越南国际法学会会长驳回中国国际法学会有关东海问题的指责

09:00 |
越通社河内——越南国际法学会会长阮伯山刚就侵犯中国海洋地质8勘探船编队在完全属于越南专属经济区和大陆架的海域的行为向中国国际法学会会长黄进致回复函。
此前,824日,阮伯山已就东海局势发表了一封公开信。919日,中国国际法律学会会长黄进已在该会官方网站上发表了关于对越南国际法学会公开信的回复。
1030日,阮伯山在越南国际法学会的网站上发表了致给黄进的回复函中强调,中国国际法学会的指责是完全误会。对长沙群岛的主权不是824日发表的公开信的主要主题。他表示,对该群岛的主权问题与中国正进行严重侵犯越南主权权利和管辖权的行为的海域没有任何法律或地理的关系。
  阮伯山指出,越南政府已多次肯定越南对黄沙和长沙两个群岛的主权。越南政府是根据在1975年、1979年、1981年和1982年出版的越南对黄沙和长沙两个群岛的主权的白皮书中各坚实的历史和法律证据做出肯定的。许多国际法律家和国际历史学家已分析和承认越南对黄沙和长沙两个群岛不可争辩的主权。
 阮伯山强调,自17世纪,越南阮朝皇帝已通过派遣黄沙-北海队赴黄沙和长沙两个群岛进行开发来行驶越南主权。阮朝各位皇帝还派遣海军队在这两个群岛上绘制地图和树立主权界碑。
 在殖民主义统治时期,法国已代表越南对黄沙和长沙两个群岛进行管理。其后,越南共和国按照1954年日内瓦协定继续从法国接管这两个群岛。1975年春季接管长沙群岛和国家实现和平统一后越南在黄沙群岛开展各项正常活动完全符合于国际法,包括中华人民共和国在内的没有任何国家反对,为何说非法
 相反,在1974年和1988年,中国已采取国际法中禁止的行为,使用武力侵占了黄沙和长沙两个群岛范围内的部分岛屿、岛礁和浅滩。中国侵占,其后逐步建设各座人工岛,军事化长沙群岛地区部分岛礁和浅滩的行为才是引起紧张局势,对东海和地区和平和稳定构成威胁的原因之一。难道北世界各国和越南谴责的那些行为却是合法行为,并为中国对两个群岛提出主权声索打下基础。
 阮伯山对黄进在回复函第二部分中所提出关于强调国家在解决各国际争端中的国家同意原则陆地统治海洋原则来确定国家的海上权利这一内容表示赞同,但不接受他对两个原则的讲解。
 阮伯山认为,第一,中国拒绝参与菲律宾东海仲裁案和宣布不接受国际仲裁法庭按照1982年《联合国海洋法公约》(UNCLOS)附件七做出判决的约束表明中国已违背《公约》缔约国需遵守的“”国家同意原则。中国批准《公约》这一举表明该国对公约中规定的各项国际义务的认可,其中包括接受强制性司法手续,承认和实施法庭于2016712日做出的终审和约束的判决。
第二,关于采用陆地统治海洋原则,东海仲裁案的国际仲裁法庭在客观和科学地分析的基础上已做出结论,长沙群岛没有任何一直浮出水面并满足《公约》第121条中各规定中各条件,足以成为自己专属经济区和大陆架岛礁。其意味着,该群岛浮出水面的岛礁仅能享有最大不超过12海里的领海。低潮高地的不是岛屿,并没有周边海域。
另一方面,仲裁法庭还提出结论:没有任何国家拥有划定围绕长沙群岛的基线的诉求权并将长沙群岛视为拥有自己专属经济区和大陆架的单一实体,因为该群岛不满足《公约》第47条中基线的规定或第七条中直线基线中的规定等的条件。
中国所谓万安滩的区域完全在海水下面,属于越南大陆架并与长沙群岛无关,按照仲裁法庭所判决,这里各实体没有大陆架和专属经济区。
从此可见,长沙群岛领土争端不可引起任何从越南大陆海岸起的专属经济区和大陆架与长沙群岛任何浮在水面上岛礁的领海之间的重迭。换一种说法,黄进所提出的陆地统治海洋原则没有余地,也不需要解决的重迭海域。
为了把东海变成黄进所说的连接各方的纽带,每方在进行海洋活动时需尊重其他伙伴的合法和正当权利和利益,尊重各方已精心培育的友好关系发展史和绝对遵守国际法。
 关于《指导解决越南社会主义共和国与中华人民共和国海洋问题的基本原则》和《东海各方行为宣言》(DOC),阮伯山认为,谈判和友好协商是解决各国家之间所有争端和分歧的优先措施。作为原越南外交部的官员并已多年参加与中国进行包括东海争端的领土边境问题的谈判,阮伯山希望两国可通过谈判和友好协商来解决所存在的分歧和争端。

Đọc thêm...

Chủ tịch Hội Luật quốc tế Việt Nam phản bác luận điệu của Hội Luật quốc tế Trung Quốc về Biển Đông

08:00 |
Chủ tịch Hội Luật quốc tế Việt Nam Nguyễn Bá Sơn vừa gửi thư trả lời thư của Chủ tịch Hội Luật quốc tế Trung Quốc (CSIL) Hoàng Tiến liên quan đến những vi phạm của nhóm tàu Hải Dương 8 tại khu vực biển hoàn toàn thuộc vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam.
Trước đó, vào ngày 24/8/2019, Chủ tịch Hội Luật quốc tế Việt Nam Nguyễn Bá Sơn viết một bức thư ngỏ về tình hình Biển Đông. Đến ngày 19/9, Chủ tịch Hội Luật quốc tế Trung Quốc Hoàng Tiến đã có thư phản hồi trên website của hội này.
Trong bức thư trả lời lại thư ông Hoàng Tiến, được đăng tải lên trang web của Hội Luật quốc tế Việt Nam vào ngày 30/10, ông Nguyễn Bá Sơn khẳng định phê phán từ phía Hội Luật quốc tế Trung Quốc là "sự hiểu lầm hoàn toàn." Vấn đề chủ quyền đối với quần đảo Trường Sa không phải là chủ đề chính của bức thư ngỏ ngày 24/8/2019.
"Lý do rất rõ ràng và không thể hiểu khác được, điều mà tôi cũng sẽ làm rõ dưới đây, đó là vấn đề chủ quyền đối với quần đảo này không hề có sự liên quan gì, cả về pháp lý hay địa lý đối với khu vực biển nơi Trung Quốc đang có những hành vi xâm phạm nghiêm trọng quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam," Chủ tịch Hội Luật quốc tế Việt Nam cho biết.
