nam từ bỏ quá khứ, từ bỏ bản sắc của mình để “hòa nhập”, “phát triển” theo ý đồ của họ, mà thực chất là “hòa tan” vào văn hóa phương Tây. Điều đó lý giải vì sao chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch ngày càng đẩy mạnh “xâm lăng văn hóa” đối với Việt Nam. Vì vậy, nhận diện đúng và kiên quyết đấu tranh chống “xâm lăng văn hóa” không chỉ là một yêu cầu quan trọng, cấp bách trên lĩnh vực tư tưởng - văn hóa hiện nay mà còn góp phần thiết thực đấu tranh phê phán, đẩy lùi cái xấu, cái ác, thấp hèn, lạc hậu; chống các quan điểm, hành vi sai trái, tiêu cực làm tha hóa con người Việt Nam. Đó chính là yếu tố bảo đảm cho Việt Nam trường tồn và phát triển.
Đọc thêm...

“和平演变”的新花招

16:14 |
(tapchiqptd)-鼓吹“越南不再要反和平演变”(!)这是反共势力的新花招,蛊惑了不少人心。我们要认清楚这种新花招,避免上当受骗。
新手段,老目的
以前,那些对我党不怀好意的人否认“和平演变”战略的存在,并将其视为越南共产党用来“吓唬”人民的一种“怪物”。近期,那些人再次肯定:“越南不再要反和平演变”(!)这样一来,他们从以前的否认态度变成了肯定。不过,为了便于诱惑舆论并令人丧失警惕,那些人肯定说:“和平演变战略的使命已完成,因为越南腊日的那些‘老仇’至今已成为战略合作伙伴”(!)
这一论点得到西方媒体和社交网的过分炒作,尤其是20137月值越南国家主席张晋创访美之际越美宣布建立全面合作伙伴关系、越共中央总书记阮富仲与美国总统奥巴马先后于20157月和20165月进行正式互访之时,西方媒体炒作的更厉害。此外,越共十二大四中全会关于《加强整党建党……》决议所提的“和平演变”、“自我演变”、“自我转化”的联系也统统被掩盖。他们胡说八道称,“目前,越南共产党不再要求反和平演变,而要集中反对党内‘自我演变’、‘自我转化’”(!)
可以肯定说,这些态度的变化只是敌对势力的新手段,旨在更加有效地实施对越南的“和平演变”战略。这种手段非常狡猾且危险,因为它会造成党员、干部和人民尤其是对“和平演变”战略的本质和手段了解不够充分的人模糊不清并对其丧失警惕,从而达到他们的最终目的——消除社会主义制度。因此,我们要提高警惕,秉持“边合作、边斗争”的方针,坚决挫败敌对势力的“和平演变”阴谋和手段。
战斗还在持续
越南民族反“和平演变”斗争仍会继续,因为:其一,贯穿着“和平演变”战略的最终目的——消除社会主义制度——尚未实现。其二,这场战斗的战线泾渭难分,但仍会非常激烈、持续且遍及社会生活各领域。其三,越南目前仍是敌对势力、反动势力通过“和平演变”战略进行破坏的重点国家。
也要肯定,与世界各国和国际组织(不分政治制度)加强平等合作、互利共赢的关系为越南的发展提供了良好条件。然而,由于西方国家政府具有“两面”性质,所以实际上存在着一些阴谋与行动,利用双边合作关系的发展,实施“和平演变”战略,对我国进行破坏。
最典型的是,若干国家政府为敌对个人和组织提供不同程度、不同形式的资助。他们仍然利用“民主”、“人权”、“言论自由”、“宗教自由”等问题,根据美国标准指控越南违反人权。不管“全面合作伙伴”还是“战略合作伙伴”,美国外交部、国际宗教自由委员会、欧洲议会、人权观察组织等机构以及生活在欧美的极端人员仍照常组织听证会、研讨会、新闻发布会并发表声明,颁布那些对越南人权状况不相符的决议。每年,美国外交部都颁布一年一度的国别人权报告,其中20164月最新发布的报告继续曲解越南人权状况。
美国众议院若干议员还经常对越南人权状况提出意见或者协助某些人诬蔑、曲解越南人权状况,或者促进通过有关越南的人权法草案,鼓动美国国会重新把越南列入“宗教自由特别关注国”(CPC)名单。2016128日,美国众议院下属的Tom Lantos人权委员会举办的国际人权研讨会上,议员Lowentan歪曲了越南国会通过宗教信仰法的目的,认为那是“宗教压迫的加剧”、“进一步控制上百万人民的宗教自由”,并重谈“越南当局囚禁了数百良心囚犯”的老调等等。设在法国境内的无国界记者组织(RSF)每年也赐给自己擅自评价各国新闻自由情况的权利。2016420日发布的《2016年度新闻自由报告》之中,RSF继续胡说八道称,“越南自由记者和博客——独立的信息来源是一个强烈镇压主张的镇压对象”(!)2017年初,总部设在美国的Freedom House2017年全球自由排行报告之中继续把越南列入“无自由国家”(!)
在境外敌对势力这个强大后盾下,国内反动分子、机会主义者、蜕化变质者也不断地进行破坏。他们极力否认马列主义的科学革命本质,证明“马列主义进入越南是一个错误”,将马列主义与胡志明思想分别开来,使之处于对立状态,故意认为“胡伯伯所选的道路不是社会主义”(!)为了消除越南共产党的领导地位,他们还否认我国革命在党领导下所取得的成就,要求取消2013年宪法第四条,鼓吹实行“多党制”。那些人还篡改历史,颠倒黑白,把有功者和有罪者、革命者和反革命者同等归类。他们还利用东海主权争端、中部四省由福尔摩沙公司所发的环境事故以及若干地方民族、宗教、民主等敏感问题,蛊惑人民聚众闹事,游行示威,破坏我党和政府的外交路线,破坏国家的政治稳定,制造各种借口,以便于方便之时进行暴乱颠覆政权。在国防安全领域上,敌对势力极力鼓吹军队、公安非政治化,要求这些力量只保卫国家和人民而不保卫党(!)
