越老共同打造未来
11:46 |
(VOVWORLD) - 应越南政府总理阮春福的邀请,老挝政府总理通伦率领老挝政府高级代表团从10月1日至3日对越南进行正式访问。这是自2016年上任以来,通伦总理第二次对越南进行正式访问。此访有助于加强越老传统友谊,特殊团结和全面合作关系。同时,继续寻找措施,良好落实两国已签署的合作协议。
越南和老挝有着悠久的传统友好、特殊团结关系。两党、两国人民之间的这一关系得到了胡志明主席、凯山·丰威汉总书记、苏发努冯主席及两国多代领导人和人民的精心培育。
越老两党、两国和两国人民的伟大友谊、特殊团结和全面合作关系不断得到巩固。双方保持各级代表团互访,加强党建工作、政治体制建设,经济社会发展的经验交流。2019年,两国举行了多次高层代表团互访,如2月份,越共中央总书记、国家主席阮富仲对老挝进行正式友好访问;9月份,越南国会主席阮氏金银访问老挝;8月份,老挝人民革命党中央总书记、国家主席本扬·沃拉吉(Bounnhang Vorachith)对越南进行访问;3月份,老挝国会主席巴妮(Pany Yathotou)访问越南等。
两国防务与外交合作关系进入新的发展阶段,这是两国关系的支柱之一。双方积极主动有效落实两国防务合作计划、《越老边境口岸和边界管理制度协定》等。
在国际论坛上,越南和老挝紧密配合并与其他东盟成员国合作建设东盟共同体,维护东盟的团结。双方经常与有关国家和国际组织合作,紧密配合,共同管理和可持续、有效使用湄公河水源,确保地区内各国的利益。
越共中央总书记、国家主席阮富仲(右)于2016年10月会见老挝政府总理通伦(左)
越共中央总书记、国家主席阮富仲说:“在过去的民族独立斗争和现在的建国卫国事业中,越老两国都为彼此而感到自豪,是同志和始终如一、同甘共苦的朋友。两国取得的重要成就有助于创造并维护国际和地区的和平、便利环境,为促进经济社会发展,建国卫国事业做出贡献。”
近年来,越老经贸合作一直是两国关系中的亮点。 去年,双边贸易额达10亿美元,今年前8个月达近7.5亿美元,同比增长14.2%。双方正积极开展新的贸易协定和边境贸易协定,目标是保持每年10%以上的贸易增长率。越南现为老挝第3大投资来源国,注册资金40亿美元,集中于水电、采矿、服务、农业和电信等领域。
越老两国建交半个多世纪以来,在两国领导人的决心下,两国关系日益得到巩固,为今后的发展奠定了坚实的基础。
Việt - Lào cùng xây đắp tương lai
11:35 |
(VOV5) - Nhận lời mời của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân
Phúc, Thủ tướng Lào Thongloun Sisoulith hôm nay dẫn đầu Đoàn đại biểu cấp cao
Chính phủ Lào thăm chính thức Việt Nam, từ ngày 01 - 3/10. Đây là chuyến thăm
chính thức Việt Nam lần thứ hai của Thủ tướng Thongloun Sisoulith kể từ khi nhậm
chức vào năm 2016. Chuyến thăm góp phần củng cố mối quan hệ hữu nghị truyền thống,
đoàn kết đặc biệt, hợp tác toàn diện giữa Việt Nam và Lào; đồng thời trao đổi
tiếp tục tìm giải pháp thúc đẩy những thỏa thuận, hợp tác đã ký kết cũng như
tăng hợp tác đầu tư giữa hai nước.
Việt Nam - Lào có bề dày truyền thống đoàn kết đặc biệt, mối
quan hệ thủy chung giữa hai Đảng và nhân dân hai nước do Chủ tịch Hồ Chí Minh,
Chủ tịch Kaysone Phomvihane, Chủ tịch Souphanouvong và nhiều thế hệ lãnh đạo,
nhân dân hai nước dày công vun đắp đã được giữ gìn và phát huy như một tài sản
vô giá của cả hai dân tộc.
Quan hệ hữu nghị vĩ đại, đoàn kết đặc biệt, sự hợp tác toàn
diện giữa hai Đảng, hai Nhà nước và nhân dân hai nước Việt Nam-Lào không ngừng
được củng bố. Hai bên duy trì thường xuyên các chuyến thăm cấp cao cũng như các
chuyến thăm của các bộ ngành, đoàn thể, địa phương; tăng cường chia sẻ kinh
nghiệm về công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị, phát triển kinh
tế - xã hội. Riêng trong năm 2019, nhiều đoàn cấp cao của lãnh đạo hai nước đã
thăm song phương lẫn nhau như Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng thăm
hữu nghị chính thức Lào (tháng 2/2019), Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân
thăm nội bộ Lào (tháng 9/2019)...Về phía Lào, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Lào
Bounnhang Vorachith sang thăm Việt Nam (tháng 8/2019); Chủ tịch Quốc hội Lào
Pany Yathotou thăm nội bộ Việt Nam (tháng 3/2019)…
Hợp tác quốc phòng, an ninh và đối ngoại tiếp tục có bước
phát triển mới, là một trụ cột trong quan hệ hai nước. Hai bên tích cực, chủ động
thực hiện hiệu quả Nghị định thư hợp tác 5 năm và Kế hoạch hợp tác hàng năm về
quốc phòng, an ninh; thực hiện tốt Hiệp định về Quy chế biên giới, phối hợp triển
khai Thỏa thuận giữa hai Chính phủ về giải quyết vấn đề người di cư tự do và kết
hôn không giá thú trong khu vực biên giới hai nước.