Chủ tịch Hội Luật quốc tế Việt Nam Nguyễn Bá Sơn nêu rõ, chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa “đã được Chính phủ Việt Nam khẳng định nhiều lần.”
Khẳng định của Chính phủ Việt Nam là dựa trên những chứng cứ lịch sử-pháp lý vững chắc như đã được trình bày trong các Sách trắng về Chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, xuất bản trong các năm 1975, 1979, 1981 và 1988.
Chủ quyền không thể tranh cãi của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cũng đã được nhiều luật gia, sử gia quốc tế phân tích và công nhận, ví dụ như cuốn sách “Sovereignty over the Paracel and Spratly Islands” của giáo sư luật quốc tế người Pháp Monique Chemillier-Gendreau xuất bản lần đầu bằng tiếng Pháp năm 1986 (bản dịch tiếng Anh năm 2000), hay cuốn sách “The South China Sea. The Struggle for Power in Asia” của nhà nghiên cứu người Anh Bill Hayton xuất bản năm 2014.
Chủ tịch Hội Luật quốc tế Việt Nam Nguyễn Bá Sơn khẳng định, từ thế kỷ 17, các Chúa Nguyễn đã thực thi chủ quyền của Việt Nam thông qua việc cử các đội Hoàng Sa-Bắc Hải ra khai thác hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Tiếp theo, các Hoàng đế Nhà Nguyễn đã cử các đội hải quân ra vẽ bản đồ, cắm cột mốc chủ quyền trên hai quần đảo này... Trong giai đoạn chủ nghĩa thực dân thống trị, nước Pháp thay mặt cho Việt Nam quản lý hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Sau đó, Việt Nam Cộng hòa tiếp quản và quản lý hai quần đảo này từ nước Pháp theo quy định của Hiệp định Geneva năm 1954. Việc tiếp quản quần đảo Trường Sa vào Mùa Xuân 1975 và những hoạt động bình thường của Việt Nam trong khu vực quần đảo Trường Sa sau khi đất nước đã hòa bình, thống nhất là hoàn toàn phù hợp với luật quốc tế và không có một quốc gia nào phản đối, kể cả Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, thì sao có thể nói là “phi pháp” được.
Ngược lại, vào các năm 1974 và 1988, với những hành động bị luật quốc tế nghiêm cấm, phía Trung Quốc đã dùng vũ lực chiếm đóng một số đảo và thực thể (đảo đá, bãi cạn) trong khu vực hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Việc Trung Quốc chiếm đóng, rồi từ đó đến nay, từng bước xây dựng các đảo nhân tạo và quân sự hóa một cách bất hợp pháp một số đảo đá và bãi cạn thuộc khu vực quần đảo Trường Sa mới chính là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình hình căng thẳng, đe dọa hòa bình và ổn định tại Biển Đông và trong khu vực.
Chẳng lẽ những hành động bị các quốc gia trên thế giới và Việt Nam lên án đó lại có thể gọi là hợp pháp và tạo thành cơ sở cho phía Trung Quốc đòi hỏi chủ quyền lãnh thổ đối với hai quần đảo và rồi sử dụng nó để đòi hỏi một vùng biển rộng lớn chồng lấn với vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam được xác lập phù hợp với Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển 1982 (UNCLOS).
Chủ tịch Hội Luật quốc tế Việt Nam Nguyễn Bá Sơn đồng ý với việc nhấn mạnh “nguyên tắc chấp thuận” của quốc gia trong việc giải quyết các tranh chấp quốc tế và nguyên tắc “đất thống trị biển” để xác định các quyền trên biển của quốc gia mà Chủ tịch Hội Luật quốc tế Trung Quốc (CSIL) Hoàng Tiến nêu trong phần 2 thư trả lời nhưng sự đồng ý đó không thể làm cho ông chia sẻ những luận giải của Giáo sư về hai nguyên tắc này.
Theo Chủ tịch Hội Luật quốc tế Việt Nam Nguyễn Bá Sơn, thứ nhất, với việc từ chối tham gia vụ kiện trọng tài Biển Đông với Philippines và tuyên bố không công nhận giá trị ràng buộc của Phán quyết của Tòa Trọng tài theo Phụ lục VII UNCLOS, chính phía Trung Quốc đã vi phạm nguyên tắc chấp thuận mà quốc gia với tư cách là thành viên UNCLOS cần tuân thủ.
Bằng việc phê chuẩn UNCLOS, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đã thể hiện sự chấp thuận của quốc gia mình đối với các nghĩa vụ pháp lý quốc tế được quy định trong Công ước, bao gồm việc chấp nhận thủ tục tài phán bắt buộc, công nhận và thực hiện Phán quyết mang tính chất chung thẩm và ràng buộc ngày 12/7/2016 mà Tòa Trọng tài đã tuyên.
Thứ hai, liên quan đến việc áp dụng nguyên tắc "đất thống trị biển,” Tòa Trọng tài trong vụ kiện Biển Đông, trên cơ sở phân tích một cách khách quan và khoa học, đã đưa ra kết luận rằng không có bất kỳ thực thể luôn nổi nào tại khu vực quần đảo Trường Sa đáp ứng các điều kiện theo quy định tại Điều 121 UNCLOS để có quyền có vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của riêng mình. Điều này có nghĩa rằng các thực thể luôn nổi thuộc quần đảo này chỉ có thể có tối đa lãnh hải 12 hải lý. Các thực thể giữa biển, nằm dưới mặt nước biển khi thủy triều lên không phải là đảo, không có vùng biển xung quanh.
Hơn nữa, Tòa Trọng tài cũng đưa ra kết luận rằng không một quốc gia nào có quyền yêu sách vẽ đường cơ sở quần đảo bao quanh quần đảo Trường Sa và xem quần đảo Trường Sa là một thực thể đơn nhất có vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa riêng, vì nhóm đảo này không đáp ứng các điều kiện để có đường cơ sở quần đảo theo quy định tại Điều 47 của UNCLOS hoặc đường cơ sở thẳng theo quy định tại Điều 7.
Khu vực mà Trung Quốc gọi là “Bãi Vạn An” hoàn toàn chìm dưới mặt nước biển, thuộc thềm lục địa Việt Nam và không liên quan gì đến quần đảo Trường Sa, nơi các thực thể không có thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế như Tòa Trọng tài đã phán xử.