上述实践表明,敌对势力不会放弃对我国的“和平演变”战略。这场斗争也随之而继续。
战胜手法
反“和平演变”是新时期的阶级斗争和民族斗争,其目的旨在胜利实现民族独立与社会主义的目标。“和平演变”战略的目标极为阴险,但其能否实现却在我们手中。列宁曾经嘱咐说:“没有什么会打败我们,除了我们自己的错误”。因此,为了打赢这场战斗,我们要推动内部真正强大健康建设,充分发挥全民族的力量,同步全面推动革新事业,胜利实现我党所提出的目标和方向。在努力完成党十二大所确定的六大重任之时,应注重采取下列主要措施:
第一,加大教育工作力度,强化党员、干部和各阶层人民对“和平演变”战略本质、目的和手段以及“和平演变”与“自我演变”、“自我转化”紧密联系的认识,让每个人主动磨练,提高警惕,不模糊,不上敌对势力恶意手段的当。
第二,认真落实党十二大四中全会关于《加强整党建党,防止和遏制政治思想衰退、道德败坏、生活作风蜕化、党内“自我演变”、“自我转化”》的决议。这是搞定“和平演变”的决定性内容,因为这一战略所向往的目标就是促进党内“自我演变”、“自我转化”,妄图用我们自己的手消除我们的政治制度。
第三,主动遏制,从早防护,主动攻击同时抓好,在和平演变还在酝酿之中就开始攻击,不让其滋生蔓延,形成反对组织。这些重任急需人民的“耳目”。因此,各级党委和政府应关照社会民生政策,充当家作主权分发挥人民的,及时处理人民对政府的不满情绪。基于此,建设稳固的“民心阵势”,挫败敌对势力的“和平演变”阴谋和手段。
采取同步措施,建国卫国同时抓,各领域“建设”和“反对”同时抓,以党内纯洁健康建设为核心应是打赢“和平演变”之战的根本手法。(完)
作者:阮玉回
Đọc thêm...

Chiêu bài mới của “diễn biến hòa bình”

16:13 |
(tapchiqptd)-Kêu gọi “Việt Nam không cần chống diễn biến hòa bình nữa”(!) đang là chiêu bài mới của các thế lực chống cộng, nhưng cũng mê hoặc được không ít người. Chúng ta cần nhận diện rõ chiêu bài này, để không mắc mưu.
Thủ đoạn mới, mục đích cũ
Từ chỗ phủ nhận sự hiện diện của chiến lược “Diễn biến hòa bình”, coi đó là “con ngáo ộp” mà Đảng Cộng sản Việt Nam “hù dọa” nhân dân; gần đây, những người thiếu thiện chí với sự lãnh đạo của Đảng lại khẳng định: “Việt Nam không cần chống diễn biến hòa bình nữa”(!). Thế là từ phủ nhận, nay lại thừa nhận, nhưng để dễ bề lừa gạt dư luận và làm cho mọi người mất cảnh giác, họ nói rằng: “Chiến lược này đã kết thúc sứ mệnh, do các “cựu thù” đã thành đối tác toàn diện hay đối tác chiến lược của Việt Nam”(!).
Luận điểm này được tuyên truyền rộng rãi trên các trang mạng xã hội và các phương tiện truyền thông phương Tây, nhất là sau các sự kiện: Việt Nam và Mỹ tuyên bố thiết lập quan hệ đối tác toàn diện (tháng 7-2013) trong chuyến thăm Hoa Kỳ của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang; Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng và Tổng thống Mỹ B. Ô-ba-ma lần lượt đến Hoa Kỳ và Việt Nam trong các chuyến thăm chính thức (tháng 7-2015 và tháng 5-2016). Thêm nữa, Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng…” cũng được người ta che giấu mối liên hệ giữa “diễn biến hòa bình” với “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, để xuyên tạc rằng: “Hiện nay, Đảng không còn yêu cầu chống diễn biến hòa bình nữa, mà tập trung vào chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên”(!).
Có thể khẳng định ngay rằng, sự thay đổi thái độ nói trên chỉ là thủ đoạn mới, nhằm thực thi chiến lược “Diễn biến hòa bình” trong bối cảnh mới ở Việt Nam có hiệu quả hơn. Thủ đoạn đó rất tinh vi và vô cùng nguy hiểm, bởi nó sẽ tạo nên sự mơ hồ, mất cảnh giác trong cán bộ, đảng viên và nhân dân ta, nhất là những người không biết tường tận về bản chất, thủ đoạn của chiến lược này. Trên cơ sở đó, họ có thể đạt được mục đích cuối cùng là thủ tiêu chủ nghĩa xã hội, như chính cựu Tổng thống Mỹ R. Ních-xơn tuyên bố trong cuốn sách “1999 - chiến thắng không cần chiến tranh”. Vì thế, trong khi “thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; đa dạng hóa, đa phương hóa trong quan hệ đối ngoại; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; là bạn, là đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế”1, chúng ta phải thường xuyên đề cao cảnh giác, kiên trì thực hiện phương châm “vừa hợp tác, vừa đấu tranh”, kiên quyết làm thất bại âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch.
Cuộc chiến vẫn tiếp diễn
Cuộc chiến chống “diễn biến hòa bình” vẫn còn tiếp tục, bởi các lý do: Trước hết, do mục đích cuối cùng và xuyên suốt mà chiến lược “Diễn biến hòa bình” đặt ra là xóa bỏ hoàn toàn chủ nghĩa xã hội vẫn còn ở phía trước. Nhìn lại quá trình hình thành và hoàn chỉnh chiến lược “Diễn biến hòa bình” có thể thấy: từ khi chỉ là ý tưởng (cuối những năm 40 của thế kỷ XX), đến khi trở thành chiến lược hoàn chỉnh (cuối thập kỷ 80 của thế kỷ XX), “Diễn biến hòa bình” bao giờ cũng là bộ phận quan trọng trong chiến lược toàn cầu phản cách mạng của chủ nghĩa đế quốc, nhằm mục đích xóa bỏ hoàn toàn chủ nghĩa xã hội trên mọi phương diện; dù cho đó chỉ là một hệ tư tưởng, một xu thế phát triển, một phong trào hiện thực, hay là một hình thái kinh tế - xã hội, một hệ thống giá trị đã tồn tại, v.v. Do vậy, một khi chủ nghĩa xã hội còn, dưới hình thức nào, thì chiến lược “Diễn biến hòa bình” chưa vãn hồi sứ mệnh như người ta lòe bịp. Theo đó, cuộc đấu tranh chống “diễn biến hòa bình” của các lực lượng tiến bộ, yêu chuộng hòa bình và chủ nghĩa xã hội vẫn tiếp tục diễn ra, như một tất yếu. Và đương nhiên Việt Nam không phải là ngoại lệ.