Trên các diễn đàn quốc tế, Việt Nam và Lào cũng phối hợp chặt
chẽ, phối hợp với các thành viên ASEAN khác trong việc xây dựng Cộng đồng ASEAN
và duy trì đoàn kết, đồng thuận của ASEAN trong các vấn đề chiến lược ở khu vực.
Hai bên thường xuyên hợp tác, phối hợp chặt chẽ với các nước, các tổ chức quốc
tế có liên quan để quản lý, sử dụng bền vững và có hiệu quả nguồn nước sông
Mekong, bảo đảm hài hòa lợi ích của các nước trong lưu vực sông Mekong. Đánh
giá về quan hệ Việt - Lào nhân chuyến thăm hữu nghị chính thức CHDCND Lào năm
2016, Tổng bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: “Trong sự nghiệp đấu
tranh giành độc lập tự do cho dân tộc trước đây cũng như trong thời kỳ đổi mới,
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc có nhiều phức tạp ngày nay, hai dân tộc vô cùng tự
hào vì luôn nhận thấy ở nhau là những người đồng chí, người bạn thủy chung son
sắt, đồng cam cộng khổ. Những thành tựu quan trọng mà 2 nước đạt được đã góp phần
tạo lập, giữ vững môi trường khu vực, quốc tế hòa bình, thuận lợi cho công cuộc
đổi mới phát triển kinh tế xã hội, xây dựng, bảo vệ Tổ quốc”.
Hợp tác kinh tế - thương mại giữa Việt Nam và Lào tiếp tục là
điểm sáng trong quan hệ hai nước những năm gần đây. Kim ngạch thương mại hai
chiều năm 2018 đạt hơn 1 tỷ USD, 8 tháng của năm 2019 đạt gần 750 triệu USD
(tăng 14,2% so với cùng kỳ năm 2018). Hai bên đang tích cực triển khai Hiệp định
Thương mại mới và Hiệp định Thương mại biên giới với mục tiêu duy trì tốc độ
tăng trưởng kim ngạch thương mại ít nhất 10%/năm. Đến nay Việt Nam là nhà đầu
tư nước ngoài lớn thứ 3 tại Lào, với tổng vốn đăng ký hơn 4 tỷ USD, tập trung
nhiều vào một số lĩnh vực thủy điện, khai khoáng, dịch vụ, nông nghiệp và viễn
thông. Các dự án hoạt động có hiệu quả thuộc lĩnh vực ngân hàng, khách sạn,
đóng góp cho ngân sách nhà nước Lào và an sinh xã hội, được các bạn Lào đánh
giá cao.
Quan hệ Việt - Lào được thiết lập cách đây hơn nửa thế kỷ.
Ngày nay, với quyết tâm của lãnh đạo 2 nước, mối quan hệ này ngày càng được củng
cố chặt chẽ hơn, tạo nền tảng vững chắc cho những bước phát triển sau này.
回顾越南对黄沙、长沙群岛占有,行使主权历史(第二期)
09:29 |
BDN - 1802年,阮映王打败西山朝,统一江山,登基称帝,年号《嘉隆》(GIA LONG)。虽然忙于政务,但阮朝仍然继续派遣黄沙队和北海队保卫和开发黄沙、长沙群岛,对这两群岛行使国家主权。
1803年7月,嘉隆帝重组黄沙队,“封领队吴文富(NGO VAN PHU)为沙琦海口御首,招募外籍民众编制黄沙队”(大南实录正编,第12卷,第一纪)。
1815年1月,嘉隆皇帝下旨,“派遣黄沙队的范光影(PHAM QUANG ANH)等前往黄沙勘测航道”(大南实录正编,第50卷,第一纪,6a页)。
明命年代,航道勘测的任务交付水军执行。1833年、1834年及1836年,明命帝下旨工部派人前往黄沙竖立主权碑,勘测航道,描绘地图。每只船携带十支木牌做主权碑。木牌长4.5尺,宽5寸。
这样,从阮王、西山朝到阮朝的整个期间,兼管北海队的黄沙队一直对黄沙、长沙群岛行使国家主权。这些活动在阮朝记述国家事件的朱版文献里以及在国家档案馆收藏当年地方政府发出的令、咨、文凭等文件中都有记载。
在这250多年间,有一个十分重要、不得不提及、证明越南国家已经真正有效管辖这两个群岛的证据,那就是当时国家行政系统中的黄沙行政单位。阮王时期,黄沙属广南或广义承宣府, 时而为府时而为镇;“广义黄沙滩”(天南四至路图书,全集),“黄沙位于广义府广南官邸,坪山县安永乡”(《抚边杂录》,黎贵敦著)。西山朝时期,《广义府》改称《和义府》。阮朝时期,黄沙属广义省。
十九世纪末,殖民主义盛行各大洲。列强侵略殖民地开发资源为宗主国的发展服务。越南成为法国殖民地。据1884年福禄诺协议,法国殖民主义者作为越南国家的外交代表继续对黄沙和长沙群岛行使主权,实施管辖和开发权。其具有法理价值的主要活动列举如下:
在组织实地研究和考察黄沙和长沙群岛及法国政客讨论一段时间后,1925年3月8日,印度支那总督宣布黄沙和长沙群岛是法国殖民地的一部分领土。1926年3月19日,南圻统督向北圻一家经营磷酸盐公司颁发在长沙群岛研究磷矿的许可证。