Như vậy, việc tồn tại tranh chấp về chủ quyền lãnh thổ đối với quần đảo Trường Sa không thể dẫn đến việc phát sinh bất kỳ sự chồng lấn nào giữa vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa được tính từ bờ biển lục địa của Việt Nam, với lãnh hải của bất kỳ thực thể luôn nổi nào thuộc quần đảo Trường Sa. Nói một cách khác, “nguyên tắc đất thống trị biển” mà Giáo sư nêu ra không có “đất” để áp dụng cũng như không có vùng biển chống lấn để giải quyết
Để biến Biển Đông thành “sự kết nối tất cả các bên” như Chủ tịch Hội luật quốc tế Trung Quốc đề xuất, thì mỗi bên khi tiến hành những hoạt động trên biển phải tôn trọng quyền, lợi ích hợp pháp và chính đáng của các bên đối tác khác, trân trọng lịch sử quan hệ hữu nghị mà các bên đã dày công vun đắp và tuyệt đối tuân thủ luật quốc tế.
Liên quan đến hai văn kiện chính trị song phương và đa phương là “Thỏa thuận về những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển giữa nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa” và “Tuyên bố ứng xử trên Biển Đông giữa các nước ASEAN và Trung Quốc” (DOC), Chủ tịch Hội Luật quốc tế Việt Nam Nguyễn Bá Sơn cho rằng, “đàm phán và hiệp thương hữu nghị” là biện pháp ưu tiên trong việc giải quyết hòa bình mọi tranh chấp, bất đồng giữa các quốc gia.
Là một cựu quan chức của Bộ Ngoại giao Việt Nam và đã nhiều năm tham gia đàm phán với Trung Quốc về vấn đề biên giới lãnh thổ, bao gồm cả tranh chấp Biển Đông, Chủ tịch Hội Luật quốc tế Việt Nam Nguyễn Bá Sơn mong muốn hai nước có thể thông qua đàm phán và hiệp thương hữu nghị để giải quyết các tranh chấp bất đồng còn tồn tại.
Với tư cách là một chuyên gia luật quốc tế, Chủ tịch Hội Luật quốc tế Việt Nam Nguyễn Bá Sơn khẳng định, không có bất kỳ nội dung nào trong hai văn kiện này, cũng như trong bất kỳ thỏa thuận nào giữa Việt Nam và Trung Quốc có thể được giải thích như là sự hạn chế quyền của mỗi nước được tự do lựa chọn bất kỳ biện pháp hòa bình giải quyết tranh chấp nào khác đã được luật pháp quốc tế công nhận và cho phép một cách rõ ràng, đặc biệt là Hiến chương Liên hợp quốc (Điều 33) và UNCLOS./.

Đọc thêm...

南海新攻略:放弃“九段线”

07:00 |
如前几天所说,某国内知名军事网站最近发起了关于中国应该如何走出海权困局’”的征文。这个话题本身确实是一个很有意义的课题。然而十多天过去了, 应征的却不是义愤填膺的咆哮就是懵懂臆想的不着调,以至本人发出了国人的头脑并不比当年的北洋水师更为清醒,甚至可以说远远不如当年的李鸿章的感慨。
本人前些日子曾言:大争之世,争于实力”...然则,实力二字却并不能简单地跟一个国家有多少飞机大炮,有多少经济总量GDP,有多少人口有多少劳动力有多少生产车间等等等等划上等号...兵法云,上兵伐谋,其次伐交,其次伐兵,其下攻城,是谓大战胜于旷野而决于庙堂。 论国之大事,须知己知彼方可百战百胜,早已是不言而喻。然而,我们知己吗?我们又知彼吗?从身当三千年未见之变局的李中堂开始,中华仁人志士一直在为 开眼看世界而不懈努力。然而,在农业文明时期的千年辉煌却也为华夏大地积累了太多的无形债务。从对洋务运动百般阻挠的清流党1976年以拒 绝国际救援唐山大地震为荣的愚行,从迷信红灯照能让洋人的枪弹失效的义和团拳民到至今思维仍停留在美国总统跟不跟中国好的可笑境地,对于那个已是几乎完全按照西方规则运行的世界,国人知其一而不知其二其三者,多矣!在这么一个动荡纷扰危机四伏的世界上,似此这般盲人瞎马夜半雷池,可无惧焉?!
 不知一个中国乃是一个美国人提出的政治原则,不知运载成亿吨矿产资源开往国内的货轮却是绝大多数听命于外方,自然也就更不知围绕南沙群岛主权争议的那些往事,不知那条九段线的出笼背后有着多少阴差阳错,不知今日的南海问题上我们的国家已经到了何等极其被动的程度!
一个国军上校挥手而出的九段线
如果对九段线这个名词仍然有些陌生的话,这张图应该不陌生吧!这就是直到今天依然被普遍坚持的对南海诸岛拥有无可争辩的主权的具体体现。
然而,这条九段线的由来却已是讳莫若深,今天的国人有几个知道:它其实根本不是新中国政府划定的,而是当年的民国政府所划的;而就连 当年的国民政府,也不是在外交部的主持下划了这条线,而是以内政部的名义发行了这张地图,至于真正的捉刀者却是一位身份特殊的海军军官。他就是林 则徐的后人,原中国驻美大使馆海军武官,1946年赴南海前进舰队指挥官林遵上校。
194610月,历经苦战劫后余生的国民政府海军在上海成立前进舰队,其使命就是前往南海接收被日寇侵占的岛屿。19461029日晚,在林遵 上校指挥下,护航驱逐舰太平号、猎潜舰永兴号、坦克登陆舰中建号、中业号等四艘军舰开出吴淞口。119日到达海南岛榆林港后,林遵亲率 太平中业两舰开赴南沙;副指挥官姚汝鈺带领永兴中建两舰前往西沙。大凡对南海局势有所关心的朋友都很清楚:今天大家朗朗上口的永兴岛中建岛太平岛中业岛等名字正是来自当初加入前进舰队远赴南海的那四艘军舰。值得一提的是,作为蒋氏海军主力的太平号后在1954年被解放军鱼雷快艇击沉于浙江近海,而以其名字命名的太平岛却至今仍在台湾当局的控制之下。
1947年,根据林遵编队巡航归来提交的资料,国民政府内政部公布了《南海诸岛新旧名称对照表》。同年出版的《南海位置略图》标明南海海域包括东沙群岛、西沙群岛、中沙群岛、南沙群岛都属于中华民国领土,并在南海诸岛四周画出了11条断续国界线,也就是所谓的十一段线1948年,内政部方域司司长傅角今主编的《中华民国行政区域图》及附图《南海诸岛位置图》出版,成为最早正式公开标示十一段线的官方地图。
1949421日,毛泽东麾下百万大军横渡长江,直抵南京。然而,十一段线却并未随着蒋氏国民政府的土崩瓦解而消失。其中的原因就在于南海划界的始作俑者林遵已于此前不久率部起义,加入了解放军的行列。随着林遵接连担任华东海军副司令与海军副司令员等要职,当年的十一段线也就随着林遵以及他提供的资料进入了北京高层的视野。于是,在新中国出版的地图上,很快就出现了在十一段线基础上略加修改的九段线。因其形状为“U”形,也被称作“U形线
九段线从来都不是国境线!
