15 năm hợp tác cùng có lợi
07:30 |
(VOV5) - Hiệp định Hợp tác Nghề cá vịnh Bắc Bộ Việt Nam - Trung Quốc là một trong những Hiệp định quan trọng, có ý nghĩa lịch sử trong việc đàm phán phân định vịnh Bắc Bộ giữa hai nước.
Trong dòng chảy chung của quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam-Trung Quốc, hợp tác trên biển, trong đó có hợp tác khai thác nguồn lợi thủy sản chung ở vịnh Bắc Bộ là một điểm sáng. Sau 15 năm kể từ ngày Hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ và Hiệp định Hợp tác nghề cá Vịnh Bắc Bộ Việt Nam - Trung Quốc có hiệu lực và đi vào cuộc sống đã góp phần ổn định tình hình an ninh trật tự trong Vịnh Bắc Bộ.
Hiệp định Hợp tác Nghề cá vịnh Bắc Bộ Việt Nam - Trung Quốc là một trong những Hiệp định quan trọng, có ý nghĩa lịch sử trong việc đàm phán phân định vịnh Bắc Bộ giữa hai nước. Hiệp định Hợp tác nghề cá Vịnh Bắc Bộ Việt Nam-Trung Quốc có hiệu lực từ năm 2004, thời hạn hiệu lực trong vòng 12 năm và 3 năm gia hạn.
Theo Hiệp định, 2 bên thiết lập một vùng đánh cá chung rộng 33.500km2, có phạm vi từ vĩ tuyến 20 trở xuống đến đường đóng cửa Vịnh, cách đường phân định 30,5 hải lý về mỗi phía. Thời hạn của vùng đánh cá chung là 15 năm, gồm 12 năm chính thức và 3 năm gia hạn.
Ổn định an ninh trật tự trong vùng
Theo nội dung hiệp định, vùng đặc quyền kinh tế của nước nào thì nước đó có quyền kiểm tra, kiểm soát và xử lý các tàu cá được phép vào vùng đánh cá chung, sản lượng và số lượng tàu thuyền được phép vào vùng đánh cá chung là dựa trên nguyên tắc bình đẳng, căn cứ vào sản lượng được phép đánh bắt, được xác định thông qua điều tra định kỳ. Ngoài ra, mỗi bên đều có quyền liên doanh hợp tác đánh cá với bên thứ ba trong vùng đặc quyền kinh tế của mình.
Tại Hội thảo Đánh giá 15 năm thực thi Hiệp định hợp tác nghề cá vịnh Bắc Bộ, lãnh đạo Bộ Nông nghiệp và PTNT Việt Nam và Bộ Nông nghiệp Nông thôn Trung Quốc cùng khẳng định, Hiệp định Vịnh Bắc Bộ và Hiệp định Hợp tác Nghề cá đi vào cuộc sống đã góp phần ổn định tình hình an ninh trật tự trong vịnh Bắc Bộ, xây dựng môi trường hòa bình, ổn định, hợp tác của hai nước. Hai nước đã tổ chức tốt việc duy trì sản xuất và an ninh trên biển. Hầu hết số tàu cá được cấp phép đảm bảo tuân thủ quy định, ngư dân hoạt động tuân thủ sự kiểm tra, giám sát của các lực lượng Cảnh sát biển, Kiểm ngư, Bộ đội Biên phòng.
Riêng với Việt Nam, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và PTNT Việt Nam Phùng Đức Tiến khẳng định: "Hiệp định đã xác định rõ phạm vi và tạo ra một khuôn khổ pháp lý quốc tế rõ ràng, thuận lợi cho việc mỗi nước quản lý, khai thác phát triển các vùng vùng biển và thềm lục địa của mình trong vịnh Bắc Bộ, đồng thời cũng tạo điều kiện cho hai bên có cơ sở thúc đẩy hợp tác nhằm phát triển bền vững vịnh bắc bộ, duy trì sự ổn định trong vịnh, tăng cường sự tin cậy và phát triển quan hệ chung giữa hai nước".
Kể từ khi Hiệp định có hiệu lực, các cơ quan chức năng hai nước phối hợp cùng nhau giữ gìn trật tự mới trong khu vực, đôn đốc ngư dân hai bên chấp hành Hiệp định, kiểm soát tàu cá trên vùng đánh cá chung. Ông Vu Khang Chấn, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp Nông thôn Trung Quốc đánh giá: "Với sự nỗ lực của các bộ ngành liên quan hai nước, hai bên trên tinh thần hợp tác hữu nghị, tin cậy, thấu hiểu lẫn nhau, trật tự sản xuất nghề cá trong vùng nước Hiệp định tương đối ổn định, cơ bản thực hiện được 3 "bình ổn quá độ", đó là sản xuất nghề cá, tình cảm ngư dân và phương thức quản lý nghề cá. 15 năm thực hiện Hiệp định là 15 năm hợp tác nghề cá hai nước đạt thành quả nổi bật, đóng góp cho phát triển kinh tế ven Vịnh, ổn định xã hội khu vực đánh bắt cá".
Thúc đẩy thực thi có hiệu quả Hiệp định
Hiệp định hợp tác nghề cá Vịnh Bắc Bộ là thành quả không hề dễ của xúc tiến hợp tác giữa Việt Nam-Trung Quốc. Vịnh Bắc Bộ có vị trí chiến lược quan trọng đối với Việt Nam và Trung Quốc về an ninh và quốc phòng. Ngoài ý nghĩa về an ninh, quốc phòng, Vịnh Bắc Bộ còn có ý nghĩa lớn về kinh tế, có nguồn lợi hải sản phong phú. Hai nước đều có nhu cầu hợp tác đánh bắt, bảo vệ môi trường và bảo vệ và nuôi trồng nguồn hải sản trong Vịnh.
Việc Hiệp định hợp tác nghề cá Vịnh Bắc Bộ được thực thi có hiệu quả trong 15 năm qua đã tạo điều kiện thuận lợi để giải quyết vấn đề tồn tại do lịch sử để lại, tạo cơ sở và động lực thúc đẩy quá trình xây dựng lòng tin, tăng cường quan hệ hữu nghị, hợp tác giữa Việt Nam và Trung Quốc.
Trên cơ sở 15 năm hợp tác, hai bên đang tiếp tục đẩy mạnh và làm tốt công tác tuyên truyền, tập huấn cho ngư dân, đảm bảo tuân thủ các quy định của Hiệp định và các quy định khác của pháp luật. Bên cạnh đó, hai bên cũng đang tiến hành điều tra đánh giá nguồn lợi hải sản, thả giống tái tạo nguồn lợi, tăng cường công tác phối hợp tuần tra, kiểm tra, kiểm soát hoạt động nghề cá trên các vùng biển, nhằm tiếp tục thúc đẩy sự phát triển bền vững thủy sản trong vịnh Bắc Bộ, tăng cường sự tin cậy trong quan hệ chung giữa hai nước Việt Nam - Trung Quốc.
