东海修正主义趋势(第一期)
07:30 |
最近,在谈判桌上,中国与东盟各国就《东海行为准则》举行谈判,而在实地,中国舰只与地区国家如越南、马来西亚船只相互“追逐”。东南亚媒体发表文章概述东海这种动态时指出,美国在地区的作用与太势正在衰落,基于国际法确认的原则基础上的地区秩序正在衰弱。事出有因,而主要原因是北京修正主义与其日益强悍的态度。东海的这一态势可视为印度洋-太平洋区域军事灼热的危险先例。这一评价让地区研究界及关注事态发展的人们不禁要问,东海修正主义从何而来,该地区如何应对此种主义带来日益加剧的不安定?
修正主义早已存在。它曾在一些国家横行,尤其是冷战时期。它造成的巨大痛苦与损失最终落在政治精英豢养这种主义的国家老百姓头上。原以为它已经被人们丢弃在历史垃圾桶里,不曾想它竟然在二十一世纪初出现在东海。地区媒体认为其出现的原因有二。一是印-太地区国家这些年来的经济依赖程度日益加深,地区崛起大国中国得以重新审视国际关系的本质和基于国际条约与国际法原则的秩序。这被视为主观原因。二是,美国“忽略”了这个地区,原因是美国忙于全球反恐和继之而来的2007-2008全球金融危机,致使该地区各国间政治权力与军事力量对比迅速改变,尤其是中国。这是客观原因。
有必要进一步说说上述主观及客观原因。主观方面,中国追随社会主义道路,从理论上讲,中国必然是一个社会民主、公平、文明、与各国保持平等外交的国家。按理说中国的发展也是他国的发展,而不只是为了中国自身的利益。用中国人经常挂在嘴边的话来说就是“中国走合作共赢之路”。遗憾的是上述美景不知体现在何方,而中国在东海的作为没有体现出这种美景。中国经常声称的社会主义制度与国际关系中的“友好共赢”早已风马牛不相及。客观方面,奥巴马时期的“亚太再平衡”战略已失去效力,只因美国没有坚决地钳制中国,美对华政策一味奉行和平主义。结果,中国违背国际法的修正主义日益猖獗,威胁地区国家的政策日益强硬。地区一些国家对美国的实力与安全保护伞的信心日益下降,基于国际法规则的秩序日益被磨损,日益混乱和猖獗的军阀行动填补了地区的真空地带。
研究界认为中国在东海实施的修正主义突出表现在这两个方面:
第一、中国依仗经济快速发展和国防军事潜力连续增长,在地区和国际日益表现出自信、决绝的态度。实践表明,地区秩序被“动摇”始于美国的反恐战争,以及美中亚洲较量自2007-2008金融危机后日益激烈。北京原先的“韬光养晦”战略及与各国“拉感情”的政策,至此变成“出人头地”战略,随之而来的是不断恫吓各方。导致美中东南亚分道扬镳的问题正是东海领土主权争端。
尽管东盟以及作出了最大努力,但中国违背《东海各方行为宣言》的行动日益嚣张,违背1982年联合国海洋法公约的态度日益明目张胆,竟然在东海大规模填海造陆然后建人造岛和大搞军事化。
在区域范围内,中国2012年抢占菲律宾的斯卡伯勒沫滩,这是具有“转折点”性质的事件。奥巴马政府出面调停,要求北京和马尼拉同时撤出该海滩,但遭到失败。“攻克点”在2013年-2016年中国迅速扩建面积1300公顷的人造岛并把它变成距中国海岸数百公里的前哨阵地和监视东海一切动静的桥头堡。菲律宾一家报社2013年7月31日刊文发出北京将在长沙群岛浅滩及暗礁填海造陆的警告,但直到2015年2月人造岛的全貌图才获得公布。在这期间,美国及其盟友不知有意还是无意视而不见,对国际社会要求他们制止中国填海造陆的呼声置若罔闻。比如说,要求他们出动海军封锁海面,但这个时候人造岛已成了既成事实。
第二、中国利用各国在钳制中国行动方面的“龟缩”态度,有系统地落实违背国际法的一系列措施,旨在实现夺取东海主权的野心。中国政府及其喉舌大肆宣传说:中国是美国及其盟友非法钳制政策的“受害者”,同时举例诉说美国的欺负行径:美海军陆战队在澳大利亚达尔文附近驻军,美国在东海进行航行自由宣示行动等等。但是,对北京在东海的非法活动几乎没有任何有效的钳制行动,所以北京在东海的非法活动更加猖狂,更加嚣张。列举几个北京明目张胆违反国际法和地区基于法律的秩序的例子,这些例子甚至比北京违背1982年联合国海洋法公约的行动更为严重。这就是中国1974年抢占越南的黄沙群岛,1988年侵占越南长沙群岛的一些礁滩,2012年以武力抢夺菲律宾的斯卡伯勒沫滩。这还没把中国2014年派遣海洋石油981号钻井平台侵犯越南专属经济区及大陆架,2016年在印尼海域偷捕鱼,2019年5月骚扰马来西亚在卢科尼亚浅滩的勘探船等事件计算在内。
Xu hướng theo chủ nghĩa xét lại ở Biển Đông (phần 1)
07:17 |
Gần đây, trước bối cảnh
trên bàn hội nghị, Trung Quốc và các nước thuộc Hiệp hội các quốc gia Đông Nam
Á (ASEAN) nỗ lực đàm phán hướng tới việc cho ra đời Bộ quy tắc ứng xử ở Biển
Đông (COC), nhưng trên thực địa lại diễn ra những cuộc “rượt đuổi” lẫn nhau giữa
tàu thuyền của Trung Quốc với tàu thuyền của các nước trong khu vực như Việt
Nam, Malaysia,… báo chí trong khu vực Đông Nam Á đã có một số bài viết đưa ra
đánh giá tổng quát về tình hình khu vực Biển Đông là: Vai trò và vị thế của Mỹ ở
khu vực đang sa sút; trật tự dựa trên nguyên tắc đã được luật pháp quốc tế thừa
nhận đang suy yếu do nhiều nguyên nhân, trong đó chủ nghĩa xét lại và thái độ
quyết đoán ngày càng tăng của Bắc Kinh là nguyên nhân chính. Cách thức này đang
diễn ra ở Biển Đông có thể coi là một tiền lệ nguy hiểm cho các điểm nóng quân
sự khác trên khắp Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương. Đánh giá trên khiến giới nghiên
cứu khu vực và nhiều người quan tâm buộc phải đặt ra câu hỏi là chủ nghĩa xét lại
ở Biển Đông từ đâu mà ra và khu vực này nên làm gì để ứng phó với bất ổn ngày
càng tăng do thứ chủ nghĩa này mang lại?