Thứ hai, đây là cuộc chiến khó phân biệt chiến tuyến, nhưng diễn ra một cách dai dẳng, rất quyết liệt, trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. “Diễn biến hòa bình” là sự kế tục thứ chính trị của các thế lực chống cộng, nhưng bằng thủ đoạn phi vũ trang; phản ánh tính chất phức tạp, lâu dài của cuộc đấu tranh giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản phản động. Sử dụng những cuộc tiến công “ngầm”, “mềm” trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội; thông qua các chiêu bài “tự do”, “dân chủ”, “nhân quyền”… kiểu Mỹ, “diễn biến hòa bình” hướng mục tiêu vào xây dựng các nhân tố đối lập với Đảng Cộng sản và các giá trị của chủ nghĩa xã hội ngay trong lòng các nước xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở đó mà thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ các nước này. Phương châm thực hiện chiến lược “Diễn biến hòa bình” là kết hợp phá từ trong nội bộ với hỗ trợ từ bên ngoài; kết hợp tạo sự chuyển hóa từ bên trong và bên trên với bạo loạn, lật đổ khi có thời cơ, để xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa. Vì thế, các thủ đoạn của “diễn biến hòa bình” rất tinh vi, khó thấy, khó phân tuyến, diễn ra dai dẳng, qua nhiều thế hệ. Chính cựu Tổng thống Mỹ R. Ních -xơn, trong cuốn sách của mình, đã khẳng định: “Về lâu dài, chúng ta có thể khuyến khích “diễn biến hòa bình” trong nội bộ các nước xã hội chủ nghĩa, song nhiệm vụ đó không thể hoàn thành trong mấy chục năm mà phải làm trong nhiều thế hệ”. Để triển khai tư tưởng chiến lược đó ở Việt Nam, các thế lực thù địch, phản động nuôi hy vọng dùng “cộng sản con lật cộng sản cha”. Vì thế, đây là cuộc chiến không hồi kết, một khi Việt Nam vẫn kiên định con đường xã hội chủ nghĩa.
Thứ ba, Việt Nam vẫn đang là một trọng điểm chống phá bằng chiến lược “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, phản động. Là quốc gia đang tiến hành công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, với vị trí địa chiến lược ở Đông Nam Á và châu Á - Thái Bình Dương, Việt Nam luôn được các thế lực thù địch coi là một trọng điểm chống phá bằng chiến lược “Diễn biến hòa bình”. H. Kít-xinh-giơ, nguyên Ngoại trưởng, Cố vấn an ninh của Tổng thống Mỹ, từng nói: “Những người cộng sản Việt Nam đã thắng trong chiến tranh, nhưng họ sẽ thua trong hòa bình. Trước đây, cộng sản dùng súng để đuổi người Mỹ ra khỏi Sài Gòn, ngày nay người Mỹ sẽ dùng đô-la để đuổi cộng sản ra khỏi Sài Gòn”2. Ngay trong Tuyên bố bình thường hóa quan hệ với Việt Nam (11-7-1995), Tổng thống Mỹ B. Clin-tơn cũng không giấu ý đồ chuyển hóa chế độ chính trị ở Việt Nam, khi nói: “Tôi tin rằng việc bình thường hóa và tăng cường các cuộc tiếp xúc giữa người Mỹ và người Việt Nam sẽ thúc đẩy sự nghiệp tự do ở Việt Nam, như đã từng diễn ra ở Đông Âu và Liên Xô trước đây”. Còn phát biểu tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia, nhân chuyến thăm Việt Nam, Tổng thống Mỹ B. Ô-ba-ma không quên “gợi ý” Việt Nam thực hiện các vấn đề về nhân quyền, như: “tự do ngôn luận”, “tự do lập hội”, “tự do biểu tình”,... theo chuẩn mực Mỹ - những thứ mà các thế lực thù địch vẫn dùng trong chiến lược “Diễn biến hòa bình” để chống phá Việt Nam.
Cũng phải thấy rằng, sự phát triển các quan hệ hợp tác bình đẳng, cùng có lợi với nhiều nước (không phân biệt chế độ chính trị) và nhiều tổ chức quốc tế đã tạo thuận lợi cho sự phát triển của Việt Nam những năm qua. Tuy nhiên, với tính chất hai mặt của chính quyền một số nước phương Tây, nên trong thực tế vẫn tồn tại những âm mưu, hoạt động lợi dụng sự phát triển các quan hệ hợp tác để thực hiện chiến lược “Diễn biến hòa bình” chống Việt Nam.
Nổi bật là sự hỗ trợ (với mức độ, hình thức khác nhau) của chính quyền một số nước đối với những cá nhân, tổ chức thù địch với Việt Nam3, để gia tăng các hoạt động chống phá. Họ vẫn lợi dụng các vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền”, “tự do ngôn luận”, “tự do tôn giáo”,… theo chuẩn mực Mỹ để vu khống Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền; lấy đó làm động lực hỗ trợ về mặt chính trị, tinh thần cho các thế lực chống phá ở trong nước. Bất chấp sự phát triển các quan hệ hợp tác ở tầm “đối tác toàn diện” hay “đối tác chiến lược”, số người cực đoan tại Mỹ, Liên minh châu Âu (EU); các cơ quan, tổ chức, như: Bộ Ngoại giao, Ủy ban Tự do tôn giáo quốc tế Mỹ, Nghị viện châu Âu, Tổ chức theo dõi Nhân quyền (HRW),… vẫn tổ chức nhiều cuộc điều trần, hội thảo, họp báo, ra tuyên bố, ban hành các nghị quyết xuyên tạc, bóp méo tình hình nhân quyền ở Việt Nam. Hằng năm, Bộ Ngoại giao Mỹ vẫn tung ra các báo cáo nhân quyền toàn cầu, gần đây nhất là tháng 4-2016, trong đó tiếp tục xuyên tạc tình hình thực hiện quyền con người ở Việt Nam. Một số nghị sĩ trong Hạ viện Mỹ, như: A. Lâu-en-tan, L. San-chét, F. Vôn-phơ, T. X-mít, E. Roi-se,… vẫn thường xuyên đưa ra ý kiến, hay tạo điều kiện để người khác vu khống, xuyên tạc tình hình nhân quyền ở Việt Nam; hoặc thúc đẩy thông qua các Dự luật nhân quyền cho Việt Nam; vận động để Quốc hội Mỹ đưa Việt Nam trở lại “Danh sách các nước cần đặc biệt quan tâm về tự do tôn giáo (CPC)”. Ngày 08-12-2016, tại hội thảo nhân Ngày Quốc tế nhân quyền, do Ủy ban nhân quyền Tom Lantos (thuộc Hạ viện Mỹ) tổ chức, nghị sĩ A. Lâu-en-tan đã xuyên tạc mục đích Quốc hội Việt Nam thông qua Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo; xem đó là sự “gia tăng đàn áp tôn giáo”, “siết chặt quyền tự do tôn giáo của hàng triệu người dân”, rồi lặp lại luận điệu “nhà cầm quyền Việt Nam giam giữ hàng trăm tù nhân lương tâm, v.v.”(!). Tổ chức RSF có trụ sở chính ở Pháp, hằng năm cũng tự cho mình quyền phán xét tình hình tự do báo chí ở các nước. Trong bản Phúc trình năm 2016 (công bố ngày 20-4-2016), RSF tiếp tục xuyên tạc tình hình ở Việt Nam, khi cho rằng: “các blogger và nhà báo công dân, những nguồn thông tin độc lập tại Việt Nam, là đối tượng của một chủ trương đàn áp rất khắc nghiệt”(!). Đầu năm nay, Freedom House có trụ sở tại Mỹ cũng tiếp tục xếp Việt Nam vào danh sách “Các quốc gia không có tự do”(!) trong bản Báo cáo xếp hạng tự do toàn cầu năm 2017.