文艺不能独立于政治之外
08:33 |
一个社会制度的正统文艺一向服务于那个社会制度的建设和巩固事业。其说明,文艺不能独立于政治之外,离不开执政阶级的领导。这是一个规律。可惜的是,在越南仍有些人与这个规律背道而驰。
近年来,文艺界蜕化变质分子已大声疾呼要求文艺独立于党的领导和现在制度(尽管这些人已经和正在享受由制度带来了真正价值)。他们想方设法传播反社会主义制度、否认革命成果、否认马列主义和胡志明思想的文学、绘画、音乐、电影等作品。他们提高和鼓吹带有极端思想的作品。他们甚至认为这些作品已给我国报纸、文艺领域带来“新风头”,“先锋”脱离党的领导,体现“开放文艺”精神。此外,有些人还故意抹黑、攻击拥有正统观点的人物和文学批评家,抹黑他们为党“帮闲”,是文章论坛上的“木偶”。这些蜕化变质分子的代表是自称“越南独立文团理事会”,以片面的目光,该文团理事会认为由党领导的文艺是为决议插画、为实际增光的文艺。可恶的是,有的作家、诗人在党领导下的革命文章事业成长,但因“患上重病”而“盲目”否认自己的精神之子。这些人认为,战争时期的文学作品都是党“订货”的插画作品,毫无感触的,因此,这些作品毫无价值,必须拥有新认识,脱离党的干预。
各位“开放文艺家”都了解一个社会的政治一般体现在政治学说和国家两个方面。其中,政治学说扮演主导作用,旨在解决各阶级、各民族和各社会阶层之间的关系以及建设一个国家来组织、管理、调控和引导社会按政治学说理论和观点发展。这样,在一个社会里,提到政治就是提到意识形态和国家性质的主导作用,旨在确保政治思想得到现实化。在社会里扮演主导作用时,政治不仅影响到其他社会意识形态,而且还在社会物质和精神领域所有活动中扮演领导和支配作用。以客观、全面、科学的接近法,马列主义指出,文艺是特殊社会意识形态,集中、充分、深刻地表现人对现实的审美关系,并强调文艺要透彻领会革命思想,带有阶级性、党性和定向性。胡志明主席强调:“的确的,民族被压迫,文艺也失去自由。文艺想要自由必须参加革命”。因此,尽管带有什么特征、什么特殊,文艺从认识和反映都要服务于民族革命事业,为解决时代矛盾和要求作出贡献。政治意识和文学意识是走上幸福道路的同行者。政治声音和艺术声音相互补充,平衡社会精神生活。
实现民族和人民交付的神圣使命,越南共产党已领导文艺发挥其“真、善、美”价值,服务于人民和民族的崇高渴望。其意味着,党领导文艺并不是强加,而是客观要求,不仅为了实现民族的理想和目标,而且还为了文艺的存在和发展,确保该“特殊社会意识形态”朝着正确方向全面、有益发展,满足人民和民族的美好、丰富和健康的渴望。因此,在1943年文化提纲(其中有文艺),我党已把文化视为一场革命,与政治革命和经济革命同时进行。该正确观点已得到我党诸多决议重申。领导革命过程,我党一向提高文化,将其视为社会的精神基础,是发展的目标和保障。
领导文艺过程,我党不干涉创新个性、创作兴起、文化作业和实行技能等具体问题。我党主张革新对文艺的领导方式,既确保文化、文艺按党的政治思想定向发展,又在以正确目的发挥高度自觉性的基础上保障个人的自由权和民主权。近期,2018年7月25日在越南文艺联合会成立日70周年纪念典礼上发表讲话时,越共中央总书记阮富仲强调,为文艺发展创造便利条件,党和国家一向鼓励和和尊重文艺家的自由探索和创新,并为文艺和文艺家制定特殊政策机制,确保符合国家经济社会发展情况。
越南革命实践证明,党的文艺路线是人发展、国家发展路线的组成部分,按确切的科学依据建设,面向文艺所面向的崇高目标。因此,越南文艺自从有党领导后已为诸多小资产知识分子转化了立场,成为热爱祖国的革命知识分子。诸如素有诗人1938年的《从那时候》一首诗标志着当时文艺界走上崇高理想的转折点。制兰园诗人感谢党已改变了他的生活,改变了他的诗歌。阮公欢作家也强调,八月革命已就生了他,解放他家庭,解放他小说之笔等。1930-1945年革命阶段,文艺已对动员革命、鼓舞同胞铸就1945年八月革命历史胜利扮演重要作用。在抗法抗美斗争中,许多文艺家边持枪边拿笔,边战斗边创作,他们的贡献已为“艺术家-战士”的美好形象增添光彩。他们的作品以达到思想、文艺的顶峰,创作出带有崇高理想并达到最高文化境界的形象,引领读者面向高尚价值。自从国家获得统一以来,尤其是在革新开放事业中,文艺继续取得重要成就,多数艺术家已发挥公民和艺术战士的责任,制作富有思想和艺术价值的作品,为促进国家文化发展作出贡献,不愧为社会牢固、精华价值的代表。
从上述事实不妨向各位“开放文艺家”、“先锋笔者”提问:这难道是扼杀自由、扼杀民主?是否强加思想?是否镇压为自由思想、自由创造斗争的文艺家?各作品若仅像他们捏造的所谓“插画”和“订货”写出来,其怎么能达到如此之高的思想和文艺境界?就是政治意识和出众才能与一片冰心已培育出为了民族正义事业付出全力的历代越南革命文艺家。就出于这个意识,文艺家得到自由创作,与民族稳步前进,为民族铸就伟大历史奇迹作出贡献。
过去时间,职能机关已禁止和收回违反《出版法》的文学作品,有的作品还对政治作出缺乏科学依据的观点和评估,歪曲越南历史,挑起民族仇恨思想和埋怨情绪。越南职能机关的决定是完全正确的,旨在为真正文艺的发展创造便利条件,为我国人民已选择的社会主义制度建设事业作出积极贡献。这完全不是一些人捏造的所谓“撤消精华知识分子的贡献”,而是为了遏制那些以自我为衡量社会品质标准、抹黑社会、发泄不满和怀恨心理的作品。这些作品只对作品本身及其主人带来“反价值”。这是不可抵赖的事实。因此,要求文艺独立于政治之外若不是帮助敌对势力实施黑暗图谋,也是幼稚与迷失方向的表现。
Văn học, nghệ thuật không thể đứng ngoài chính trị
08:33 |
Văn học, nghệ thuật chính thống của một chế độ xã hội bao giờ cũng phục tùng, phục vụ việc xây dựng và củng cố chế độ xã hội ấy. Điều đó đã khẳng định: văn học, nghệ thuật không thể đứng ngoài chính trị, không thể tách khỏi sự lãnh đạo của giai cấp cầm quyền. Đó là quy luật. Ấy vậy mà ở nước ta, một số người, nhóm người vẫn cố tình đi ngược lại quy luật khách quan đó.