1930年4月13日,德拉特(De Lattre)船长奉印度支那总督的命令指挥马里修(Malicieuse)号船前往长沙立主权碑,驻军长沙岛及附近礁滩。同年9月23日,法国政府向各大国致公函通报法国依法向长沙岛派遣驻军事项。
1930年12月31日,印度支那总督府向法国总理和殖民地部部长递交报告,阐述驻军长沙岛和附近礁滩以及有关驻军的法理依据。
1931年1月11日,南圻统使向印度支那总督报告将长沙岛并入巴地省事宜。
1932年1月4日,法国政府向中国驻法公使致函,重申法国对黄沙的主权,建议通过和平友好谈判或国际仲裁解决争端。中方拒绝这一建议,理由是嘉隆皇帝占据该岛时越南是中国的诸侯国。
1933年12月21日,南圻统督克劳特(J.Krautheimer)签署将长沙岛并入巴地省的4762 - CP号决议。
1937年2月18日,法国再次建议中国政府通过国际仲裁确定黄沙群岛主权,中方又加以拒绝。
1937年11月26日,法国派技师长戈捷(J.Gauthier)前往黄沙研究建造灯塔、修建水飞机停机场、定居该岛的条件等事宜。
1938年,法国派遣保安单位进驻黄沙群岛,同时在富林(中方称《永兴》)岛建造一座灯塔、一个气象站并在世界气象组织备案,登记号48859。另外,还在黄沙建立TSF无线电站。
1938年6月15日,法国在长沙群岛的巴平(BA BINH)岛建立一座气象站。
1938年3月30日,保大皇帝签署第10号手谕,将黄沙从以前的南义省并入承天省。
1938年6月15日,印度支那总督朱尔-布勒维(Jules Brevie)签署成立承天省黄沙行政单位的第156-S-V决定。
1938年6月,越南保安兵一个单位被派驻黄沙群岛。黄沙岛竖立了主权碑,上面写着:Republique Francaise - Rayaume
d'Annam - Achipel de Paracel 1816- Ide de Pattle 1938.
二战爆发,日本宣布将东海群岛并入日本侵占的领土内。1939年4月4日法国政府发函抗议日本的这一决定,并保留法国对黄沙和长沙群岛的权利。
1939年5月5日,印度支那总督朱尔-布勒维(J.Brevie)签署3282号决定,将黄沙行政区划分成克鲁瓦桑(Croissant)及附近岛屿和安菲特里(Amphitrite)及附近岛屿。
1943年11月26日,关于结束与日本的战争和解决战后问题的开罗宣言(Cairo Declaration)谈到日本自第一次世界大战侵占的他国领土问题。
1945年7月26日,波茨坦公告(Potsdam Declaration)重申开罗宣言的各项条款将予以实施。
Nhìn lại lịch sử Việt Nam chiếm hữu, làm chủ hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa (phần 2)
09:21 |
Năm 1802, Nguyễn Ánh đánh bại nhà Tây Sơn, thống nhất đất nước,
lên ngôi vua lấy hiệu Gia Long. Tuy bận việc nội trị, nhưng nhà nước phong kiến
này vẫn tiếp tục chiếm hữu và làm chủ quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thông qua
việc tiếp tục sử dụng đội Hoàng Sa, đội Bắc Hải làm nhiệm vụ khai thác và bảo vệ
quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Tháng 7/1803, vua Gia Long cho lập lại đội Hoàng Sa: “Lấy cai
cơ Võ Văn Phú làm thủ ngự cửa biển Sa Kỳ, sai mộ dân ngoại tịch lập làm đội
Hoàng Sa” (theo Đại Nam thực lục chính biên, đệ nhất kỷ, quyển 12).
Tháng Giêng năm Ất Hợi (1815), vua Gia Long quyết định: “Sai
bọn Phạm Quang Ảnh thuộc đội Hoàng Sa ra Hoàng Sa xem xét đo đạc thủy trình…”
(Đại Nam thực lục chính biên, đệ nhất kỷ, quyển 50, tờ 6a).
Sang đời Minh Mạng, việc đo đạc thủy trình chủ yếu giao cho
thủy quân thực hiện...Năm 1833, 1834, 1836, vua Minh Mạng chỉ thị cho Bộ Công
phái người ra Hoàng Sa để dựng bia chủ quyền, đo đạc thủy trình, vẽ bản đồ... mỗi
thuyền vãng thám Hoàng Sa phải đem theo 10 tấm bài gỗ dài 4,5 thước, rộng 5 tấc
để dựng mốc chủ quyền, “Vua Minh Mạng đã chuẩn y lời tâu của Bộ Công sai suất đội
thủy quân Phạm Hữu Nhật đưa binh thuyền đi, đem theo 10 cái bài gỗ dựng làm dấu
mốc...”.
Như vậy, suốt từ thời chúa Nguyễn đến thời Tây Sơn rồi triều
đình nhà Nguyễn, đội Hoàng Sa, kiêm quản đội Bắc Hải, đã đi làm nhiệm vụ quản
lý nhà nước đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Những hoạt động này đã được
các văn bản nhà nước ghi nhận tại châu bản của triều đình nhà Nguyễn, các văn bản
của chính quyền địa phương như tờ lệnh, tờ tư, bằng cấp... hiện đang được lưu
trữ tại các cơ quan lưu trữ nhà nước.