看到这里想必很多朋友会说,事情不是已经很清楚了么:九段线就是南沙主权无可争议的具体体现,只要坚决捍卫九段线不就行了么!
然而实际情况是:九段线无论在法理上还是历史记录上,都不可能,也从来没有作为国境线出现过!
首先,国境线必须是连续的,这是一条全世界通行的基本准则。而九段线既然是分成了九段,自然也就是一条断续线。这 从根本上排除了九段线成为国境线的可能性。换言之,九段线充其量只能作为一条主张线,表明中国政府主张把该线内的岛屿和海域划入中国领土。 九段线从来不是,也不可能是一条已经划定的实际疆界线。因此,不能因为九段线的存在而说这条线内的岛屿和海域就是中国的领土,更不能要求其他国家 尊重这条根本不存在的国境线
同时,把九段线解释为国境线与《联合国海洋法公约》的明确规定南辕北辙,完全无法相互匹配。 多年来的国际海洋法实践当中,最基本的理论和原则就是陆地统治海洋,也就是说沿海国对海洋的领土主张必须以陆地主权为基础,并以领海基线为起始线向外 划定本国的领海。1958年《领海与毗连区公约》和1982年《联合国海洋法公约》对此原则总其大成,明确规定了以陆地主权决定海洋主权以及领海延 伸12海里的基本准则。因此,即使南海诸岛本身的主权不存任何争议,其产生的海洋国土也最多只能是这些岛屿周边半径12海里的一个圆,绝不可能如九段线那样包括整个南海海域。更何况,一则南海诸岛本身的主权争议甚嚣尘上;二则这些在潮水之间出出没没,难以支持长期居民生产生活的珊瑚礁盘能不能作为海洋国土的主张基础,在国际海洋法之下也是存疑的!
中国乃是《联合国海洋法公约》的签字国,有鉴于此坚持九段线本身就已构成了法理上的自相矛盾。况且,多年来除了时不时声明中国对。。岛拥有无可争辩的主权,历届中国政府从未以国际海洋法认可的行为真正对南海腹地的南沙群岛行使领海权、领土权与行政管治权。林遵编队巡航后,仅仅只是在太平岛上象征性地留驻了一些兵员,并未对南沙诸岛礁进行任何有效的管治。以致数十年后的今天,其它众多岛礁自不必说,就连当初以林遵四舰之一命名的中业岛与位于航路枢纽之上的南威岛也分别沦于菲律宾与越南之手。
由此,九段线在法理上不堪一击,在实践中形同虚设,长达几十年的自相矛盾说一套做一套下来,不客气地说,已经成了一个国际海洋法实践的笑柄。
林遵编队巡航后错失的历史机会
说起来,九段线的问题,其实还不仅仅是说一套做一套那么简单,更大的问题在于按照当前国际海洋法的历史大陆架先占三大原则,在南沙归属问题上,中国居然全都占不了上风,甚至可以说是濒临强词夺理。这才是当前南海问题被动至极的最根本的原因。
中国自古以来就拥有对南海诸岛无可争议的主权,这话已经听了不知多少遍了。可是仔细推敲一下问题就出来了:自从中华文明开国之际直到1840年英国人的大炮打破大清帝国的大门为止,中国也好,朝鲜也好,东南亚也好,整个东方压根就没有主权的概念。查遍中国上下五千年的历史恐怕也难找到文书上有主权二字。主权完全是一个西方人创造出来的概念,古代的中国怎么会有呢?又如何谈的上自古以来就无可争议的主权
事实上,如果按照西方式的主权观念来认真推敲南沙争议,我们会发现中国的立场是真的很难站住脚:凭什么中国的船来过几次,打了几条鱼这地方就是中国的了? 那我的船历史上到的次数比你多得多了,成年累月在这打鱼呢,为什么就不能算数呢?你说你先到的,有证据吗?哪年哪月到都是谁到的?这根本就一堆糊涂帐,反 正谁也没有办法在那些刚刚露出水面的珊瑚礁上头安家落户.....
在历史准则陷入纠缠与混乱的情况下,大陆架延伸与先占原则就变得更加重要。而南沙离越、马、菲等国都比中国近,因此倘若按照距离就近,大陆架延伸的地理准则,不用说,中国甚至可能连一点份都没有!至于原本可对中国极为有利的先占原则,却由于长达四十年的对海洋权益的忽视,如今反而成了别人的绝 对长板。
当年林遵编队巡航南海之际,后来的东南亚国家基本还是殖民地。本土都被二次大战打得一塌糊涂的欧洲殖民当局已经在准备卷铺撤离了,谁还有心思在乎大海里的几个珊瑚礁?况且,当时的国民政府是由内政部在国内发行的地图上登出了那条十一段线,根本没通过外交渠道向东南亚宣布这地方是我的了。人家根本一无所知,怎么可能提出异议呢?(不过,用这套逻辑去论证南沙属于中国是非常危险的,因为同样的逻辑也被日本用来论证尖阁列岛是日本发现的”----当时钓鱼岛被日本偷偷摸摸划进冲绳县的时候清政府同样没提出异议呀,因为什么也不知道!)当时倘若下定决心,派出哪怕几个营的兵力上岛把南沙通通占领,并且长期驻扎下来,甚至设置南沙县等行政机关实施有效管治,那么历经数十年的经营,先占原则就会成为主张南沙主权的利器。
然而令人叹息的是,在长达四十余年的光阴里,海峡两岸的目光都未曾投注到南海深处。在那片天尽头的海疆留下永久记忆的太平军舰却在内战中毁于对岸同胞射出的鱼雷,本身就是南沙诸岛历史命运的一种预示或写照。 时至二十世纪七十年代,开始从对外贸易当中赚取第一桶金的东南亚小龙小虎们终于发现了南沙群岛的价值,而这当的台湾当局刚被赶出联合国,自顾不 暇;大陆则尚未摆脱文革的创伤,海军不过只是近岸防卫队而已,缺乏最起码的远征能力。此时此刻的南沙群岛除了太平岛上台湾派驻的兵员外,整个就一片无人 岛。肥肉在前,不抢何待?!更何况,此时先占原则已经出笼,谁抢到就是谁的!你说是你的,对不起,谁叫你不派兵来守呢?!