Thời gian qua, nhất là những năm gần đây, một số người biến chất hoạt động trên lĩnh vực văn học, nghệ thuật đã lớn tiếng kêu gọi và đòi văn học, nghệ thuật không phụ thuộc vào sự lãnh đạo của Đảng, đứng ngoài chế độ chính trị hiện hành (cho dù chính chế độ này đã mang lại cho họ những giá trị đích thực và họ đã, đang được hưởng). Vì thế, họ ra sức truyền bá các tác phẩm văn học, hội họa, những chương trình ca nhạc, phim ảnh có nội dung chống chế độ xã hội chủ nghĩa, phủ nhận thành quả của cách mạng, phủ nhận chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Họ đề cao, cổ súy một số tác phẩm của những văn nghệ sĩ cực đoan, quá khích. Thậm chí, họ còn cho rằng, những tác phẩm này đã tạo nên “luồng gió mới” trong lĩnh vực báo chí, văn học, nghệ thuật nước ta và đã “tiên phong” thoát ra khỏi sự lãnh đạo của Đảng, thể hiện đúng tinh thần “văn nghệ mở”. Bên cạnh đó, một số kẻ đã cố tình bôi nhọ, đả kích các nhân vật, các nhà phê bình văn học có quan điểm chính thống; xuyên tạc cho rằng họ là những “bồi bút” cho Đảng, “con rối” trên diễn đàn văn chương, v.v. Điển hình trong đó có nhóm tự xưng “Ban vận động Văn đoàn Việt Nam độc lập” và phiến diện cho rằng: văn học, nghệ thuật do Đảng lãnh đạo là thứ văn học, nghệ thuật minh họa nghị quyết, tô hồng thực tế theo chỉ đạo của Đảng. Thật đáng buồn hơn, có nhà văn, nhà thơ trưởng thành trong nền văn chương cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhưng do bị “mắc bệnh nặng” nên đã “mờ mắt”, phủ nhận chính những đứa con tinh thần của mình khi liên tục cho rằng: các tác phẩm văn học viết trong chiến tranh là những kiểu viết minh họa đầy chất “đặt hàng” của Đảng mà không phải viết do cảm xúc, do tình người của nhà văn; do đó, những tác phẩm đó không có giá trị và phải có nhận thức mới để thoát khỏi sự can dự của Đảng(!)
Chắc chắn các “nhà văn nghệ mở” đều đã biết, sự tồn tại của chính trị trong một xã hội thường được thể hiện trên hai phương diện là học thuyết chính trị và nhà nước. Trong đó, học thuyết chính trị giữ vai trò chủ đạo trong ý thức xã hội để giải quyết mối quan hệ giữa các giai cấp, các dân tộc, các tầng lớp trong xã hội và xây dựng nên một nhà nước nhằm tổ chức, quản lý, điều chỉnh và định hướng xã hội phát triển theo lý luận, quan điểm của học thuyết chính trị đó. Như vậy, trong một xã hội, nói đến chính trị là nói đến vai trò chủ đạo cả trong ý thức xã hội lẫn hệ thống thiết chế mang tính chất nhà nước để bảo đảm cho sự hiện thực hóa tư tưởng chính trị. Khi đã hiển nhiên giữ vai trò chủ đạo trong một xã hội, thì chính trị không chỉ ảnh hưởng và tác động tới các hình thái ý thức xã hội khác cùng trong một kiến trúc thượng tầng, mà còn giữ vai trò lãnh đạo và chi phối mọi hoạt động trong lĩnh vực vật chất, tinh thần của xã hội. Bằng cách tiếp cận thực sự khách quan, toàn diện, khoa học, chủ nghĩa Mác – Lê-nin đã chỉ ra, văn học, nghệ thuật là một hình thái ý thức xã hội nhưng là hình thái ý thức xã hội đặc thù; biểu hiện tập trung, đầy đủ, sâu sắc nhất quan hệ thẩm mỹ của con người đối với hiện thực và luôn nhấn mạnh văn học, nghệ thuật phải thấm nhuần tư tưởng cách mạng, có tính giai cấp, tính đảng, tính định hướng, v.v. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Rõ ràng là dân tộc bị áp bức, thì văn nghệ cũng mất tự do. Văn nghệ muốn tự do thì phải tham gia cách mạng”1. Vì vậy, dù có những đặc trưng, đặc thù nào đi chăng nữa thì từ sự nhận thức, phản ánh của mình, văn học, nghệ thuật vẫn phải nhằm mục đích góp phần vào sự nghiệp cách mạng của dân tộc, giải quyết những mâu thuẫn, những yêu cầu đặt ra của thời đại. Ý thức chính trị và ý thức văn học là những người bạn đồng hành trên con đường đi tìm hạnh phúc. Tiếng nói chính trị và tiếng nói nghệ thuật bổ sung cho nhau, làm thăng bằng đời sống tinh thần của xã hội.
Thực hiện sứ mệnh mà dân tộc, nhân dân giao cho, Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo văn học, nghệ thuật nhằm phát huy cao nhất tính “chân, thiện, mỹ” của nó, vì khát vọng cao đẹp của nhân dân và dân tộc ta. Điều đó cũng có nghĩa, Đảng lãnh đạo văn học, nghệ thuật không phải là sự áp đặt, mà trở thành nhu cầu khách quan, không chỉ cho việc thực hiện mục tiêu, lý tưởng của dân tộc, mà còn vì chính sự tồn tại, phát triển của văn học, nghệ thuật; đảm bảo cho “hình thái ý thức xã hội đặc thù” này phát triển đúng hướng, toàn diện, có ích và đáp ứng khát vọng tốt đẹp, phong phú, lành mạnh của nhân dân, của dân tộc. Vì vậy, ngay từ năm 1943, Ðề cương văn hóa - chiến lược đầu tiên về văn hóa (trong đó có văn học, nghệ thuật) của Ðảng đã đặt văn hóa là một cuộc cách mạng được tiến hành đồng thời với cách mạng chính trị và cách mạng kinh tế. Quan điểm đúng đắn đó đã được khẳng định lại trong nhiều nghị quyết của Ðảng. Quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn đề cao văn hóa, coi đó là nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu, là sự bảo đảm cho sự phát triển bền vững: “Không có hình thái tư tưởng nào có thể thay thế được văn học và nghệ thuật trong việc xây dựng tình cảm lành mạnh, tác động sâu sắc vào việc đổi mới nếp nghĩ, nếp sống của con người”2.