Được sự hậu thuẫn, móc nối của các thế lực thù địch ở nước ngoài, một số phần tử phản động, cơ hội, thoái hóa, biến chất ở trong nước cũng không ngừng các hoạt động chống phá. Chúng ra sức phủ nhận bản chất khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác – Lê-nin, chứng minh “sự du nhập chủ nghĩa Mác – Lê-nin vào Việt Nam là sai lầm”; tách rời và đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác – Lê-nin; cố tình cho rằng “con đường Bác Hồ chọn không phải là chủ nghĩa xã hội”(!). Để xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, chúng phủ nhận những thành tựu của cách mạng Việt Nam do Đảng lãnh đạo; đòi bỏ Điều 4 Hiến pháp năm 2013, kêu gọi thực hiện “chế độ đa đảng”. Chúng đẩy mạnh hoạt động xuyên tạc lịch sử, nhằm đổi trắng thay đen, gây lẫn lộn giữa người có công và kẻ có tội, giữa người cách mạng và kẻ phản cách mạng. Lợi dụng những vấn đề nhạy cảm, như: chủ quyền trên Biển Đông, sự cố môi trường 04 tỉnh miền Trung do Công ty Formosa gây ra, những vấn đề liên quan đến sinh hoạt tôn giáo, dân tộc, dân chủ ở một vài địa phương, chúng kích động nhân dân biểu tình, gây rối, phá hoại đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước, phá hoại sự ổn định chính trị của đất nước, tạo dựng các “nguyên cớ” để khi có thời cơ thì tiến hành bạo loạn, cướp chính quyền. Trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh, chúng ra sức hô hào “phi chính trị” hóa quân đội và công an; đòi các lực lượng này chỉ bảo vệ đất nước và nhân dân, chứ không bảo vệ Đảng (!).
Tất cả thực tiễn đó cho thấy: các thế lực thù địch không từ bỏ thực hiện “diễn biến hòa bình” với nước ta; và cuộc chiến, theo đó, vẫn tiếp diễn.
Giải pháp giành chiến thắng
Chống “diễn biến hòa bình” là cuộc đấu tranh giai cấp và đấu tranh dân tộc trong bối cảnh mới, nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Mục tiêu của “diễn biến hòa bình” là rất thâm độc, nhưng có đạt được hay không lại phụ thuộc vào chính chúng ta. V.I. Lê-nin từng căn dặn: “Không ai có thể tiêu diệt được chúng ta, ngoài những sai lầm của bản thân chúng ta”4. Vì thế, để giành thắng lợi trong cuộc chiến này, chúng ta cần xây dựng nội bộ mình thật sự vững mạnh. Theo đó, phải phát huy được sức mạnh của toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, hoàn thành thắng lợi các mục tiêu và phương hướng cơ bản mà Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) của Đảng đề ra. Trong khi phấn đấu thực hiện tốt 06 nhiệm vụ trọng tâm mà Nghị quyết Đại hội XII xác định, cần coi trọng tiến hành một số giải pháp chủ yếu sau:
Một là, tăng cường giáo dục, nâng cao nhận thức trong cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân về bản chất, mục đích, các thủ đoạn của chiến lược “Diễn biến hòa bình”; về mối quan hệ chặt chẽ giữa “diễn biến hòa bình” và “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, để mọi người chủ động rèn luyện, nâng cao cảnh giác, không mơ hồ, mắc mưu những thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch.
Hai là, thực hiện nghiêm túc Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”. Đây là giải pháp có tính quyết định để vô hiệu hóa sự tác động của “diễn biến hòa bình”; bởi mục tiêu hướng tới của chiến lược này là thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ Đảng, qua đó hòng dùng chính bàn tay chúng ta để xóa bỏ chế độ chính trị của chúng ta.
Ba là, kết hợp chặt chẽ giữa chủ động ngăn chặn, phòng ngừa từ xa, với chủ động tiến công từ trong “trứng nước”, từ nơi xuất phát các âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, phản động trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội; không để chúng nhen nhóm gây dựng “ngọn cờ”, hình thành các tổ chức đối lập. Để thực hiện được, phải dựa vào “tai, mắt” của nhân dân. Muốn vậy, cấp ủy và chính quyền các cấp phải hết sức chăm lo các vấn đề an sinh xã hội, phát huy quyền làm chủ của nhân dân; kịp thời giải tỏa những bức xúc của dân trong quan hệ với chính quyền. Trên cơ sở đó để xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc, vô hiệu hóa mọi mưu đồ, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch.
Tiến hành đồng bộ các giải pháp xây dựng và bảo vệ đất nước, kết hợp “xây” và “chống” trên mọi lĩnh vực; lấy xây dựng nội bộ trong sạch, vững mạnh là cốt lõi, phải là liệu pháp căn bản để giành chiến thắng trong cuộc chiến chống “diễn biến hòa bình”.
Đọc thêm...