如此一来,历史原则中国占据优势却缺乏现代海洋法体系所认可的证据,而大陆架延伸原则与先占原则全都成了有利于东南亚国家而不利于中国,南沙问题在法理层面已经陷入极其严重的被动。坦率地讲,倘若今天就在南海围绕南沙归属爆发一场战争,全世界大概只有十三四亿人会认为中国不是侵略者!

Đọc thêm...

Vì sao Trung Quốc nên từ bỏ Đường 9 Đoạn?

06:00 |
(NCQT) - Lời giới thiệu của người dịch: Đường 9 Đoạn (Nine-dotted line), tức Đường Chữ U (U-shape line) hoặc Đường Lưỡi Bò là đường ranh giới biển do Trung Quốc đưa ra nhằm chiếm 80% diện tích Biển Đông, điểm cực Nam đến vĩ độ 4. Tham vọng ấy quá lớn, quá vô lý và trắng trợn nên đã bị dư luận Đông Nam Á và toàn thế giới phản đối. Đường này có chỗ lấn vào vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý của một số nước Đông Nam Á, khiến cho không còn tồn tại vùng biển quốc tế trên Biển Đông nữa, do đó cản trở các tuyến hàng hải quốc tế. TQ rất lúng túng vì không đưa ra được bằng chứng lịch sử và tính pháp lý của Đường 9 Đoạn. Trong khi chính quyền Việt Nam từ thế kỷ 17 đã đưa người ra kiểm soát quần đảo Trường Sa thì TQ mãi đến năm 1946 mới có người ghé qua đây cắm cờ nhận chủ quyền rồi về.
Bản đồ TQ công bố trước 1947 đều vẽ đảo Hải Nam là lãnh thổ cực Nam của họ. Vả lại ai cũng biết bản thân một đường nét đứt chia làm 9 đoạn rời nhau thì không thể coi là đường biên giới quốc gia. Hơn nữa, các đảo bên trong đường ấy ở rất xa TQ và rất gần các nước Đông Nam Á khác; vì thế xét về luật quốc tế, Đường 9 Đoạn hoàn toàn không có cơ sở pháp lý. Việc hạm đội chính phủ Trung Hoa Dân Quốc năm 1946 tiếp quản quần đảo Trường Sa từ tay Nhật rồi đặt tên cho 4 hòn đảo và vẽ vào bản đồ phát hành nội bộ Trung Quốc sao có thể coi là bằng chứng TQ có chủ quyền ở đấy? Năm 1946 quân đội chính phủ này chẳng đã đến tiếp quản Việt Nam (nửa trên vĩ tuyến 16) từ tay Nhật đó sao? Thế nhưng TQ đâu có chủ quyền ở đây? …
Các sự thực ấy chính quyền TQ đều biết, nhưng họ giấu kín không cho dân biết, chỉ một mực nói bừa là toàn bộ các đảo bên trong Đường 9 Đoạn là thuộc chủ quyền không thể tranh cãi của TQ. Dưới sự tuyên truyền dối trá như vậy, đa số dân TQ đều cho rằng nước này nên dùng quân sự “giải phóng” các đảo đang bị nước khác kiểm soát. Rất may là một số trí thức TQ tỉnh táo và dũng cảm đã dùng hình thức Blog mạng để vạch ra sự thật về Đường 9 Đoạn. Bài dưới đây của Blogger Trương Quang Nhuệ, một tác giả thường gây tranh cãi ở TQ. Bài rất dài, chúng tôi chỉ giới thiệu phần đầu. Trong 2 phần sau, tác giả kiến nghị TQ và các nước liên quan thành lập Khối Cộng đồng Biển Đông (South China Sea Commonwealth) để cùng khai thác Biển Đông theo kiểu một công ty đa quốc gia mà TQ chiếm 50% cổ phần.
Gần đây một trang mạng quân sự nổi tiếng trong nước có kêu gọi viết bài về đề tài “Trung Quốc nên thoát ra khỏi tình trạng khó khăn về chủ quyền biển đảo như thế nào”. Bản thân đề tài này thật là có ý nghĩa. Nhưng các bài viết hưởng ứng lời kêu gọi này đã đăng thì hoặc là sặc giọng căm phẫn, hoặc là đầy những ý tưởng ngớ ngẩn. Tôi có cảm giác: Đầu óc đồng bào ta không hề tỉnh táo hơn [những người Trung Quốc hồi cuối thế kỷ 19 từng khuất phục trước tàu chiến súng lớn của phương Tây].
Cách đây ít lâu tôi từng nói: “Trong thế giới cạnh tranh, thực lực là điều quan trọng” … Nhưng không thể đơn giản hiểu thực lực là nước mình có bao nhiêu máy bay tàu chiến, có GDP bằng bao nhiêu, có bao nhiêu dân… Khi bàn chuyện lớn của đất nước, cần phải biết mình biết người thì mới bách chiến bách thắng, chuyện ấy chẳng nói cũng hiểu. Thế nhưng chúng ta có biết mình không? Có biết người không?
Trong quá khứ có bao nhiêu chuyện chứng tỏ chúng ta chẳng biết mình biết người. Năm 1976, Trung Quốc từ chối nhận viện trợ của các nước khác giúp khắc phục thiệt hại trong trận động đất lớn Đường Sơn, khi ấy chúng ta cho rằng làm như thế là vẻ vang. Chúng ta không biết gì về cái thế giới đã gần như hoàn toàn vận hành theo quy tắc của phương Tây, không biết rằng khẩu hiệu “Một nước Trung Quốc” chính là nguyên tắc chính trị do người Mỹ đưa ra. Lẽ tự nhiên chúng ta lại càng không biết những chuyện xa xưa xung quanh vấn đề tranh cãi chủ quyền quần đảo Nam Sa [Việt Nam gọi là Trường Sa], không biết rằng đằng sau sự ra đời cái “Đường 9 đoạn” (九段线) kia có bao nhiêu trục trặc, không biết rằng hiện nay trên vấn đề Nam Hải [Việt Nam gọi là Biển Đông] nước ta đã cực kỳ bị động!
“Đường 9 đoạn” do một đại tá quân đội Quốc Dân Đảng vẽ ra
Nếu bạn vẫn còn có chút xa lạ với từ ngữ Đường 9 đoạn thì chắc hẳn bạn đã quen với tấm bản đồ Nam Hải chứ! Đây là thể hiện cụ thể của ý nghĩ [Trung Quốc] “có chủ quyền không thể tranh cãi về các đảo ở Nam Hải” cho tới nay vẫn còn nhiều người kiên trì.