Trong quá trình lãnh đạo, Đảng không can thiệp sâu vào những vấn đề cụ thể như cá tính sáng tạo, cảm hứng sáng tác, các tác nghiệp, kỹ năng thực hành văn hóa, v.v. Đảng chủ trương: đổi mới phương thức lãnh đạo đối với văn học, nghệ thuật theo hướng vừa bảo đảm để văn hóa, văn học - nghệ thuật phát triển đúng định hướng chính trị, tư tưởng của Đảng, vừa bảo đảm quyền tự do, dân chủ cá nhân trong sáng tạo trên cơ sở phát huy tính tự giác cao với mục đích đúng đắn. Mới đây, trong bài phát biểu tại Lễ kỷ niệm 70 năm Ngày thành lập Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam (25-7-2018), Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: để tạo điều kiện cho văn học, nghệ thuật phát triển, Đảng và Nhà nước luôn khuyến khích mọi tìm tòi, tôn trọng tự do sáng tạo của người nghệ sĩ, xây dựng cơ chế, chính sách đặc thù đối với văn học, nghệ thuật và văn nghệ sĩ phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Thực tiễn cách mạng Việt Nam đã chứng minh, đường lối văn học, nghệ thuật của Ðảng là một bộ phận trong đường lối phát triển con người, phát triển đất nước, được xây dựng trên những căn cứ khoa học xác đáng, hướng tới những mục tiêu cao đẹp mà văn học, nghệ thuật cũng nhằm hướng tới. Do đó, văn học, nghệ thuật Việt Nam từ khi có Đảng lãnh đạo đã chuyển hóa lập trường cho nhiều trí thức tiểu tư sản sang người trí thức cách mạng giàu lòng yêu nước. Đơn cử như, bài thơ “Từ ấy” của Tố Hữu (năm 1938) đã đánh dấu sự chuyển biến, đi theo lý tưởng cao đẹp, dám sống, dám đấu tranh của giới văn nghệ sĩ lúc bấy giờ. Nhà thơ Chế Lan Viên đã cảm ơn Đảng: Người thay đổi đời tôi, Người thay đổi thơ tôi. Nhà văn Nguyễn Công Hoan cũng đã khẳng định: chính Cách mạng Tháng Tám đã cứu sống đời Ông, giải phóng cho gia đình Ông và giải phóng cho ngòi bút viết tiểu thuyết của Ông, v.v. Trong giai đoạn cách mạng từ 1930 - 1945, văn học, nghệ thuật đã có vai trò quan trọng trong vận động cách mạng, cổ vũ đồng bào cả nước làm nên thắng lợi lịch sử Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, các tên tuổi, như: Nguyễn Đình Thi, Phạm Tiến Duật, Xuân Hồng, Phạm Tuyên,… và cả những người đã anh dũng ngã xuống, như: Nguyễn Thi, Lê Anh Xuân,… đã vừa cầm súng, vừa cầm bút; vừa chiến đấu, vừa sáng tác, góp phần làm nên hình ảnh cao đẹp, đáng tự hào - “Người nghệ sĩ - chiến sĩ”. Họ đã có những tác phẩm đạt tới tầm cao về tư tưởng, văn học, nghệ thuật; tạo ra những hình tượng đậm chất lý tưởng, thực sự mang tầm văn hóa lớn trong đấu tranh cách mạng, hướng bạn đọc đi đến những cái cao thượng, anh hùng, v.v. Từ khi đất nước thống nhất, đặc biệt trong sự nghiệp đổi mới, văn học, nghệ thuật tiếp tục đạt được những thành tựu đáng trân trọng; đại đa số các văn nghệ sĩ phát huy trách nhiệm công dân, trách nhiệm nghệ sĩ - chiến sĩ, sáng tác ra nhiều tác phẩm có giá trị về tư tưởng và nghệ thuật, góp phần thúc đẩy phát triển văn hóa nước nhà, xứng đáng đại diện cho “những giá trị bền vững, những tinh hoa của cộng đồng”3.
Thực tế là vậy! Thử hỏi các “nhà văn nghệ mở”, các ngòi bút “tiên phong” rằng, đó có phải là bóp nghẹt tự do, dân chủ, áp đặt tư tưởng, quan điểm trong sáng tạo văn học, nghệ thuật; hay trấn áp những văn nghệ sĩ, đấu tranh cho tự do tư tưởng, tự do sáng tạo không? Và, nếu các tác phẩm được viết theo kiểu “minh họa”, hay viết theo “đặt hàng mà không phải do cảm xúc” thì liệu có đạt tới tầm cao về tư tưởng, văn học, nghệ thuật như vậy không? Phải chăng, từ ý thức chính trị kết hợp với tài năng và tấm lòng trong sáng đã đem tới các thế hệ văn nghệ sĩ cách mạng Việt Nam ý chí, tình yêu vô bờ bến với sự nghiệp chính nghĩa của dân tộc. Từ ý thức đó, các văn nghệ sĩ được tự do sáng tác và vững bước cùng dân tộc, góp phần cùng dân tộc làm nên những kỳ tích mà lịch sử sẽ còn lưu giữ mãi.
Thời gian qua, chúng ta đã cấm phát hành và quyết định thu hồi một số tác phẩm, ấn phẩm văn học đã phát hành là do vi phạm Luật Xuất bản; thậm chí có tác phẩm có những quan điểm, nhận định, đánh giá thiếu căn cứ khoa học, mơ hồ về chính trị, như: cuốn “Bước thịnh suy của các triều đại phong kiến Trung Quốc” có nội dung xuyên tạc lịch sử về chủ quyền Biển Đông của Việt Nam; cuốn sách dịch “Đường về nô lệ” có nội dung đánh đồng chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô với chủ nghĩa phát-xít; cuốn sách “Gạc Ma - Vòng tròn bất tử” có nguồn thông tin tư liệu sai lệch, tuyên truyền chủ nghĩa xét lại một cách cực đoan, kích động thù hằn dân tộc, tạo tâm lý oán trách, v.v. Việc làm đó là hoàn toàn chính xác, đúng đắn để tạo điều kiện cho nền văn học, nghệ thuật chân chính phát triển, góp phần tích cực vào xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta, dân tộc ta đã lựa chọn, chứ không như một số người rêu rao là: trừng trị, triệt tiêu những đóng góp của giới tinh hoa, trí thức! Có chăng, đó chỉ là việc làm ngăn chặn những tác phẩm bôi đen, trút bức xúc và hằn học cá nhân, lấy cái tôi để làm thước đo phẩm chất cộng đồng,…; những tác phẩm đó bao giờ cũng mang tới sự “phản giá trị” đối với tác phẩm và chính chủ nhân của nó. Đó là sự thật không thể chối cãi được. Cho nên, khi người ta đòi hỏi tách văn học, nghệ thuật khỏi chính trị, nếu đó không nhằm tiếp tay, thực hiện ý đồ đen tối cho các thế lực phản động, thì cũng là biểu hiện của sự ấu trĩ, mất phương hướng trong nhận thức mà thôi.
2019年第一季度赴越旅游的外国游客量达450多万人次
20:00 |
越南统计总局的统计数据显示,2019年前三个月,赴越旅游的外国游客量约达450多万人次,较2018年同期增长7%。
其中,空路入境的外国游客量同比增长4.5%,海陆入境的外国游客量下降37.4%,陆路入境的外国游客量增长26.2%。大部分客源市场都大幅增长,泰国增长49.3%、中国台湾增长26%、菲律宾增长24.8%、韩国增长24.1%、印度尼西亚增长17.2%等。
2019年第一季度,越南旅游业向2490万名国内游客提供服务,其中入住游客1260万人次。旅游营业收入达175.1万亿越盾,同比增长8.35%.
Hơn 4,5 triệu khách du lịch quốc tế đến Việt Nam trong quý I-2019
18:54 |
Tổng cục Du lịch cho biết, ước tính số khách quốc tế đến Việt Nam trong 3 tháng đầu năm là hơn 4,5 triệu người. Riêng trong tháng 3, lượng khách ước đạt hơn 1,4 triệu lượt.
Theo đánh giá của Tổng cục Du lịch, số lượng khách du lịch quốc tế trong tháng 3-2019 là hơn 1,4 triệu lượt, giảm 11,2% so với tháng 2-2019 và tăng 5% so với tháng 3-2018.
Trong đó, lượng khách đến bằng đường hàng không đạt hơn 1 triệu lượt, chiếm 77,5% (tăng 2,3% so với tháng 3-2018); khách đến bằng phương tiện đường biển đạt hơn 20.000 lượt, chiếm 1,4% (giảm 25,8% so với tháng 3-2018); khách đến bằng phương tiện đường bộ đạt hơn 297.000 lượt, chiếm 21,1% (tăng 20,1% so với tháng 3-2018).