Trong giai đoạn hơn 250 năm lịch sử này, có một chứng cứ hết
sức quan trọng không thể không đề cập đến để chứng minh nhà nước phong kiến Việt
Nam đã quản lý thật sự, hiệu quả đối với hai quần đảo này. Đó là việc tổ chức
đơn vị hành chính Hoàng Sa trong hệ thống tổ chức hành chính của nhà nước lúc bấy
giờ. Thời chúa Nguyễn, Hoàng Sa thuộc Thừa tuyên Quảng Nam hay Quảng Nghĩa
(Ngãi), lúc là phủ khi thì là trấn: “Bãi Cát vàng trong phủ Quảng Nghĩa”(Toản tập
Thiên nam tứ chí lộ đồ thư); “Hoàng Sa ở phủ Quảng Nghĩa (thuộc dinh Quảng Nam,
huyện Bình Sơn, xã An Vĩnh" (Phủ biên tạp lụccủa Lê Quí Đôn); sang thời
Tây Sơn, phủ Quảng Nghĩa đổi thành phủ Hòa Nghĩa. Thời triều đình nhà Nguyễn,
Hoàng Sa thuộc tỉnh Quảng Ngãi.
Đến cuối thế kỷ XIX, chủ nghĩa thực dân tung hoành trên khắp
các châu lục, xâm chiếm thuộc địa, tiến hành khai thác tài nguyên phục vụ cho sự
phát triển của chính quốc. Việt Nam trở thành thuộc địa của thực dân Pháp. Theo
Hiệp ước Pa-tơ-nốt (1884), với tư cách là đại diện của nhà nước Việt Nam về đối
ngoại, chính quyền thuộc địa Pháp đã tiếp tục quản lý, bảo vệvà thực thi chủ
quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Dưới đây là những
hoạt động chủ yếu, có giá trị pháp lý:
Sau một thời gian tổ chức các cuộc nghiên cứu, khảo sát tại
thực địa của các nhà khoa học và những cuộc trao đổi giữa những chính khách
Pháp có liên quan đến quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, ngày 08/03/1925, Toàn quyền
Đông Dương đã tuyên bố khẳng định quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là bộ phận
lãnh thổ thuộc địa của Pháp. Ngày 19/03/1926, Thống đốc Nam Kỳ cấp giấy phép
nghiên cứu mỏ ở đảo Trường Sa cho Công ty phosphat Bắc kỳ.
Ngày 13/04/1930, Thông báo hạm Malicieuse do thuyền trưởng De
Lattre điều khiển ra quần đảo Trường Sa theo chỉ thị của Toàn quyền Đông Dương
dựng bia chủ quyền, đóng giữ đảo Trường Sa và các đảo, đá, bãi phụ thuộc. Ngày
23/09/1930, chính phủ Pháp gửi thông báo ngoại giao cho các cường quốc về sự kiện
đóng giữ quần đảo Trường Sa theo đúng thủ tục.
Ngày 31/12/1930, Phòng đối ngoại Phủ toàn quyền Đông Dương gửi
báo cáo lên Thủ tướng, Bộ trưởng Bộ thuộc địa Pháp về những hoạt động đóng giữ
đảo Trường Sa và các đảo phụ cận, cũng như các tư liệu khảo cứu về pháp lý bảo
vệ cho sự kiện đóng giữ này.
Ngày 11/01/1931, Thống sứ Nam Kỳ thông báo cho Toàn quyền
Đông Dương về việc sáp nhập quần đảo Trường Sa vào tỉnh Bà Rịa.
Ngày 04/01/1932, chính phủ Pháp gửi Công hàm tới Công sứ
Trung Quốc tại Paris khẳng định chủ quyền của Pháp đối với Hoàng Sa và đề nghị
giải quyết tranh chấp thông qua đàm phán hữu nghị hoặc bằng phương thức trọng
tài quốc tế. Trung Quốc từ chối đề nghị này với lập luận rằng khi vua Gia Long
chiếm hữu quần đảo này, Việt Nam là chư hầu của Trung Quốc.
Ngày 21/12/1933, Thống đốc Nam Kỳ J.Krautheimer ký Nghị định
số 4762-CP sáp nhập quần đảo Trường Sa vào tỉnh Bà Rịa.
Ngày 18/02/1937, Pháp lại chính thức yêu cầu Trung Quốc áp dụng
phương thức trọng tài quốc tế để xác định chủ quyền quần đảo Hoàng Sa, Trung Quốc
lại khước từ.
Ngày 26/11/1937, Pháp phái kỹ sư trưởng J.Gauthier ra Hoàng
Sa để nghiên cứu tìm địa điểm xây dựng đèn biển, bãi đỗ cho thủy phi cơ, nghiên
cứu các điều kiện định cư ở quần đảo này.
Năm 1938, Pháp phái các đơn vị bảo an đến đồn trú trên các đảo
và xây dựng một hải đăng, một trạm khí tượng được Tổ chức Khí tượng thế giới
cho đăng ký với số hiệu là 48859 ở đảo Phú Lâm, một trạm vô tuyến điện TSF trên
đảo Hoàng Sa.
Ngày 15/06/1938, Pháp xây xong trạm khí tượng ở đảo Ba Bình,
quần đảo Trường Sa.
Ngày 30/03/1938, vua Bảo Đại ký đạo Dụ số 10 sáp nhập Hoàng
Sa vào tỉnh Thừa Thiên thay vì Nam Ngãi trước đây.
Ngày 15/06/1938, Toàn quyền Đông Dương Jules Brevie ký Nghị định
156-S-V thành lập đơn vị hành chính quần đảo Hoàng Sa thuộc tỉnh Thừa Thiên.