人权不可脱离国家主权

16:11 |
在全球化的今天,人权成为世界各国极其关注的问题。利用这个问题、敌对力量促进破坏党和社会主义制度的活动。他们的论调是 “人权高于国家主权”。事实真如此吗?
在人权方面打击我国是敌对力量的核心手段。不过,我们要清醒地认出一个事实,敌对力量的数量不断增加其成分和对象不断变化。其包括受到外国的“接力”、政治、经济上的协助的国外非政府组织(NGOs),如:自由之家 (FH),国际特赦组织 (AI), 无国界记者组织(RFS), 保护记者委员会(CPJ) 人权观察组织 (HRW)等。此外,有些来自加拿大、德国、澳大利亚、欧洲议会的反共参议员,还有国外流亡反动组织、分子以及丰富多彩的机会主义者,非法网站、打击共产党脸书账户等等。他们的手段不外乎利用民主、人权等问题,通过所谓常年报告来曲解、歪曲事实。要提到一个事实,他们不断跟踪越南的情况,对越南刑法第88 “打击越南社会主义共和国的宣传” 被逮捕的罪名特别敏感,抗拒国家人员实施职责,捣乱治安秩序。通过这些行为,他们 “号召” 越南政府要释放所有“良心囚犯”,指责越南当局随便抓人。他们重复论调,说:“越南有独裁的制度,有着极权主义”; 越南国家“严重侵犯人权”,特别是言论自由、新闻自由、因特网等自由权利,因为这是人原有的权利”。
不仅如此,他们还故意错误地引用2013年越南宪法关于人权和公民权力与义务的第二章来为违反法律的行为做辩护。有不少这类的“政治家”, “学者”用一些不完整的文章做根据,说:“人权高于主权”,“人全是没有国界的” 等等。有上述的论点,他们鼓励不符合越南法律的行为,为外国组织提供干涉越南内部的理由,国内极端分子与国外反动组织紧密配合。列如,最近美国右翼势力对越南在政治上施加压力,要求对越南实施制裁。他们的理由是越南违反人权。这个法规是“马格尼茨基:对全球人权的责任”,2017年美国的 “国防预算”(NDAA)” S.2943条。
那么,上述的言行符合于国际社会对人权的普遍看法?这些论调政治含义的本质是什么?
首先,要提到国际社会对人权问题普遍看法是什么?从历史上看,基于最重要、最普遍的的文档,至今, 关于人权的专家、学者已经提及下列文件:英国《权利法案》(1689年); 美国《独立宣言》(1776年)和《权利法案》(1789年)”;法国《人权和公民权宣言》(1789年)。1945年联合国宪章; 1948年世界人权宣言,1948年联合国通过国际人权公约。其中,有两个基本的公约,是:1966年《公民权利和政治权利国际公约》和《经济、社会及文化权利国际公约》。上述两条公约和人权的际宣言被国际社会看做《国际人权法》。
据此,人权概念含有两个基本内容。在哲学-人文方面,人全是个价值,包括(1)人品:是物质方面的条件,如吃、住等 和请神生活,如按照法律法规人格受到尊重;(2 自由:可以理解为能够做法律不禁止。(3)平等:每个人都有平等的权利,不分性别,种族,社会地位,财产等的(4)人道主义精神、宽容。(5)每个人对社区的责任:可以理解为,享有各个权利的同时,每个人都应当受到一定的限制,目的是“维持社会安全、秩序、身体健康或保证其他人的基本自由权利”(1966年公民权利和政治权利国际公约中的第1819条第3款)。因此,绝对没有人权 (个人权利)高于主权的说法;更没有任何人可以做任何而“忘记”社会责任。换句话说,人权无论在哪里,在哪种社会模式也必须是遵守国家法律,不得损害社会其他人的权利,权益和利益。
作为一个法律价值,人权是法律规定(在国家法律和国际法),目的为保护和确保人的人格和尊严以及人在物质和精神上的需要, 同时每个人都要对社会有义务和责任。因此,这个观点指出:人民是“权利”的主体,国家要尊重“权利”。应该指出的是,按照联合国的基本文件,人权概念不仅是个人的权利,还是国家、民族和集体的,特别是属于弱势社会群体。关于国家和民族的权利,根据1966年公民权利和政治权利国际公约第1条(第一部分)所规定:“所有的民族都有自决权,出于该权利,各个民族都有自由决定其政治、经济、社会和文化制度和发展道路”。这一规定假设:任何国家都享有建立政权和法律制度的权利,任何人、任何一个国家甚至联合国也没有有进行干预的权利。关于自决的权利,在维也纳(奥地利)于1993年国际人权会议重申:“民族自决的拒绝是对人权的侵犯”。在这次会议上,各成员国首次同意作出的人权“专一”的概念。该文件说:“国际社会必须全面看待人权以公平的方式,...(和)必须永远记住的民族特征,地域特点的重要性以及历史、文化和宗教的不同情况;各国不论政治制度、经济、文化……。这是各国之间的人权分歧的哲学- 政治依据。这意味着,不应该按照一个特定国家的标准来评估其他国家的法律。
关于集体权利和弱势群体的权利,根据国际社会的普遍观念,人权还包括“开发权”。因此,每一个人,每一个民族都有贡献,并享受经济、社会、文化和政治发展之成果的权利,所有人权和自由需要得到充分实施。社会团体的权利弱势群体,包括:儿童(1989年儿童权利公约)、女性(1979年消除对女性一切歧视公约(CEDAW)、残疾人(2007年残疾人权利国际公约)。理论和实践上,确保这些人的权利必须根据国家的政策和法律。越南已经签署并批准上述三个公约。因此,“人权高于主权”、“人权无国界”的论点若不出于政治动机也是对人权的幼稚认识。
其次, “人权高于主权”,“人权无国界”等论证的政治性质是什么?敌对势力、机会主义者、思想蜕化者认为:(1)在国内,他们制造精神、法律和道义上的支持,鼓动个人和组织(包括网络上的虚拟组织)继续违反法律采取行动,破坏国家安全和扰乱公共秩序,条件具备时将制造暴乱颠覆推翻政权;同时,诬告我党的领导为“独裁,极权主义”、“非人权”等(2)。在海外,他们利用上述论点,鼓吹越南海外人群尤其是带有仇恨的背叛者破坏党和国家的团结政策。
第三,党和国家对国家主权和人权之间的关系看法如何?早在1930年党的第一纲领(简要纲领和简要策略)我党确定了越南革命的目标是为了争取民族独立,解放社会,给人民带来公民权利。革新时代,19927月,(第七届)越共中央书记处下达了12-CT/ TW号的指示:“人权是人类普遍的价值观。这是劳动人民对压迫和剥削长期斗争的成果。这也是民族解放、阶级解放的成果。只有在民族独立和社会主义的前提下,人权才能够得到最普遍、最全面、最充分的保证”。继承关于人权的纲领和观点,2011年的纲领已经把民主制度的价值和公民的权利与义务联合在一起。其中目标为建设一个 “民富、国强、民主、公平、文明”、由人民做主,人民能够享受一个温饱、自由、幸福生活,人民能够有机会全面发展,有一个由人民,为人民,由党领导的依法治国的社会主义国家,与世界各国有着友好合作关系的社会”。
与上述的观点一致,在党的领导下,我国早就参与签署关于人权的国际公约。1982年,越南签署了两个基本的国际公约:(1)“公民权利和政治权利国际公约”;(2)“经济、社会及文化权利国际公约”。至今,越南已经参与有关人权的所以国际公约。所以,对我们党来说,人权和社会制度紧密相连;民族独立是人权的前提。党十二大进一步肯定:把国家、民族的利益放在“至高无上”的地位。这一观点是越南与其他国家和包括联合国在内的国际组织建设关系的依据。至今,越南已与180多个国家和地区,包括联合国安理会常任理事国五个成员国建立外交关系。双边关系中,双方都确认一个原则:尊重联合国宪章和相互尊重政治制度;相互尊重各自国家政策、包括人权在内的法律。
可以肯定:对我党和国家来说,人权与民主制度一道而行,在建国卫国事业中,人权既是目标,又是动力。尊重和保障人权是我国家的责任同时也是权利。所以没有国内外敌对势力、机会主义者正在宣传的所谓“人权高于主权”,“无国界的人权”之类的说法。
Đọc thêm...