Số khách quốc tế đến Việt Nam trong 3 tháng đầu năm 2019 ước đạt hơn 4,5 triệu lượt, tăng 7% so với cùng kỳ năm 2018.
Trong đó, lượng khách đến bằng đường hàng không đạt hơn 3,5 triệu lượt (tăng 4,5% so với cùng kỳ năm 2018); khách đến bằng đường biển đạt hơn 75.000 nghìn lượt (giảm 37,4 % so với cùng kỳ năm 2018); khách đến bằng đường bộ đạt hơn 908.000 lượt (tăng 26,2% so với cùng kỳ năm 2018).
Trong 3 tháng đầu năm 2019, đa số các thị trường khách tăng, trong đó đáng kể là khách đến từ Thái Lan, Đài Loan (Trung Quốc), Philippines, Hàn Quốc, Indonesia, Hong Kong (Trung Quốc), Na Uy, Thụy Sỹ, Malaysia, Đan Mạch… Một số thị trường khách giảm như: Campuchia giảm 49,8%; Lào giảm 22,4%; Phần Lan giảm 5,7% và Trung Quốc giảm 5,6% so với cùng kỳ năm 2018.
Theo Tổng cục Du lịch, trong quý I, khách du lịch nội địa đạt 24,9 triệu lượt khách, trong đó có 12,6 triệu lượt khách lưu trú. Tổng thu từ khách du lịch đạt 175.100 tỷ đồng, tăng 8,35% so với cùng kỳ năm 2018.
Đánh giá về mức độ tăng trưởng của khách du lịch trong quý I, ông Hà Văn Siêu, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch cho biết, trong 3 tháng đầu năm, lượng khách du lịch quốc tế và nội địa đều tăng, đây là tín hiệu rất đáng mừng của ngành du lịch Việt Nam. Du lịch Việt Nam hoàn toàn tự tin có thể đạt được mục tiêu đón 18 triệu lượt khách du lịch quốc tế trong năm nay.
东海状态的转变是喜还是忧
07:49 |
自2018年以来,关注东海局势的人们察觉到一种不寻常的变化:中国与东南亚国家在海岛主权问题上的嘴巴战似乎沉静下去了,此前引起区域与国际舆论关心的相互抓捕渔民渔船、这个国家的船只与别国船只碰撞等事件也大量减少。人们高兴地看到旨在达成《东海行为准则》的谈判、《东海船只避碰规则》的制定以及建设互信机制等举措有了效果,东海局势趋于平稳。
之所以说东海局势在转变是因为旧状态并未消失,新状态已出现但未清晰。这种“模糊”状态也许要持续好几年,尽管它已显露头角。
在旧状态中,人们很容易看出中国与东盟有关国家间的东海领土主权争端已经“国际化”了。
起初它只是中国与越南和菲律宾、越南与菲律宾之间的争执,接着是中国与越南、菲律宾、马来西亚和台湾之间、及东南亚三国之间的争执,再接着是中国、台湾与越南、菲律宾、马来西亚和印尼之间、东南亚国家之间的争执,最终形成5国6方东海主权争端。所有争执影响了区域和平与稳定,妨碍了区域外所有国家通过东海的交通运输、投资合作等正常活动,因为东海25%的海域属公海。像老挝这样与海洋无关的内陆国家也要在中国东盟会议和东盟内部会议上见证争执各方之间的争吵。各方争执不断,最后超出5国6方争执范围成为近几年来受国际社会关注的世界热点问题。当区域紧张局势加剧时,利益相关的俄罗斯、美国等大国感到“不安”了,设法以这种或那种方式介入。有船只往返东海的国家看到争执导致的不安定状态也感到不安,终于发声了。东海问题逐步变成全世界关心的问题,被编到区域及国际会议的议程里,所以东盟国家和中国才坐下来磋商解决。东海问题何时“国际化”的,无人知晓。最保守的中国一直声称这是中国与一些东盟国家的内部问题,不承认这是国际问题。如今中国改口了,说什么东海的一些问题关联到区域内外的许多国家,若没有这些国家的参与就难以解决。“国际化”状态才几年就出现了现在的新状态。
新状态显露才一年多。这就是世界和区域大国在东海的出现和他们在解决东海争端问题上扮演的脚色。暂时把这种状态称为“大国化”,我们来看一看大国化”的演变过程。
首先是发声。现在美国、俄罗斯、日本、印度、英国、法国、德国、澳大利亚、加拿大等世界大国都关心和谈及东海问题,同时宣布该国在东海或多或少都有利益与责任。他们对东海的安全表示担忧,原因是东海主权争端日益升温,威胁了该地区的航海运输安全。他们表示不站在争端任何一方,并要求争端各方调解,不要让争端影响国际社会。只因“争执不休”所以他们才逐步介入维护真理,首先是维护自己的利益。于是大国领导人一个一个地开始发声。2012年,日本首相安倍宣布“太平洋的和平、稳定和自由航行不能与印度洋的和平稳定和航行自由分离”。也在2012 年,印度总理辛格指出“印度洋 -太平洋的稳定、安全和昌盛对我们的昌盛与进步是十分重要的”。这样一来,东海被确定为印度的战略利益海域。2016年印度发表声明指出,印度支持依照1982年《联合国海洋法公约》及国际法规定的自由航行航空和不妨碍贸易。2018年9月28日,法国国防部长在法国-澳大利亚国防会议上指出,“法国不站在哪一方,但继续在东海的航行”。两年来,澳大利亚、英国、加拿大等国高级官员都对东海问题发表了讲话。美国表现得最强硬:2010年,美国国务卿希拉里宣布,美国对亚洲航海空间的自由航行和接近以及在东海履行国际法都有着国家利益,2017年,美国国务卿蒂勒森在参议院说:“我们要向中国发出清晰的信号:首先要停止填海造岛,第二不得靠近这些岛礁。”2018年,美国副总统彭斯说,“亚太地区没有任何一个国家建立帝制和侵略的地方。”他说:“东海不属于哪个国家,美国将派遣舰只和飞机前往国际法允许的任何地方”。
在某种程度上说,大国的发声是东海“大国化”的表现。
更重要的是行动。他们再怎么讲局势依旧,甚至有的国家如中国在东海填海造岛,并且将先进军事装备、武器部署到那里以实现控制整个东海的图谋。各大国不得不采取行动,派遣军舰进入东海显示东海不是哪一家的私有海域。仅举几个列子:
在特朗普总统执政的两年里,美国在东海进行了11 次自由航行。谨列举如下:2018年5月,美国派遣安提坦号驱逐舰和希金斯号驱逐舰进入东海,驶过黄沙群岛海域。2018年6月,美国派出里根号航母前往菲律宾访问,然后停泊在马尼拉湾。到8月份,里根号航母与安提坦号驱逐舰参加日本在东海举行的军事演习。2018年9月,美国派遣迪凯特号巡航导弹驱逐舰经过长沙群岛鸡滨礁和嘎麻礁临近海域。到了2019年头三个月,美国军舰频繁在这里出现:1月麦坎贝尔号驱逐舰在黄沙群岛的木岛、灵昆岛和富林岛附近海域巡逻。2月斯普鲁恩斯号驱逐舰和雷普贝尔号驱逐舰在长沙群岛围巾环礁巡逻,3月蓝嶺号两栖指挥舰停泊在马尼拉湾,B52型飞机两次飞越东海。
英国:2018年8月,英国HMS海神之子号登陆舰经过黄沙群岛海域,2018年9月,HMS阿盖尔号驱逐舰在进入东海之前参加日本加贺号直升机护卫舰和闪电号驱逐舰在印度洋的军事演习。2019年1月,上述驱逐舰又进入东海参加美国麦坎贝尔号驱逐舰的军事演习。
日本:2018年,加贺号直升机护卫舰与闪电号驱逐舰和凉月号驱逐舰参加美国里根号航母及其它军舰在东海的演习。2018年9月,黑潮号潜舰与加贺直升机护卫舰在东海进行军事演习。这是这艘潜舰在访问越南之前在东海进行的首次演习。
俄罗斯:2018年10月,俄罗斯派遣瓦雅格号巡洋舰、潘迪雷耶夫上将号反潜驱逐舰和布托玛补给舰前往印度洋和太平洋,行程3个月。2018年11月,上述三艘军舰与文莱在东海进行联合军事演习。
澳大利亚:2018年2月,该国国防部长说,澳大利亚早在18个月前就加强了他在东海的军事存在。澳大利亚计划派遣一到两艘军舰加入美国倡导的东海自由航行。
几乎所有大国都派遣军舰前往东海进行巡逻和演习,这标志着东海已正式被“大国化”的现实。
这样看来,世界及区域大国近几年来所做的事是对东海问题表达观点然后派遣军舰前往东海,导致了东海的“大国化”。不过,也要认识到这只是大国单独的轮番行动而不是同时的集体行动,因此,从影响性质与程度来看,它还没有足够的压力迫使企图“独吞”东海的中国止步。当然了,不言而喻,现在中国在东海采取行动时不得不有所顾虑,三思而行,不敢像从前那样胡来。
Biển Đông đang chuyển trạng thái, mừng hay lo?