Tháng 6/1938, một đơn vị lính bảo an Việt Nam được phái ra đồn
trú tại quần đảo Hoàng Sa. Một bia chủ quyền đã được dựng tại đảo Hoàng Sa có
khắc dòng chữ: Republique Francaise - Rayaume d'Annam - Achipel de Paracel
1816- Ide de Pattle 1938.
Chiến tranh thế giới lần thứ 2 xảy ra, Nhật Bản tuyên bố sáp
nhập các quần đảo ở Biển Đông vào các vùng lãnh thổ mà Nhật đã chiếm đóng. Ngày
04/04/1939, chính phủ Pháp gửi Công hàm phản đối các quyết định nói trên của Nhật
Bản và bảo lưu quyền của Pháp tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Ngày 05/05/1939, Toàn quyền Đông Dương J.Brevie ký Nghị định
số 3282 tách đơn vị hành chính Hoàng Sa thành hai đơn vị: Croissant và các đảo
phụ thuộc; Amphitrite và các đảo phụ thuộc.
Ngày 26/11/1943, Tuyên bố Cairo về việc kết thúc chiến tranh
với Nhật Bản và giải quyết các vấn đề sau chiến tranh, trong đó có vấn đề lãnh
thổ nước khác bị Nhật Bản chiếm đóng từ khi bắt đầu cuộc Chiến tranh thế giới lần
thứ nhất (1914).
Ngày 26/07/1945, Tuyên bố Posdam khẳng định các điều khoản của
Tuyên bố Cairo sẽ được thực hiện.
回顾越南对黄沙、长沙群岛占有,行使主权历史(第一期)
06:27 |
BDN - 从1945年9月至2019年9月,新越南74年的历史沿革历经充满坎坷与挑战,今日成为拥有9500万人口的国家,国内总产值2400亿美元,准备于2020年第二次担任联合国非常任理事国的职务。这也是依照国际规则和国际惯例对黄沙群岛和长沙群岛连续行使国家领土取得权的历史历程。一个国家对一个领土享有领土取得权应该基于对该领土连续的占有及行使主权。历史和越南的历史依据证明越南历代封建王朝、特别是十六世纪至今,尽管历史背景发生众多变化,但仍然是唯一占有和连续对黄沙群岛和长沙群岛行使主权的国家。
十六世纪前,在世界各国没有完全意识到海岛的地位及作用,也没有想到划分或激烈争夺海岛主权,更没有想到在海岛标示主权印记之际,越南民众传宗接代早就曾经围海造田,向东扩展领土,以出海捕鱼、在岛屿种植果树为生计。所以才有这样的传说:梅安纖出远海登上岛屿种植西瓜,每当涨潮时将西瓜放入海里让西瓜带着对故乡的思念漂到岸边。那时如有世界地图,越南人早就将黄沙群岛和长沙群岛划入自己的管辖范围了。
自十六世纪末至十九世纪末,越南历代封建王朝(以大越国名称)就已履行自己的神圣使命:占有黄沙群岛和长沙群岛并连续对其行使主权。具有法理价值的历史凭据可证明这一点。
大越国郑阮纷争时期(1627- 1775),阮王占据南部,以筝河为界向东部和西部拓疆,并成立黄沙队管辖和开发黄沙和长沙群岛。后来,成立了北海队,归属黄沙队指挥,听命于七代阮王,即阮福源、阮福澜、阮福晋、阮福洲等七代阮王,直至西山起义兴起。由国家组织的黄沙队经常、连续开发黄沙和长沙群岛,这表明早在那个年代越南就占有黄沙和长沙群岛并对其行使主权。
大越国时期的西山朝,在1776-1801年间,无论是在大陆还是在东海战火连绵。但是,阮王、郑王与西山朝仍然对自己的领地行使主权。1773年,西山朝夺取归仁(QUY NHON)后向广南进发,控制了广义坪山的黄沙队基地沙琦和惹岛出海口。1775年,广义省坪山县惹岛原住居民向西山朝依照惯例准许黄沙队和桂香队重新出海一事提出申请。
1778年,阮乐称帝,完整地巩固政权。1786年下旨派遣黄沙队领队会德厚率领四条钓渔船前往黄沙执行依旧任务。另外,还有桂香、大冐、海波等海队也奉旨出东海执行同样的任务。
Nhìn lại lịch sử Việt Nam chiếm hữu, làm chủ hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa (phần 1)
06:18 |
Từ tháng 9/1945 đến tháng 9/2019, chặng đường lịch sử 74 năm
của nước Việt Nam mới trải qua biết bao chông gai, thử thách để hôm nay đang là
một quốc gia với dân số gần 95 triệu người, tổng thu nhập quốc dân (GDP) trên
240 tỉ USD và đang chuẩn bị lần thứ hai đảm nhận cương vị Ủy viên không thường
trực của Liên Hợp Quốc vào năm 2020. Đó cũng là chặng đường tiếp nối lịch sử thực
hiện quyền thụ đắc lãnh thổ quốc gia liên tục đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường
Sa theo đúng quy định của nguyên tắc pháp lý và thực tiễn quốc tế, đó là: Một
nhà nước có quyền thụ đắc lãnh thổ đối với một vùng đất phải trên cơ sở chiếm hữu
và liên tục thực thi chủ quyền đối với vùng đất đó. Lịch sử và chứng cứ lịch sử
của Việt Nam đã cho thấy từ thời các nhà nước phong kiến, nhất là từ thế kỷ XVI
cho đến ngày nay, dù bối cảnh lịch sử có nhiều biến đổi, nhưng Việt Nam vẫn là
quốc gia duy nhất chiếm hữu và liên tục thực thi chủ quyền đối với quần đảo
Hoàng Sa và Trường Sa.