Nhân quyền nằm ngoài chủ quyền quốc gia - dân tộc?

16:08 |
Trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay, quyền con người đang là vấn đề được các nước hết sức quan tâm. Lợi dụng vấn đề này, các lực lượng thù địch với Việt Nam đẩy mạnh chống phá Đảng và chế độ ta. Chúng rêu rao rằng, “Quyền con người cao hơn chủ quyền quốc gia”. Sự thực có phải như vậy?
Chống phá nước ta về nhân quyền là một nội dung trọng tâm của các thế lực thù địch. Có điều, chúng ta cần thấy, lực lượng tham gia vào chiến dịch chống phá ta hiện nay có sự thay đổi theo hướng mở rộng về số lượng, thành phần, đối tượng. Đó là gồm các tổ chức phi chính phủ (“NGOS”) ở nước ngoài được các quốc gia “hà hơi tiếp sức”, hỗ trợ về chính trị, cung cấp tài chính,… như: tổ chức Nhà tự do (FH), Ân xá quốc tế (AI), Phóng viên không biên giới (RSF), Ủy ban bảo vệ nhà báo (CPJ), Tổ chức theo dõi nhân quyền (HRW),... ngoài ra, còn có một số nghị sĩ chống cộng ở Nghị viện châu Âu, Ca-na-đa, Cộng hòa liên bang Đức, Ô-xtrây-li-a, các tổ chức, phần tử phản động người Việt lưu vong ở nước ngoài và cả những kẻ cơ hội nhiều mầu sắc - chủ nhân nhiều trang mạng phi pháp, các tài khoản Facebook chống cộng, v.v. Thủ đoạn chính của họ vẫn là lợi dụng vấn đề dân chủ và quyền con người, thông qua cái gọi là các Báo cáo thường niên (hay “Phúc trình thường niên”) để xuyên tạc, vu cáo, bôi nhọ Nhà nước Việt Nam. Phải nói rằng, họ theo dõi rất sát tình hình Việt Nam và đặc biệt nhạy cảm đối với các vụ việc Nhà nước ta bắt giữ các đối tượng về tội “Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” (theo Điều 88 Bộ luật Hình sự), chống người thi hành công vụ, gây mất trật tự trị an. Qua đó, họ “kêu gọi” Việt Nam thả hết các “tù nhân lương tâm”, “lên án” cơ quan chức năng bắt người vô lối, sai quy định. Họ nhai đi nhai lại kiểu lập luận cũ rích, rằng: “Chế độ Việt Nam là chế độ độc tài, toàn trị”; Nhà nước “Việt Nam đã vi phạm nghiêm trọng các quyền con người”, nhất là quyền tự do ngôn luận, báo chí, tự do in-tơ-nét,… là quyền “vốn có” của tất cả mọi người”(!)?
Không những thế, họ còn viện dẫn một cách sai lệch các quy định tại Chương II - Quyền con người, quyền và nghĩa vụ công dân của Hiến pháp Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 để bao che, biện hộ cho những hành vi vi phạm pháp luật. Không ít nhà “chính trị”, “học giả” tự phong dựa trên một số câu chữ đã bị cắt xén, lập luận rằng: “Quyền con người cao hơn chủ quyền (quốc gia)”, “Quyền con người không biên giới”, v.v. Với lập luận đó, họ khuyến khích những hành động bất hợp pháp, tạo cớ cho các tổ chức nước ngoài can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam theo kiểu “kẻ tung, người hứng” giữa những lực lượng cực đoan, tổ chức phản động ở nước ngoài với những kẻ tự gọi là “người bất đồng chính kiến” trong nước. Chẳng hạn gần đây, lực lượng cực hữu ở Hoa Kỳ gây sức ép về chính trị, ra Luật áp đặt chế tài lên chính phủ nước họ, đồng thời áp đặt cho nước khác, trong đó có Việt Nam, với lý do vi phạm các quyền con người. Đó là Điều luật “Chịu trách nhiệm về nhân quyền toàn cầu Magnitsky Luật S.2943, trong “Luật Chuẩn chi ngân sách Quốc phòng năm 2017” của Hoa Kỳ (NDAA) 2017.
Vậy những việc làm và lập luận trên của họ có phù hợp với nhận thức chung của cộng đồng quốc tế về quyền con người không? Bản chất chính trị của những lập luận đó là gì?