07:44 |
Từ cuối năm 2018 đến nay, những người quan tâm đến tình hình Biển Đông không khỏi nhận thấy một điều gì đó có vẻ không bình thường đang diễn ra. Đó là những cuộc đấu khẩu tranh chấp chủ quyền biển, đảo giữa Trung Quốc với các nước Đông Nam Á có liên quan dường như lắng xuống; những sự kiện thường gây quan tâm, chú ý của dư luận khu vực và quốc tế trước đây như bắt tàu cá và ngư dân của nhau, bắn chết người, va chạm tàu thuyền giữa nước này với nước kia… cũng giảm hẳn. Người ta mừng rằng những biện pháp như đàm phán hoàn thành Bộ quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC), xây dựng bộ quy tắc tránh va chạm tàu thuyền ở Biển Đông (CUES) cùng các biện pháp xây dựng lòng tin khác đã có hiệu quả, giúp tình hình Biển Đông trở nên yên ổn hơn. Biết đâu, tình hình Biển Đông đang chuyển trạng thái.
Sở dĩ nói Biển Đông đang chuyển trạng thái là vì trạng thái cũ chưa mất đi hẳn, trạng thái mới đã xuất hiện nhưng cũng chưa bộc lộ ra hết. Cái cảnh “tranh tối, tranh sáng” này có lẽ còn kéo dài vài năm nữa. Nhưng nó cũng đã hé ra cho thấy một phần.
Trạng thái cũ, đương nhiên dễ nhận ra, đó là cục diện tranh chấp chủ quyền lãnh thổ ở Biển Đông giữa Trung Quốc với các nước có liên quan thuộc Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN) đã được “quốc tế hóa”.
Ban đầu, nó là tranh chấp giữa Trung Quốc với Việt Nam, Philippines và giữa Philippines với Việt Nam; tiếp sau là tranh chấp giữa Trung Quốc với Việt Nam, Philippines, Malaysia, vùng lãnh thổ Đài Loan và tranh chấp giữa 3 nước ASEAN với nhau; tiếp sau nữa là tranh chấp giữa Trung Quốc, Đài Loan với Việt Nam, Philippines, Malaysia, Indonesia và tranh chấp giữa các nước Đông Nam Á với nhau, hình thành cục diện tranh chấp 5 nước 6 bên về chủ quyền trên Biển Đông. Không những thế, những tranh chấp đó còn làm ảnh hưởng đến hòa bình, ổn định chung của khu vực, cản trở hoạt động bình thường của mọi quốc gia bên ngoài khu vực khi họ có hoạt động liên quan như giao thương, hợp tác, đầu tư… ở Biển Đông vì có đến 25% diện tích Biển Đông là vùng biển quốc tế. Thậm chí, những nước ở trong lục địa không liên quan gì đến biển như Lào cũng phải dỏng tai ngồi nghe các bên tranh cãi trong các cuộc họp giữa Trung Quốc với ASEAN hay họp của nội khối ASEAN. Những tranh chấp đó cứ tích tụ, lưu cữu và phát triển tới mức không chỉ còn là vấn đề giữa 5 nước, 6 bên với nhau mà khiến cả cộng đồng quốc tế phải coi Biển Đông là một trong những vấn đề nóng nhất của thế giới trong nhiều năm qua. Một số nước lớn có lợi ích liên quan như Nga, Mỹ cũng cảm thấy “bất an” khi căng thẳng khu vực leo thang nên bằng cách này hay cách khác tìm cách can dự. Một số nước khác, có tàu bè thường xuyên qua lại Biển Đông, cũng lo lắng về những bất ổn do tranh chấp giữa các nước, cùng buộc phải lên tiếng. Dần dần, vấn đề Biển Đông trở thành mối quan tâm của cả thế giới, được đưa lên bàn nghị sự không chỉ của các hội nghị khu vực mà cả một số hội nghị quốc tế và vì thế, các nước ASEAN và Trung Quốc đã phải ngồi lại với nhau bàn cách giải quyết. Vấn đề Biển Đông được “quốc tế hóa” từ lúc nào, chẳng ai hay. Nước bảo thủ nhất là Trung Quốc, từ xưa đến nay chỉ cho rằng đây là vấn đề nội bộ giữa họ với một số nước ASEAN, không thừa nhận nó là vấn đề quốc tế thì đến gần đây cũng phải thừa nhận rằng, có những vấn đề của Biển Đông, liên quan đến nhiều nước trong và ngoài khu vực và nếu không có những nước đó tham gia, khó mà giải quyết. Trạng thái “quốc tế hóa” trên mới chỉ được vài năm, giờ đây đang xuất hiện trạng thái mới.
Trạng thái mới chỉ hé lộ hơn một năm trở lại đây. Đó là sự xuất hiện của các cường quốc thế giới và khu vực tại Biển Đông và vai trò của các cường quốc đó trong giải quyết vấn đề tranh chấp ở Biển Đông. Tạm gọi trạng thái đó là “cường quốc hóa” và hãy xem cái sự “cường quốc hóa” đó diễn ra như thế nào.