Trước thế kỷ XVI, khi mà các quốc gia trên thế giới chưa thấy
hết vai trò của biển, đảo và cũng chưa nghĩ đến việc phân chia hoặc tranh chấp
quyền làm chủ biển khơi quyết liệt, lại càng chưa nghĩ đến việc đánh dấu chủ
quyền trên biển thì các thế hệ người Việt đã thay nhau quai đê lấn biển, mở
mang bờ cõi về phía đông và sớm lấy nghề chài lưới trên các vùng biển, lấy nghề
trồng hoa quả trên các đảo đất làm kế sinh nhai. Thế mới có truyền thuyết Mai
An Tiêm ra tận đảo xa trồng dưa hấu rồi đến mỗi kỳ con nước thủy triều lại thả
dưa xuống biển cho trôi về bờ, mang theo nỗi niềm nhớ quê. Giá như thời đó đã
có bản đồ thế giới, khu vực hoành tráng thì quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa cũng sớm
được người Việt quy thuộc vào quyền quản lý của mình rồi.
Nhưng từ cuối thế kỷ XVI đến cuối thế kỷ XIX, các triều đại
phong kiến Việt Nam khác nhau (với tư cách là Nhà nước Đại Việt), đều đã thực
hiện sứ mệnh thiêng liêng của mình, tiến hành chiếm hữu và thực thi liên tục chủ
quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Điều này được chứng cứ lịch sử
có giá trị pháp lý chứng minh rõ ràng.
Nhà nước Đại Việt giai đoạn Trịnh - Nguyễn phân tranh (1627 -
1775), chúa Nguyễn làm chủ Đàng Trong, lấy sông Gianh làm giới tuyến, mở mang bờ
cõi về phía đông và miền Tây; lập đội Hoàng Sa để đi quản lý, bảo vệ, khai thác
hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Sau đó, lập thêm đội Bắc Hải do đội Hoàng
Sa kiêm quản, hoạt động theo lệnh của 7 đời chúa Nguyễn, từ chúa Nguyễn Phúc
Nguyên, Nguyễn Phúc Lan, Nguyễn Phúc Tấn tới Nguyễn Phúc Chu… cho đến khi phong
trào Tây Sơn nổi dậy. Việc đội Hoàng Sa, một tổ chức do nhà nước lập ra và duy
trì hoạt động thường xuyên, liên tục đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cho
thấy ngay từ khi đó, Việt Nam đã chiếm hữu và thực thi chủ quyền đối với hai quần
đảo trên.
Nhà nước Đại Việt thời Tây Sơn,trong thời gian từ năm 1776-
1801, hầu như lúc nào cũng xảy ra chiến tranh, trên đất liền cũng như ngoài Biển
Đông. Tuy nhiên, các lực lượng của chúa Nguyễn, chúa Trịnh, nhà Tây Sơn vẫn liên
tục làm chủ từng khu vực lãnh thổ thuộc phạm vi cát cứ, quản lý của mình.
Năm 1773, nhà Tây Sơn chiếm được Quy Nhơn, tiến về phía Quảng
Nam, kiểm soát đến Bình Sơn, Quảng Ngãi, nơi có cửa biển Sa Kỳ và Cù Lao Ré,
căn cứ xuất phát của đội Hoàng Sa. Năm 1775, thổ dân ở Cù Lao Ré thuộc xã An
Vĩnh, huyện Bình Sơn, Quảng Ngãi đã nộp đơn xin nhà Tây Sơn cho phép đội Hoàng
Sa và đội Quế Hương hoạt động trở lại theo thông lệ.
Năm 1778, Nguyễn Nhạc xưng Hoàng đế, củng cố chính quyền một
cách hoàn chỉnh và năm 1786, đã ra quyết định sai phái Hội Đức hầu, cai đội
Hoàng Sa, chỉ huy 4 chiếc thuyền câu vượt biển ra Hoàng Sa làm nhiệm vụ như cũ.
Ngoài ra, còn có các đội Quế Hương, Đại Mạo, Hải Ba cũng được giao nhiệm vụ hoạt
động trên Biển Đông.