Thế nhưng nguồn gốc của Đường 9 đoạn lại bị giấu kín như bưng, ngày nay có mấy người Trung Quốc biết rằng thực ra nó đâu phải do chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa hoạch định, mà là do chính phủ Dân Quốc [của Quốc Dân Đảng] năm xưa vạch ra. Hơn nữa Đường 9 đoạn cũng không phải là do Bộ Ngoại giao của chính phủ ấy chủ trì hoạch định, mà là lấy danh nghĩa Bộ Nội chính phát hành tấm bản đồ này. Người vạch ra Đường 9 đoạn là một sĩ quan hải quân có thân phận đặc biệt, nguyên sĩ quan hải quân trong sứ quán Trung Hoa Dân Quốc tại Mỹ, năm 1946 làm sĩ quan chỉ huy Hạm đội Tiền tiến đi Nam Hải công cán.
Tháng 10 năm 1946, hải quân chính phủ Dân Quốc thành lập tại Thượng Hải Hạm đội Tiền tiến với nhiệm vụ xuống Nam Hải tiếp quản các đảo bị Nhật chiếm. Tối 29/10, dưới sự chỉ huy của đại tá Lâm Tôn,[1] một đoàn 4 tàu chiến nhổ neo ra khỏi cửa Ngô Tùng, Thượng Hải. Đoàn gồm 4 chiến hạm: tàu khu trục hộ tống Thái Bình, tàu săn tàu ngầm Vĩnh Hưng, tàu đổ bộ xe tăng Trung Kiện và tàu Trung Nghiệp.[2] Ngày 9/11 đoàn tàu đến cảng Du Lâm thuộc đảo Hải Nam. Sau đó, Lâm Tôn chỉ huy hai tàu Thái Bình và Trung Nghiệp tiến về phía đảo Nam Sa. Phó chỉ huy Diêu Nhữ Ngọc dẫn hai tàu Vĩnh Hưng, Trung Kiện tiến về đảo Tây Sa [Việt Nam gọi là Hoàng Sa]. Tên các hòn đảo Vĩnh Hưng, Trung Kiện, Thái Bình và Trung Nghiệp ngày nay có vẽ trên bản đồ Nam Hải chính là tên 4 chiếc tàu năm xưa tham gia Hạm đội Tiền tiến.
Có điều đáng nhắc lại là tàu Thái Bình vốn là chiến hạm chủ lực của hải quân Tưởng Giới Thạch, về sau đến năm 1954 bị tàu cao tốc phóng lôi của Quân Giải phóng Trung Quốc đánh chìm ở vùng biển gần tỉnh Triết Giang. Nhưng hòn đảo mang tên nó — tức đảo Thái Bình  — cho tới nay vẫn do chính quyền Đài Loan kiểm soát.
Năm 1947, dựa váo các tài liệu do Hạm đội Tiền tiến trình báo, Bộ Nội chính chính phủ Dân Quốc công bố Bảng đối chiếu tên cũ-mới của các đảo ở Nam Hải. Cùng năm đó xuất bản Bản đồ sơ lược vị trí các đảo ở Nam Hải 南海位置略图, ghi rõ vùng biển Nam Hải gồm các quần đảo Đông Sa, Tây Sa, Nam Sa, Trung Sa[4] đều thuộc lãnh thổ Dân quốc Trung Hoa và vẽ đường biên giới quốc gia có 11 nét đứt rời xung quanh các đảo ở Nam Hải, cũng tức là Đường 11 đoạn 十一段线. Năm 1948 lại xuất bản Bản đồ Khu vực hành chính Trung Hoa Dân quốc 中华民国行政区域图kèm theo Bản đồ vị trí các đảo Nam Hải 南海诸岛位置图do Phó Giác Kim phụ trách Vụ Phương vực Bộ Nội chính 内政部方域司chủ biên, trở thành bản đồ chính thức sớm nhất công khai vẽ Đường 11 đoạn.
Ngày 21/4/1949, Quân Giải phóng Trung Quốc vượt Trường Giang tiến xuống phía Nam đến tận Nam Kinh, thủ đô chính phủ Dân Quốc. Cho dù chính phủ Dân Quốc của Tưởng Giới Thạch tan rã nhưng Đường 11 đoạn không vì thế mà biến mất. Ở đây có một nguyên nhân là trước đó không lâu. Lâm Tôn, người vạch đường biên ở Nam Hải, đã khởi nghĩa chống lại Tưởng Giới Thạch, gia nhập hàng ngũ Quân Giải phóng. Sau đó Lâm Tôn liên tiếp được cử làm Phó Tư lệnh Hải quân Hoa Đông rồi Phó Tư lệnh Hải quân của Quân Giải phóng Trung Quốc. Đường 11 đoạn năm nào ra đời cùng với Lâm Tôn và các tài liệu do ông cung cấp đã lọt vào tầm mắt của giới lãnh đạo Trung Quốc. Vì thế trong các bản đồ do Tân Trung Quốc xuất bản đã nhanh chóng xuất hiện Đường 9 đoạn được sửa chữa một chút từ Đường 11 đoạn.
“Đường 9 đoạn” chưa bao giờ là đường biên giới quốc gia!
Đọc tới đây có lẽ rất nhiều người sẽ nói như vậy chẳng phải mọi việc đã rất rõ ràng rồi hay sao: Đường 9 đoạn là thể hiện cụ thể không thể tranh cãi về chủ quyền của Trung Quốc ở Nam Sa, chỉ cần kiên quyết bảo vệ Đường 9 đoạn là được!
Thế nhưng tình hình thực tế là: cho dù trên pháp lý hoặc trong các ghi chép lịch sử, Đường 9 đoạn không thể nào, và xưa nay cũng chưa từng xuất hiện với tư cách là đường biên giới quốc gia!
Trước hết, đường biên giới quốc gia tất phải là đường nét liền, đây là một chuẩn tắc cơ bản thông dụng trên toàn thế giới. Thế nhưng Đường 9 đoạn đã chia thành 9 đoạn thì lẽ tự nhiên là một đường đứt rời. Điều đó về cơ bản đã loại trừ khả năng Đường 9 đoạn trở thành đường biên giới quốc gia. Nói cách khác, Đường 9 đoạn cùng lắm chỉ có thể dùng làm một “đường chủ trương”, thể hiện chính phủ Trung Quốc chủ trương hoạch định vùng biển và các đảo ở trong đường đó vào lãnh thổ Trung Quốc. Đường 9 đoạn xưa nay chưa bao giờ, và cũng không thể là một tuyến cương giới thực tế đã được hoạch định. Bởi vậy không thể vì sự tồn tại Đường 9 đoạn mà nói các đảo và vùng biển bên trong đường đó là lãnh thổ của Trung Quốc; lại càng không thể yêu cầu các quốc gia khác tôn trọng “đường biên giới quốc gia” căn bản không tồn tại này.