Trước tiên, bằng lời nói. Cho đến nay, các nước lớn trên thế giới như Mỹ, Nga, Nhật Bản, Ấn Độ, Anh, Pháp, Đức, Úc, Canada… đều quan tâm, đề cập đến vấn đề Biển Đông và tuyên bố mình ít nhiều có lợi ích, trách nhiệm ở đây, bày tỏ những quan ngại về an ninh của Biển Đông mà nguyên do là vấn đề tranh chấp chủ quyền ngày càng căng thẳng, đe dọa an toàn giao thông hàng hải tại khu vực này. Người ta không đứng về bên nào trong tranh chấp, mà chỉ yêu cầu các bên dàn xếp với nhau, đừng để ảnh hưởng đến cộng đồng quốc tế. Nhưng do “sự chẳng dừng” nên dần dà họ cũng phải can dự, bảo vệ lẽ phải, song trước tiên là bảo vệ lợi ích của mình. Thế là, những người có trách nhiệm của các cường quốc đã lần lượt lên tiếng. Năm 2012, Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe tuyên bố: “Hòa bình, ổn định và tự do hàng hải ở Thái Bình Dương không thể tách rời với hòa bình, ổn định và tự do hàng hải ở Ấn Độ Dương”. Cũng năm 2012, Thủ tướng Ấn Độ Manmohan Singh nêu rõ: “…một khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương ổn định, an toàn và thịnh vượng là rất quan trọng đối với sự thịnh vượng và tiến bộ của chúng ta” theo đó, Biển Đông được xác định là khu vực có lợi ích chiến lược của Ấn Độ. Năm 2016, Ấn Độ ra tuyên bố, trong đó nhấn mạnh “Ấn Độ ủng hộ tự do hàng hải, hàng không và không cản trở thương mại, dựa trên các nguyên tắc của luật pháp quốc tế như đã được nêu trong Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS)”. Ngày 28/9/2018, Bộ trưởng Quốc phòng Pháp lên tiếng khi đang dự hội nghị quốc phòng Pháp - Úc rằng: “Pháp không đứng về phía nào nhưng sẽ tiếp tục các hoạt động hàng hải qua Biển Đông”. Hai năm qua, lần lượt quan chức cấp cao các nước Australia, Anh, Canađa cũng đều lên tiếng bày tỏ quan điểm về Biển Đông. Và thể hiện mạnh mẽ nhất đó là Mỹ: Năm 2010, Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton tuyên bố Mỹ có lợi ích quốc gia trong việc tự do hàng hải, tiếp cận mở đối với các không gian hàng hải chung ở Châu Á và với việc tôn trọng luật quốc tế ở Biển Đông. Năm 2017, Ngoại trưởng Rex Tillerson phát biểu trước Thượng viện: “Chúng ta sẽ phải gửi đến Trung Quốc một tín hiệu rõ ràng rằng, trước tiên việc bồi đắp các đảo phải dừng lại, và thứ hai, họ không được tiếp cận các hòn đảo này”. Năm 2018, Phó Tổng thống Mike Pence tuyên bố: “Không có chỗ để bất kỳ nước nào thiết lập đế chế và xâm lược tại khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương” và “Biển Đông không thuộc về bất kỳ quốc gia nào và Mỹ sẽ tiếp tục triển khai tàu thuyền và máy bay đến bất cứ nơi nào mà pháp luật quốc tế cho phép”.
Ở một góc độ nào đó, phải thừa nhận rằng, sự lên tiếng của các cường quốc trên rõ ràng là biểu hiện “cường quốc hóa” Biển Đông qua lời nói.
Quan trọng hơn, bằng hành động. Nói mãi mà tình hình chẳng đi đến đâu, thậm chí có nước như Trung Quốc còn hút cát, xây cả đảo nhân tạo ở Biển Đông, đưa vũ khí, phương tiện quân sự hiện đại ra các đảo đó hòng kiểm soát tất cả. Các cường quốc buộc phải hành động bằng cách phái các tàu quân sự của hải quân hiện diện ngay trên Biển Đông nhằm khẳng định vùng biển này không phải của riêng ai. Xin điểm sơ sơ như sau:
- Trong 2 năm cầm quyền của Tổng thống Donald Trump, Mỹ đã có 11 lần tiền hành hoạt động tự do hàng hải ở Biển Đông. Có thể kể ở đây: tháng 5/2018, Mỹ phái 2 tàu khu trục là USS Antietam và USS Higgins vào Biển Đông, di chuyển qua vùng biển quần đảo Hoàng Sa; tháng 6/2018, Mỹ đưa tàu sân bay USS Ronald Reagan đến thăm và neo ở vịnh Manila của Philippines và sang tháng 8, tàu này cùng tàu USS Antietam tham gia diễn tập với các tàu của Nhật Bản ở Biển Đông; tháng 9/2018, Mỹ cho tàu khu trục tên lửa dẫn đường USS Decatur di chuyển qua Đá Ga Ven và Đá Gạc Ma thuộc vùng biển Trường Sa. Sang năm 2019, mới chỉ có 3 tháng, Mỹ đã dồn dập hiện diện quân sự ở đây: Tháng 1, tàu khu trục USS Mc Campbell đi tuần gần đảo Cây, đảo Linh Côn và Phú Lâm thuộc quần đảo Hoàng Sa; tháng 2, tàu khu trục USS Spruance và USS Preble tuần tra quanh bãi Vành Khăn thuộc quần đảo Trường Sa; tháng 3, tàu tuần dương USS Blue Ridege vào neo đậu trên vịnh Manila, 2 lần đưa máy bay B52 bay qua Biển Đông.
- Đối với Anh, tháng 8/2018, tàu tấn công đổ bộ HMS Albion của hải quân Anh đã đi qua vùng biển quần đảo Hoàng Sa; tháng 9/2018, khu trục hạm HMS Argyll của Anh đã tập trận chung với tàu sân bay trực thăng Kaga và tàu khu trục Inazuma của Nhật ở Ấn Độ Dương trước khi tiến vào Biển Đông; tháng 1/2019, khu trục hạm trên lại vào Biển Đông tập trận chung với tàu USS McCampbell của Mỹ.
- Đối với Nhật Bản, tháng 8/2018, tàu sân bay trực thăng Kaga cùng tàu khu trục JS Inazuma và JS Suzutsuki của hải quân Nhật đã diễn tập phối hợp với tàu sân bay USS Ronald Reagan và các tàu chiến của hải quân Mỹ trên Biển Đông. Sang tháng 9/2018, tàu ngầm Kuroshio và tàu sân bay trực thăng Kaga của hải quân Nhật đã cùng nhau diễn tập quân sự trên Biển Đông và đây là lần diễn tập đầu tiên của chiếc tàu ngầm này ở Biển Đông, trước khi nó thăm Việt Nam.
- Đối với Nga, tháng 10/2018, Nga điều tàu tuần dương Varyag, tàu khu trục Đô đốc Panteleyev và tàu chở dầu Boris Butoma mở chuyến hành trình sang Ấn Độ Dương, Tây Thái Bình Dương trong 3 tháng và tháng 11/2018, ba tàu trên đã dừng chân diễn tập chung với hải quân Brunei trên Biển Đông.
- Đối với Australia, tháng 2/2018, Bộ trưởng Quốc phòng nước này cho biết, Australia đã tăng cường hiện diện quân sự khá đáng kể trên Biển Đông từ 18 tháng trước. Canada cũng dự kiến sẽ phái từ 1 đến 2 tàu chiến sẵn sàng tham gia chương trình tự do hàng hải trên Biển Đông do Mỹ tiến hành.