东盟与中国在制定COC磋商中必须警惕的“陷阱”(第三期)
18:58 |
第三,中国可能利用东海航海合作牟利。航海合作本来可以加强争端各方之间的信赖与互信,可是这项合作可能对东南亚主权声索国利益造成两种“威胁”。
一是,航海合作,尤其是中国单独与每个东盟主权声索国之间的双边合作无形中承认了中国以“九断线”声索的领土主权与管辖权,侵犯了这些国家专属经济区和大陆架的主权权利和管辖权。这正是菲律宾与中国现行油气合作带来的忧虑。在2018年与中国签署的备忘录中,菲律宾通过不伤害条款和“此项合作只限于符合现行国际法规则的航海领域”条款来保护自己。但是,在西菲律宾海域展开的这项油气合作却是在“争议海域”进行的,这与常设仲裁庭作出的“那是菲律宾的专属经济区和大陆架”的裁定对照不是大倒退吗。
二是,东盟与中国在东海合作进行非敏感的海洋考察、科研、搜救事项时,中国船只可合法地前往东海争执岛屿和水域。航海合作需要海洋实力,包括船只及相应的科技与工艺能力。中国在这方面占有绝对优势,他拥有大型舰队和监控整个东海的巨轮,这还没有把他在非法占据的长沙群岛七个岛礁扩建成人工岛带来的对其有利的功能计算在内。
1988年以来,在使用武力非法占据长沙群岛七个自然构造后,中国在东海的存在和能力巨增,为加强中国舰船在东海频繁活动和把其两用资产拿到东海的行径辩护的 “供应百货”说辞依然在流行。比如,2018年7月,中国派遣排水量3510吨的Nahajiu115号救护船前往渚碧礁停泊。值得注意的是,该救护船的主管单位-中国交通部属下的南海救护局的职能除了搜救外,还要执行“政府指导的特殊政治、军事和灾难救助任务”。因此,声索东海主权的东南亚国家在与中国进行地区航海谈判与合作时务必慎重,不要上当,让中国两用器械合法进入争执海域或本国专属经济区和大陆架。
目前双方正就制定准则进行磋商,但仍还未达成协议,磋商前景对声索东海主权的东盟国家既乐观又充满“陷阱”。之所以说“陷阱”是因为与东盟磋商的对象是世界上屈指可数的“阴招”特多之流。因此,在整个磋商过程中进行评判是十分必要的。印尼前外长马蒂-纳塔莱加瓦最近警告说“东海危机真实存在,而且超出准则的进展,所以准则可能不再需要了”。他的警告务必要重视,声索东海主权的东盟国家在与中国磋商准则时务必提高警惕,不让准则顺着北京划出的轨迹走。实质性的、有效力的、保障所有有关方权利的、符合包括1982年《联合国海洋法公约》在内的国际法的准则,才是东盟国家所期盼的。
ASEAN cần cảnh giác “cạm bẫy” của Trung Quốc trong quá trình đàm phán COC (phần 3)
17:56 |
Thứ ba, Trung Quốc có thể lợi dụng chính sự hợp tác hàng hải trên thực tiễn ở Biển Đông để trục lợi. Đúng ra, hợp tác hàng hải trên thực tiễn có thể góp phần thúc đẩy lòng tin và sự tin cậy lẫn nhau giữa các bên tranh chấp, tuy nhiên, tiến trình này có thể nảy sinh hai “mối nguy” không phục vụ cho lợi ích của các nước Đông Nam Á có tuyên bố chủ quyền.
Một là, hợp tác hàng hải trên thực tiễn, nhất là trong bối cảnh song phương giữa Trung Quốc và từng nước ASEAN có tuyên bố chủ quyền, có thể vô tình công nhận các tuyên bố về lãnh thổ và quyền tài phán dựa trên “đường chín đoạn” của Trung Quốc, xâm phạm chủ quyền của các nước nói trên đối với EEZ và thềm lục địa của họ. Đây chính là mối quan ngại có liên quan tới quan hệ hợp tác hiện tại giữa Philippines và Trung Quốc trong phát triển dầu khí. Trong biên bản ghi nhớ (MOU) được ký kết với Trung Quốc năm 2018, Philippines đã đưa ra các biện pháp bảo vệ thông qua điều khoản không gây phương hại cũng như thông qua quy định rằng, quan hệ hợp tác này sẽ chỉ được thực hiện ở các “lĩnh vực hàng hải phù hợp với các quy tắc hiện hành của luật pháp quốc tế”. Thế nhưng, việc dàn xếp thăm dò và phát triển chung vùng biển Tây Philippines - nơi vẫn “bị tranh chấp” chứ không phải đã được giải quyết, là một bước lùi so với phán quyết của tòa trọng tài xác minh là vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Philippines.
Hai là, sự hợp tác giữa ASEAN và Trung Quốc ở Biển Đông, ngay cả trong các lĩnh vực được cho là ít nhạy cảm hơn như nghiên cứu khoa học biển, tìm kiếm cứu nạn hay khảo sát đại dương, có thể hợp pháp hóa việc triển khai các khả năng và phương tiện của Trung Quốc tới các cấu trúc địa hình và các vùng biển bị tranh chấp ở Biển Đông. Đó là do việc hợp tác hàng hải đòi hỏi phải triển khai các nguồn lực trên biển, trong đó có tàu bè và các nền tảng khác với năng lực công nghệ thích hợp. Trung Quốc nắm giữ lợi thế tuyệt đối về mặt này với hạm đội lớn gồm các tàu biển có khả năng giám sát và tuần tra toàn bộ Biển Đông, cộng với những tiện ích có sẵn trên 7 cấu trúc địa hình được nước này cải tạo phi pháp ở quần đảo Trường Sa.
Từ năm 1988 đến nay, sau khi dùng vũ lực chiếm đống trái phép 7 thực thể tại quần đảo Trường Sa, khả năng và sự hiện diện của Trung Quốc ở Biển Đông đã gia tăng mạnh mẽ, câu chuyện “cung cấp hàng hóa công cộng” nhằm biện minh cho việc củng cố các phương tiện của Trung Quốc và việc nước này triển khai các tài sản lưỡng dụng của mình tới Biển Đông vẫn được tiếp tục. Chẳng hạn, tháng 7/2018, Trung Quốc cử tàu cứu hộ Nahajiu 115 tải trọng 3.510 tấn tới neo đậu ở đá Su Bi. Đáng chú ý là, quyền tài phán của cơ quan chủ quản tàu Nahajiu 115 - Cục cứu hộ Nam Hải thuộc Bộ Giao thông vận tải Trung Quốc - không chỉ bao gồm các nhiệm vụ tìm kiếm cứu nạn, mà còn cả “các nhiệm vụ chính trị và quân sự đặc biệt, cũng như hoạt động cứu trợ thảm họa được Chính phủ chỉ đạo”. Do đó, các nước Đông Nam Á có tuyên bố chủ quyền ở Biển Đông cần thận trọng trong việc đàm phán hợp tác hàng hải trong khu vực để không hợp pháp hóa hoạt động triển khai các phương tiện lưỡng dụng của Trung Quốc tới các vùng biển bị tranh chấp ở Biển Đông cũng như EEZ của các nước.