Đồng thời, giải thích Đường 9 đoạn là “đường biên giới quốc gia” là đi ngược lại Công ước về Luật biển của Liên Hợp Quốc, hoàn toàn không ăn nhập với Công ước đó. Trong thực tiễn thi hành Luật biển quốc tế bao năm qua, có một lý luận và nguyên tắc cơ bản nhất là “Đất thống trị biển”, cũng tức là nói chủ trương lãnh thổ đối với biển của quốc gia ven biển ắt phải dựa trên cơ sở chủ quyền lục địa, và lấy đường cơ sở lãnh hải làm đường khởi đầu từ đó hướng ra ngoài để hoạch định lãnh hải của mình. Công ước Lãnh hải và vùng tiếp giáp năm 1958 và Công ước về Luật biển của Liên Hợp Quốc năm 1982 — hai Công ước này quy định rõ các chuẩn tắc cơ bản “Lấy chủ quyền đất liền để quyết định chủ quyền biển” và “Lãnh hải mở rộng 12 hải lý”.
Bởi vậy, cho dù bản thân các đảo ở Nam Hải không tồn tại bất cứ tranh chấp nào thì “lãnh thổ trên biển” do nó sinh ra cũng nhiều nhất chỉ có thể là một vòng tròn bán kính 12 hải lý xung quanh đảo, chứ tuyệt đối không thể bao gồm toàn bộ vùng biển Nam Hải như Đường 9 đoạn.
Huống chi hiện nay sự tranh cãi về chủ quyền các đảo ở Nam Hải vốn đang ầm ỹ rồi,  hơn nữa liệu các bãi đá lúc chìm lúc nổi khi thủy triều lên xuống và các đảo san hô khó có thể duy trì đời sống và sản xuất lâu dài cho dân cư ấy có thể dùng làm cơ sở cho chủ trương “lãnh thổ trên biển” được hay không? — điều này khi áp dụng luật biển quốc tế thì cũng đáng ngờ vực!
Trung Quốc là nước ký Công ước Liên Hợp Quốc về Luật biển, vì vậy bản thân việc kiên trì Đường 9 đoạn đã tự mâu thuẫn về pháp lý. Hơn nữa, nhiều năm nay ngoài chuyện thỉnh thoảng lại tuyên bố “Trung Quốc có chủ quyền không thể tranh cãi về đảo …” ra, các thế hệ chính phủ Trung Quốc đều chưa hề dùng hành vi được luật biển quốc tế tán thành để thực sự hành xử quyền lãnh hải, quyền lãnh thổ và quyền quản trị hành chính đối với quần đảo Nam Sa nằm ở vùng trung tâm Nam Hải.
Biên đội Lâm Tôn sau chuyến đi biển ấy trở về chỉ bố trí có tính chất tượng trưng một số binh sĩ ở lại trên đảo Thái Bình chứ chưa hề tiến hành bất cứ sự quản trị hữu hiệu nào đối với các đảo thuộc quần đảo Nam Sa. Cho nên ngày nay sau mấy chục năm kể từ chuyến đi ấy, chưa cần nói về rất nhiều hòn đảo, mà ngay cả đảo Trung Nghiệp đặt theo tên một trong số 4 chiếc tàu chiến thuộc hạm đội của Lâm Tôn, và đảo Nam Uy [tiếng Anh: Spratly Island, Việt Nam gọi là đảo Trường Sa Lớn] nằm ở đầu mối tuyến đường biển cũng lần lượt rơi vào tay Phillippines và Việt Nam.
Bởi vậy Đường 9 đoạn xét về pháp lý thì không chịu nổi một đòn [phản biện]; trong thực tế thì như thằng bù nhìn, đã mấy chục năm tự mình mâu thuẫn nói một đằng làm một nẻo. Nói thẳng ra, Đường 9 đoạn đã trở thành một trò cười trong thực tế vận hành Luật biển quốc tế.
Cơ hội lịch sử để vuột mất sau chuyến đi biển của Lâm Tôn
Vấn đề Đường 9 đoạn thực ra không chỉ đơn giản là nói một đằng làm một nẻo, mà vấn đề lớn hơn lại ở chỗ xét theo ba nguyên tắc lớn “Lịch sử”, “Thềm đại lục” “Chiếm trước” của Luật biển quốc tế, thì trên vấn đề quần đảo Nam Sa thuộc về ai, rõ ràng Trung Quốc hoàn toàn không chiếm được thế thượng phong, thậm chí có thể nói là [Trung Quốc đang] cận kề mức cãi chày cãi cối. Đây mới là nguyên nhân cơ bản nhất [làm cho Trung Quốc] bị động tới cùng cực trên vấn đề Nam Hải hiện nay.
“Trung Quốc từ xưa tới nay đã có chủ quyền không thể tranh cãi đối với các đảo ở Nam Hải” câu nói này [người ta] đã nghe không biết bao nhiêu lần rồi. Nhưng cân nhắc kỹ lưỡng một chút thì vấn đề sẽ hiện ra: kể từ ngày khai quốc nền văn minh Trung Hoa cho đến năm 1840 khi đại bác của người Anh phá vỡ cánh cổng lớn của đế quốc Đại Thanh thì Trung Quốc cũng vậy, Triều Tiên cũng vậy, Đông Nam Á cũng vậy, toàn bộ phương Đông hoàn toàn chẳng có khái niệm chủ quyền gì cả. Tra cứu hết lịch sử trên dưới 5000 năm của Trung Quốc, e rằng cũng khó mà tìm thấy trong văn thư nào có hai chữ chủ quyền. Chủ quyền là khái niệm hoàn toàn do người phương Tây sáng tạo, Trung Quốc cổ đại sao mà có được? Thế thì làm sao có thể nói tới  “Chủ quyền không thể tranh cãi từ xưa đến nay”?