Việc hầu hết các cường quốc đều đưa tàu quân sự của hải quân nước mình đến tuần tra, diễn tập trên Biển Đông đã chính thức đánh dấu và thể hiện, Biển Đông đang được “cường quốc hóa” trên thực tế.
Như vậy có thể thấy, bằng việc bày tỏ quan điểm về Biển Đông và hiện diện lực lượng hải quân trên Biển Đông thời gian qua là cách mà các cường quốc thế giới và khu vực đang thể hiện và tình hình trên làm cho Biển Đông đang bị “cường quốc hóa”. Tuy nhiên, cũng phải nhìn nhận rằng đây mới là những hành động riêng lẻ, luân phiên nhau của các cường quốc chứ không phải là hành động cùng một lúc và mang tính tập thể. Vì vậy, xét về tính chất và mức độ tác động, nó ít nhiều chưa đủ áp lực buộc những nước có tham vọng “độc chiếm” Biển Đông như Trung Quốc phải dừng lại. Nhưng chắc chắn rằng, Trung Quốc cũng phải dè chừng và cân nhắc kỹ càng khi tiến hành các hành động trên Biển Đông mà không dám làm bừa như trước đây.
中国在“东海行为准则”磋商中露出独占东海的图谋(第二期)
18:50 |
四是、自现在至2021年,菲律宾是东盟中国关系协调国。中国想推动此事取悦菲律宾,争取有利于中国的“准则”内容。中国利用菲律宾总统杜特尔特在仲裁庭裁定后想改善同中国关系、争取同中国扩大经济合作的心态,通过承诺提供财政支持、协助建设基础设施等千方百计讨好杜特尔特总统。实际上,菲中关系有所升温,菲律宾政府在东海问题上也减轻了公开指控中国。然而,中国不可能那么容易收买菲律宾的,因为菲律宾一直重申国际仲裁庭2016年7月12日作出裁决的效力与价值。
五是、在承受中美贸易战许多压力的情况下,中国对内正面临经济增长放慢、种族问题等许多困难,对外也面临大挑战,比如许多国家认清了中国崛起的危害。为了减轻这些压力,中国想争取东盟国家为自己创造条件主动推动“准则”磋商也不外于这个目标。
六是、中国主动单方提出结束“准则”磋商时间表的另一个目的是离间东盟各国,尤其是离间东海沿海国家与对东海争议没有直接关系的国家。
如果中国朝着尊重国际法,特别是尊重1982年联合国《海洋法公约》的方向主动推动制定“准则”磋商的话,这是值得欢迎的。但是中国要求把域外国家从东海问题排除出去的内容列入 “东海行为准则”草案是国际社会更认清中国的真意图是要并吞东海,把东海变为中国私家的“池塘”。
然而,东盟是拥有主权国家的区域组织一定不会听从中国的命令的。在当前融入国际社会的背景下,肯定没有任何国家会放弃自己正当的合法合作权力。尤其是这个正当合作权力是按照联合国《海洋法公约》的规定,属于自己主权权利及管辖权的海域。域外国家对中国企图擅自并吞东海的行动也不会袖手旁观和置若罔闻的。分析人士认为,中国对“东海行为准则”草案内容中提出乖张、无礼的要求和谋划把域外国家排除出东海之外的行动是北京当局过早 “露马脚”的一幕。
Hot (焦点)
-
胡志明是二十世纪越南革命杰出的马克思主义思想家。他老人家的思想是马克思列宁主义在符合越南的条件和历史背景基础上的运用、发展与创新,体现着时代精神及现代与当代世界的运动与发展趋势。 1 、胡志明思想、道德、风格体系的道德榜样。他老人家的思想合成了越南革命及革命之路的战略策...
-
为维护国家海岛主权,越南历代封建王朝都着重投资建设强大的水军力量。越南丁、李、陈、黎、阮等王朝的水军力量不断得到加强和完善。这支水军为捍卫祖国事业作出了巨大贡献,在各个阶段留下了历史烙印。 至今还收藏的古籍显示,越南历代封建王朝早已对黄沙群岛和长沙群岛确立主权、实施...
-
1954 年《日内瓦协议》签署之后,越南暂时被分成南北两方不同政治制度的政体。据此,越南北纬 17 度以南的领土(包括黄沙、长沙两群岛)由越南共和国政府管辖。根据《协议》规定,法国殖民者被迫撤离越南之后,西贡政权立即派遣海军力量接管黄沙、长沙两群岛并对其行使主权。与此同时,...
-
(VOVWORLD) - 越南伟大领袖胡志明主席的思想、道德、作风、革命生涯是越南全党、全民学习和实践胡志明道德榜样的生动和具有说服力的楷模。至今,越南开展学习和实践胡志明道德榜样运动已有 8 年并取得多项重要结果。 胡志明主席在其革命生涯中牺牲个人利益,为祖国和人...
-
越南的黄沙群岛位于东海(中国称南海)北边,处于北纬 15°45′ 至 17°15′ 、东经 110° 至 113° ,距越南广义省李山岛约 120 海里。黄沙群岛由 37 多个岛、洲、礁和沙滩组成,分为西面和东面两个群岛。东面为安永群岛(中国称宣德群岛),由 12 个岛、洲...
-
数十年来,中国人拿出大量书籍、资料和史料,企图证明从两千年前的汉朝起,中国人就发现了西沙和南沙(即越南的黄沙群岛和长沙群岛),从而说古代中国发现西沙南沙群岛就足够证明中国对西沙和南沙的不可争议的领土主权。据说,中国人最迟于唐宋发现南沙群岛至今,就一直在岛上及其海域从事生产活...
-
越南对黄沙、长沙两座群岛的主权不仅在越南古籍和古文献中有记载,而且还出现在西方航海家和传教士等的书籍、报纸、地图、日记、航路指南等外国资料中。这些资料描述黄沙、长沙“是越南中部海上的一块沙渚…”,这和越南同一历史时期资料和古地图描述的类似。法国 1936 年在印度支那建立的...
-
BDN - 位于东海边国土陆地呈 “S” 字形的越南,无形中拥有沿着国土走向三千公里海岸及依照 1982 年《联合国海洋法公约》从岸边向外延伸的辽阔海域。这意味着从越南 1982 年 11 月确定和公布的垂直基线算起往外延伸 200 海里宽的海域属越南的主权,被称作专属经济...
-
从十六、十七世纪至今,西方国家的轮船日益频繁来往于东海。他们来到这里,不只为了扩大贸易还为了传教和传播西方文化。在来往东海期间,西方航海家和传教士们以当时最现代的技术很详细地描述和绘画黄沙群岛和长沙群岛,以避免这两个群岛的礁石给来往的船舶造成危害。为此,他们很仔细地研究东海...
-
香港媒体最近透露中国在东海划分“新边界线”的海洋研究项目,为“资源研究”创造了条件,北京对这片海域的主权主张“增添了筹码”。这条新边界线是一条与囊括了蕴藏着丰富矿产和能源资源的东海海域九段线相吻合的实线,九段线内的海域就是北京声索主权的那片海域。 从国际法的角度来看实线...