Trước hết, nhận thức chung của cộng đồng quốc tế về quyền con người như thế nào? Về mặt lịch sử, dựa trên những văn kiện quan trọng, phổ cập nhất, đến nay các chuyên gia, học giả về quyền con người thường đề cập tới những văn kiện sau: “Bộ luật về quyền” (1689) của Anh; “Tuyên ngôn độc lập (1776) và Bộ luật về các quyền (1789) của Mỹ”, “Tuyên ngôn về “nhân quyền” (các quyền con người) và “dân quyền” (của công dân 1789) của Pháp; Hiến chương Liên hợp quốc, năm 1945; Tuyên ngôn thế giới về quyền con người, năm 1948 và các công ước quốc tế về quyền con người được Liên hợp quốc thông qua. Trong đó, có 2 công ước cơ bản, là: “Công ước quốc tế về các quyền Dân sự, Chính trị” và “Công ước quốc tế về các quyền Kinh tế, Xã hội và Văn hóa”, năm 1966. Hai công ước trên cùng với Tuyên ngôn thế giới về quyền con người được cộng đồng quốc tế xem là “Bộ luật nhân quyền quốc tế”.
Theo đó, khái niệm quyền con người có hai nội dung cơ bản. Với tư cách là một giá trị triết học - nhân văn, quyền con người là một giá trị, gồm: (1). Nhân phẩm: được hiểu là những điều kiện về vật chất (ăn, ở, …) và tinh thần (được thừa nhận tư cách là một con người có các quyền theo quy định pháp luật,…). (2). Tự do: được hiểu là mọi người có quyền làm mọi điều mà pháp luật không cấm,…). (3). Bình đẳng: là mọi người có quyền như nhau, không phân biệt về giới tính, chủng tộc, vị thế xã hội, tài sản, v.v. (4). Tinh thần nhân đạo, khoan dung. (5). Trách nhiệm xã hội của mỗi người với cộng đồng: được hiểu là trong khi hưởng thụ các quyền, tất cả mọi người đều phải chịu sự hạn chế nhất định, nhằm: “Bảo vệ an ninh, trật tự công cộng, sức khoẻ hoặc đạo đức xã hội, hoặc để bảo vệ các quyền và tự do cơ bản của người khác” (Khoản 3, Điều 18, 19 - Công ước quốc tế về các quyền Dân sự, Chính trị, năm 1966). Như vậy, hoàn toàn không có chuyện quyền con người (quyền cá nhân) cao hơn chủ quyền; không có chuyện cá nhân có thể làm bất cứ điều gì mà có thể “quên” đi trách nhiệm xã hội. Nói cách khác, quyền con người ở đâu, quốc gia nào, chế độ xã hội nào cũng phải nằm trong khuôn khổ của pháp luật quốc gia, không được xâm hại đến quyền của xã hội, quyền và lợi ích của người khác.
Với tư cách là một giá trị pháp lý, quyền con người là các quy định pháp luật (trong luật quốc gia và luật quốc tế) bảo vệ và bảo đảm nhân phẩm, các nhu cầu và lợi ích về vật chất, tinh thần của tất cả mọi người, đồng thời mỗi người phải có nghĩa vụ đối với nhà nước và xã hội. Như vậy, quan niệm này chỉ rõ: người dân là chủ thể của “quyền”, nhà nước là người tôn trọng và chịu trách nhiệm bảo vệ và bảo đảm “quyền”. Cần lưu ý rằng, theo các văn kiện cơ bản của Liên hợp quốc, khái niệm quyền con người không chỉ là quyền của cá nhân, mà còn là quyền của quốc gia, dân tộc và quyền của tập thể - quyền của nhóm, đặc biệt là những nhóm xã hội dễ bị tổn thương. Về quyền quốc gia dân tộc, Điều 1, (Phần I), Công ước quốc tế về các quyền Dân sự, Chính trị năm 1966, quy định rằng: “Mọi dân tộc đều có quyền tự quyết. Xuất phát từ quyền đó, các dân tộc tự do quyết định thể chế chính trị của mình và tự do phát triển kinh tế, xã hội và văn hoá,…”. Quy định này mặc định rằng: bất cứ một quốc gia, nhà nước nào, đều có quyền xây dựng chế độ chính trị, hệ thống pháp luật mà không có bất cứ ai, quốc gia nào, thậm chí cả Liên hợp quốc cũng không có quyền can thiệp. Về quyền dân tộc tự quyết, Hội nghị nhân quyền quốc tế ở Viên (Áo) năm 1993 đã tái khẳng định: “Việc khước từ quyền tự quyết dân tộc là sự vi phạm quyền con người”1. Tại Hội nghị này, lần đầu tiên các thành viên đã thống nhất đưa ra khái niệm “tính đặc thù” của quyền con người. Văn kiện viết: “Cộng đồng quốc tế phải đối xử với các quyền con người trên phạm vi toàn cầu một cách công bằng,...(và) phải luôn ghi nhớ tầm quan trọng của tính đặc thù về dân tộc, khu vực cũng như bối cảnh khác nhau về lịch sử, văn hoá và tôn giáo; các quốc gia, không phân biệt hệ thống chính trị, kinh tế, văn hoá,...”2. Đây là cơ sở triết học - chính trị về sự khác biệt về quyền con người giữa các quốc gia - dân tộc. Điều này có nghĩa, không một ai được xem pháp luật của một quốc gia nào đó làm chuẩn mực để đánh giá, phê phán pháp luật nước khác là “không phù hợp với chuẩn mực nhân quyền quốc tế”, là “vi phạm nhân quyền”(!)
Về quyền tập thể và quyền của “nhóm xã hội” dễ bị tổn thương, theo quan niệm chung của cộng đồng quốc tế, quyền con người còn bao gồm “Quyền phát triển”. Theo đó, mọi người và mọi dân tộc đều có quyền được tham gia đóng góp và hưởng thụ thành quả từ sự phát triển về kinh tế, xã hội, văn hóa và chính trị, trong đó mọi quyền con người và các tự do cơ bản cần phải được thực hiện một cách đầy đủ. Quyền của nhóm xã hội dễ bị tổn thương, gồm: Trẻ em (Công ước về quyền trẻ em, 1989); Nữ giới (Công ước Xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử đối với phụ nữ, 1979 (CEDAW); Người khuyết tật (Công ước về người khuyết tật, 2007). Về lý luận cũng như thực tiễn, việc bảo đảm quyền của những người trong nhóm xã hội này tất yếu phải tùy thuộc vào chính sách, pháp luật của nhà nước. Cả 3 công ước nói trên, Việt Nam đã ký kết và phê chuẩn. Như vậy, luận điểm “Quyền con người cao hơn chủ quyền”, “Quyền con người không có biên giới”, nếu như không xuất phát từ động cơ chính trị xấu thì cũng là những nhận thức ấu trĩ về quyền con người.