Thực ra nếu dựa vào quan niệm chủ quyền của phương Tây để nghiêm túc cân nhắc cuộc tranh cãi về quần đảo Nam Sa, chúng ta sẽ phát hiện thấy lập trường của Trung Quốc thật sự rất khó đứng vững được: dựa vào chuyện tàu thuyền Trung Quốc đến nơi ấy mấy lần gì gì đó, đánh bắt được mấy con cá thì chỗ ấy là của Trung Quốc sao? Thế thì trong lịch sử, tàu thuyền của tôi đến chỗ ấy còn nhiều hơn anh nữa kia, năm này qua năm khác tôi đánh cá ở đấy, cớ sao lại không được thừa nhận? Anh bảo anh đến đấy trước, vậy có chứng cứ không? Năm nào tháng nào ai đến đấy? Chuyện này về căn bản là một mớ sổ sách rối bét, dù sao thì cũng chẳng ai có cách nào sinh cơ lập nghiệp được trên những mỏm đá san hô chỉ nhô lên khỏi mặt nước một tý tẹo ấy.
Trong tình hình chuẩn tắc lịch sử rơi vào tình trạng rối rắm và hỗn loạn như trên, thì nguyên tắc “Thềm đại lục vươn ra” và “Chiếm trước” trở nên quan trọng hơn. Mà Nam Sa cách Việt Nam, Malaysia, Phillippines gần hơn cách Trung Quốc, bởi vậy giả thử theo chuẩn tắc địa lý “cự ly gần, thềm đại lục vươn ra” , thì chẳng cần nói, Trung Quốc thậm chí có thể chẳng có được phần nào! Còn nói về nguyên tắc “Chiếm trước” vốn dĩ có thể là cực kỳ có lợi cho Trung Quốc, nhưng vì [Trung Quốc] suốt 40 năm ròng coi nhẹ quyền lợi trên biển, cho nên ngày nay [“Chiếm trước”] lại trở thành ưu thế tuyệt đối của người khác.
Vào cái thời Lâm Tôn lập hạm đội đi Nam Hải, các quốc gia Đông Nam Á hồi ấy căn bản còn là các xứ thuộc địa, sau này mới xuất hiện [là quốc gia độc lập]. Chính quốc các nước thực dân châu Âu đều bị Thế chiến II làm cho tan nát, lúc này đang chuẩn bị cuốn gói chuồn khỏi [các thuộc địa của mình], nào ai còn tâm tư để ý đến mấy hòn đảo san hô trên biển mênh mông kia đâu?
Hơn nữa cho dù Bộ Nội chính của chính phủ Trung Hoa Dân Quốc có in cái Đường 9 đoạn trên tấm bản đồ phát hành trong nước, nhưng chính phủ này hoàn toàn không thông qua con đường ngoại giao để tuyên bố với Đông Nam Á rằng “Vùng này là của tôi” . Người ta [các nước Đông Nam Á] hoàn toàn chẳng biết gì về chuyện ấy thì sao mà có thể “đưa ra ý kiến khác” được? (Song le dùng logic này để luận chứng quần đảo Nam Sa thuộc Trung Quốc là điều vô cùng nguy hiểm, vì logic như vậy từng được Nhật dùng để luận chứng các đảo Pinnacle Islands尖阁列岛 là do Nhật “phát hiện” — hồi ấy khi đảo Điếu Ngư 钓鱼岛 [Nhật gọi là Senkaku Shotō] bị Nhật lén lút ghép vào địa giới “Huyện Okinawa” 冲绳县, chính phủ nhà Thanh cũng vậy, không hề “đưa ra ý kiến khác”, bởi lẽ họ đâu có biết gì!)
Nếu hồi ấy hạ quyết tâm đưa ra đảo cho dù chỉ vài tiểu đoàn lính, chiếm hết quần đảo Nam Sa rồi đóng quân lâu dài ở đấy, thậm chí thiết lập các cơ quan hành chính như “Huyện Nam Sa” để thực thi quản trị hữu hiệu, thế thì sau mấy chục năm kinh doanh, nguyên tắc “Chiếm trước” sẽ trở thành vũ khí lợi hại để giữ chủ quyền ở Nam Sa.
Thế nhưng điều khiến người ta lấy làm tiếc là trong thời gian hơn 4 chục năm, ánh mắt của hai bờ eo biển [ý nói đại lục Trung Quốc và Đài Loan] đều chưa từng hướng vào Nam Hải. Tàu chiến Thái Bình từng để lại ký ức vĩnh cửu tại biên cương biển nơi cùng trời cuối đất năm xưa, về sau trong cuộc nội chiến lại bị ngư lôi của đồng bào mình [ý nói Quân Giải phóng Trung Quốc] đánh chìm. Câu chuyện ấy là một điềm báo hoặc phác họa về số phận lịch sử của các đảo thuộc quần đảo Nam Sa.
Cho đến thập niên 1970, khi các “Rồng con, Hổ con” của Đông Nam Á bắt đầu kiếm được “thùng vàng thứ nhất” trong buôn bán đối ngoại, họ đã phát hiện ra giá trị của quần đảo Nam Sa, nhưng vào lúc ấy chính quyền Đài Loan vừa bị đuổi ra khỏi Liên Hợp Quốc, mình lo cho mình còn chưa xong. Đại lục Trung Hoa thì vừa mới thoát khỏi các thương tích của Cách mạng Văn hóa, hải quân Trung Quốc hồi ấy chẳng qua chỉ mới là đội cảnh vệ ven biển, thiếu khả năng viễn chinh tối thiểu. Hồi ấy tại quần đảo Nam Sa, trừ đảo Thái Bình có quân đồn trú của Đài Loan ra, còn lại đều là những “đảo không người”. Miếng mỡ để trước mặt sao lại không giành lấy? Huống chi là bấy giờ nguyên tắc “Chiếm trước” đã ra lò, ai giành được thì là của người ấy! Anh nói [đảo này] là của anh hả, xin lỗi nhé, thế ai bảo anh không đưa quân ra giữ lấy nó?
Như vậy đấy, Trung Quốc chiếm ưu thế về nguyên tắc “Lịch sử” nhưng lại thiếu những chứng cớ được hệ thống luật biển hiện đại chấp nhận, mà hai nguyên tắc “Thềm đại lục vươn ra” và “Chiếm trước” lại trở thành có lợi cho các quốc gia Đông Nam Á mà bất lợi cho Trung Quốc. Trên tầng nấc pháp lý, vấn đề Nam Sa đã rơi vào tình thế bị động cực kỳ nghiêm trọng [đối với Trung Quốc].
Nói thẳng ra, giả thử bây giờ nổ ra một cuộc chiến tranh xung quanh quần đảo Nam Sa ở Nam Hải, thì trên toàn thế giới có lẽ chỉ có 1,3-1,4 tỷ người [ý nói người Trung Quốc và người Hoa] cho rằng Trung Quốc không phải là kẻ xâm lược!

Đọc thêm...

Hot (焦点)