Hiện nay, COC vẫn đang đàm phán và chưa ký kết. Tuy nhiên, tiến trình COC có cả những hứa hẹn lẫn “cạm bẫy” đối với lợi ích của các nước ASEAN có tuyên bố chủ quyền ở Biển Đông. “Cạm bẫy” là bởi đối thủ mà ASEAN đang phải đương đầu đàm phán thuộc loại “lắm mưu, nhiều kế” bậc nhất thế giới này. Do đó, việc đánh giá xuyên suốt các cuộc đàm phán là rất cần thiết. Cựu Bộ trưởng Ngoại giao Indonesia Marty Natalegawa gần đây đã cảnh báo rằng, “thực sự đang tồn tại nguy cơ trên Biển Đông, vượt xa những tiến bộ của COC, do đó có thể khiến cho COC không còn thích đáng nữa”. Đây là cảnh báo rất đáng quan tâm, vì thế các nước ASEAN có tuyên bố chủ quyền ở Biển Đông hơn lúc nào hết, phải rất cảnh giác với các “cạm bẫy” trong quá trình đàm phán tiếp theo với Trung Quốc về COC, không để COC trong tương lai phát triển theo các điều kiện của Bắc Kinh. Một COC hiệu quả, thực chất, đảm bảo quyền và lợi ích của tất cả các bên có liên quan, phù hợp với luật pháp quốc tế, trong đó có UNCLOS 1982 là mục tiêu ASEAN cần hướng tới.
Hot (焦点)
-
胡志明是二十世纪越南革命杰出的马克思主义思想家。他老人家的思想是马克思列宁主义在符合越南的条件和历史背景基础上的运用、发展与创新,体现着时代精神及现代与当代世界的运动与发展趋势。 1 、胡志明思想、道德、风格体系的道德榜样。他老人家的思想合成了越南革命及革命之路的战略策...
-
为维护国家海岛主权,越南历代封建王朝都着重投资建设强大的水军力量。越南丁、李、陈、黎、阮等王朝的水军力量不断得到加强和完善。这支水军为捍卫祖国事业作出了巨大贡献,在各个阶段留下了历史烙印。 至今还收藏的古籍显示,越南历代封建王朝早已对黄沙群岛和长沙群岛确立主权、实施...
-
1954 年《日内瓦协议》签署之后,越南暂时被分成南北两方不同政治制度的政体。据此,越南北纬 17 度以南的领土(包括黄沙、长沙两群岛)由越南共和国政府管辖。根据《协议》规定,法国殖民者被迫撤离越南之后,西贡政权立即派遣海军力量接管黄沙、长沙两群岛并对其行使主权。与此同时,...
-
(VOVWORLD) - 越南伟大领袖胡志明主席的思想、道德、作风、革命生涯是越南全党、全民学习和实践胡志明道德榜样的生动和具有说服力的楷模。至今,越南开展学习和实践胡志明道德榜样运动已有 8 年并取得多项重要结果。 胡志明主席在其革命生涯中牺牲个人利益,为祖国和人...
-
越南的黄沙群岛位于东海(中国称南海)北边,处于北纬 15°45′ 至 17°15′ 、东经 110° 至 113° ,距越南广义省李山岛约 120 海里。黄沙群岛由 37 多个岛、洲、礁和沙滩组成,分为西面和东面两个群岛。东面为安永群岛(中国称宣德群岛),由 12 个岛、洲...
-
数十年来,中国人拿出大量书籍、资料和史料,企图证明从两千年前的汉朝起,中国人就发现了西沙和南沙(即越南的黄沙群岛和长沙群岛),从而说古代中国发现西沙南沙群岛就足够证明中国对西沙和南沙的不可争议的领土主权。据说,中国人最迟于唐宋发现南沙群岛至今,就一直在岛上及其海域从事生产活...
-
越南对黄沙、长沙两座群岛的主权不仅在越南古籍和古文献中有记载,而且还出现在西方航海家和传教士等的书籍、报纸、地图、日记、航路指南等外国资料中。这些资料描述黄沙、长沙“是越南中部海上的一块沙渚…”,这和越南同一历史时期资料和古地图描述的类似。法国 1936 年在印度支那建立的...
-
BDN - 位于东海边国土陆地呈 “S” 字形的越南,无形中拥有沿着国土走向三千公里海岸及依照 1982 年《联合国海洋法公约》从岸边向外延伸的辽阔海域。这意味着从越南 1982 年 11 月确定和公布的垂直基线算起往外延伸 200 海里宽的海域属越南的主权,被称作专属经济...
-
从十六、十七世纪至今,西方国家的轮船日益频繁来往于东海。他们来到这里,不只为了扩大贸易还为了传教和传播西方文化。在来往东海期间,西方航海家和传教士们以当时最现代的技术很详细地描述和绘画黄沙群岛和长沙群岛,以避免这两个群岛的礁石给来往的船舶造成危害。为此,他们很仔细地研究东海...
-
香港媒体最近透露中国在东海划分“新边界线”的海洋研究项目,为“资源研究”创造了条件,北京对这片海域的主权主张“增添了筹码”。这条新边界线是一条与囊括了蕴藏着丰富矿产和能源资源的东海海域九段线相吻合的实线,九段线内的海域就是北京声索主权的那片海域。 从国际法的角度来看实线...