Thứ hai, bản chất chính trị của những lập luận “Nhân quyền cao hơn chủ quyền”, “Nhân quyền không biên giới” là gì ? Lập luận mà các thế lực thù địch, những kẻ cơ hội, thoái hóa về tư tưởng, chính trị đang rao giảng, tuyên truyền nhằm: (1). Ở trong nước, chúng tạo chỗ dựa tinh thần - lý luận, pháp lý,… để cổ vũ cho các cá nhân, tổ chức (kể cả tổ chức ảo trên mạng) tiếp tục những hành động trái pháp luật, phá hoại an ninh quốc gia, gây rối trật tự công cộng, nếu có điều kiện sẽ gây bạo loạn lật đổ chế độ; đồng thời, vu cáo sự lãnh đạo của Đảng ta là “chế độ độc tài, đảng trị”, “phi nhân quyền”. (2). Ở nước ngoài, chúng lợi dụng lập luận nói trên để cổ vũ cộng đồng người Việt, nhất là những kẻ phản bội Tổ quốc, hận thù với cách mạng, phá hoại chính sách đại đoàn kết của Đảng và Nhà nước ta. Điển hình là Nghị sĩ Hoa Kỳ gốc Việt (bang California) Janet Nguyễn đã “viết thư cho Tổng thống Hoa Kỳ” xuyên tạc cuộc kháng chiến của nhân dân ta chống thực dân, đế quốc xâm lược, hòng gây áp lực với Chính phủ Mỹ hạn chế quan hệ với Việt Nam vì lý do “nhân quyền”. Phát biểu trong cuộc họp của Thượng viện bang California (tháng 2-2017), bà nghị “ngoại nhập” này đã xúc phạm cố Thượng nghị sĩ Tom Hayden và bà Jane Fonda - diễn viên điện ảnh nổi tiếng Hoa Kỳ (hai người đã từng đến Hà Nội tham gia phản đối chiến tranh Việt Nam). Hình ảnh cho thấy, chủ tọa đã ngắt lời nhiều lần, cuối cùng yêu cầu nhân viên an ninh cưỡng chế bà nghị sĩ (nhiều trang mạng gọi là “lôi cổ”) ra khỏi phòng họp. Như vậy, bản chất chính trị của những lập luận “Nhân quyền cao hơn chủ quyền”, “Nhân quyền không biên giới” là từng bước, đi từ làm suy yếu về tư tưởng, chính trị, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân, cô lập Việt Nam đến gây mất ổn định chính trị, xã hội, cuối cùng là xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng ta.
Thứ ba, quan điểm của Đảng, Nhà nước ta về mối quan hệ giữa chủ quyền quốc gia dân tộc với quyền con người như thế nào? Ngay từ Cương lĩnh đầu tiên (Chánh cương vắn tắt và Sách lược vắn tắt), năm 1930, Đảng ta đã xác định mục tiêu của cách mạng Việt Nam vừa nhằm giành độc lập dân tộc, vừa giải phóng xã hội, đem lại các quyền con người và quyền công dân cho mọi người. Bước vào thời kỳ đổi mới, tháng 7-1992, Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa VII) ra Chỉ thị 12-CT/TW, khẳng định “Quyền con người là giá trị chung của nhân loại. Đó là thành quả đấu tranh lâu dài của nhân dân lao động và các dân tộc trên thế giới chống lại mọi áp bức, bóc lột” và “giải phóng con người (trong đó có việc đảm bảo các quyền con người) gắn liền với giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội; chỉ có dưới tiền đề độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội thì quyền con người mới có điều kiện được đảm bảo rộng rãi, đầy đủ, trọn vẹn nhất”. Kế thừa các Cương lĩnh, đường lối, quan điểm về nhân quyền trước đó, Cương lĩnh năm 2011 của Đảng, tích hợp các giá trị của chế độ dân chủ với quyền con người, quyền và nghĩa vụ công dân. Trong đó, xác định mục tiêu là xây dựng một xã hội “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; … con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; … có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới”. Thể chế hóa Cương lĩnh 2011, Hiến pháp năm 2013 đã dành cả Chương II, quy định về “Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân” một cách đầy đủ và tương thích với các công ước quốc tế cơ bản về quyền con người.
Nhất quán với quan điểm trên, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước ta đã sớm gia nhập, ký kết các công ước quốc tế về quyền con người. Năm 1982, Việt Nam đã gia nhập hai công ước quốc tế cơ bản: (1) “Công ước quốc tế về các quyền Dân sự, Chính trị”; (2) “Công ước quốc tế về các quyền Kinh tế, Xã hội và Văn hóa”. Đến nay, Việt Nam đã tham gia đầy đủ các công ước quốc tế về quyền con người. Như vậy, với Đảng ta, quyền con người gắn liền với chế độ xã hội; độc lập dân tộc là tiền đề của quyền con người. Đại hội XII của Đảng tiếp tục khẳng định: đặt lợi ích Quốc gia, Dân tộc ở vị trí “tối cao” trong các mục tiêu của Đảng. Quan điểm này là cơ sở để Việt Nam quan hệ với các quốc gia và tổ chức quốc tế, kể cả Liên hợp quốc. Hiện nay, Việt Nam đã thiết lập quan hệ với trên 180 quốc gia, vùng lãnh thổ, trong đó có 05/05 nước Thường trực Hội đồng bảo an Liên hợp quốc. Trong quan hệ, hai bên đều khẳng định nguyên tắc: tôn trọng Hiến chương Liên hợp quốc, thể chế chính trị của nhau; tôn trọng chính sách, pháp luật của nhau, trong đó có quyền con người.
Có thể khẳng định: với Đảng, Nhà nước ta, cùng với chế độ dân chủ, quyền con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tôn trọng và bảo đảm quyền con người là trách nhiệm, đồng thời là chủ quyền của Nhà nước ta. Không thể có “Quyền con người cao hơn chủ quyền”, “Quyền con người không biên giới” tồn tại bên ngoài chế độ xã hội, nhà nước hiện hữu như các thế lực thù địch, những kẻ có hận thù với cách mạng, những kẻ phản bội, cơ hội,… trong và ngoài nước đang tuyên truyền.
Đọc thêm...

Hot (焦点)