Chủ nghĩa xét lại vốn
dĩ đã có từ lâu và đã từng hoành hành ở nhiều quốc gia, nhất là trong thời kỳ
Chiến tranh lạnh. Nó gây ra không ít đau khổ, thiệt hại mà xét cho cùng là đổ
lên đầu người dân ở những nước có giới tinh hoa chính trị dung dưỡng nó. Những
tưởng nó đã bị người ta quẳng vào sọt rác lịch sử rồi. Thế mà, cớ sao sang đến
những năm đầu của thế kỷ XXI mà thứ chủ nghĩa này lại hiện diện ở Biển Đông mới
lạ. Lý giải cho vấn đề này, báo chí khu vực cho rằng có hai lý do: Một là,
trong những năm qua, trên khắp Thái Bình Dương - Ấn Độ Dương, sự phụ thuộc ngày
càng tăng về kinh tế đã cho phép quốc gia đang nổi lên trong khu vực là Trung
Quốc bắt đầu xét lại bản chất của các mối quan hệ quốc tế và trật tự dựa trên
nguyên tắc lấy sự tuân thủ luật pháp dựa trên hiệp ước quốc tế làm nền tảng.
Đây xem như là lý do chủ quan. Hai là, việc Mỹ “phớt lờ” khu vực này do bị chi
phối bởi cuộc chiến chống khủng bố toàn cầu, sau đó là cuộc khủng hoảng tài
chính toàn cầu 2007-2008 đã tạo điều kiện cho sự dịch chuyển nhanh chóng cán
cân quyền lực chính trị và sức mạnh quân sự của các nước khác tại khu vực này,
nhất là Trung Quốc. Rõ ràng đây là lý do khách quan.
Cần phải nói thêm một
chút về lý do chủ quan và khách quan trên. Về chủ quan, Trung Quốc là một nước
theo con đường xã hội chủ nghĩa, xét về mặt lý thuyết, đó phải là quốc gia có
xã hội dân chủ, công bằng, văn minh; có quan hệ đối ngoại bình đẳng với các nước;
sự phát triển của Trung Quốc cũng là sự phát triển của các nước khác, chứ không
phải vì lợi ích riêng của Trung Quốc. Nói như người Trung Quốc thường tuyên
truyền là “Trung Quốc đi trên con đường hợp tác để cùng thắng”. Đáng tiếc, những
điều tốt đẹp trên được thể hiện ở đâu đó, chứ nhìn vào những gì thể hiện qua
các hành động của Trung Quốc ở Biển Đông thì không ai thấy, nghĩa là bản chất
đích thực về một chế độ xã hội chủ nghĩa trong quan hệ quốc tế mà nước này thường
tuyên bố là “hữu hảo, cùng thắng” đã không còn đúng nguyên nghĩa của nó. Còn về
lý do khách quan, chiến lược “tái cân bằng” sang khu vực châu Á - Thái Bình
Dương của Mỹ dưới thời cựu Tổng thống B.Obama đã bị “bắt bài” và trở nên vô dụng
do Mỹ không kiên quyết trong việc kiềm chế Trung Quốc, mà ngược lại đã thi hành
chính sách chủ nghĩa hòa bình với Bắc Kinh. Kết quả là, các chính sách theo chủ
nghĩa xét lại trái với luật pháp quốc tế, sự hăm dọa đối với các nước khác
trong khu vực của Trung Quốc ngày càng nổi lên.Trong khi đó, niềm tin của một số
nước trong khu vực vào sức mạnh và chiếc ô an ninh của Mỹ ngày càng giảm sút,
trật tự dựa trên nguyên tắc luật pháp quốc tế dần bị xói mòn, một môi trường hỗn
loạn và quân phiệt hơn đang lấp vào chỗ trống ở khu vực.
Từ đó, không khó để giới
nghiên cứu nhận ra hai biểu hiện nổi bật theo xu hướng của chủ nghĩa xét lại mà
Trung Quốc đã thực thi ở Biển Đông:
Thứ nhất, dựa vào tốc độ
phát triển kinh tế và tiềm lực quốc phòng, quân sự liên tục gia tăng, Bắc Kinh
ngày càng thể hiện thái độ tự tin, quyết đoán hơn trên cả bình diện khu vực lẫn
quốc tế.Thực tế cho thấy, trật tự khu vực bị “lung lay” có lẽ bắt đầu bằng cuộc
chiến chống khủng bố của Mỹ, những cạnh tranh lẫn nhau ở châu Á giữa Trung Quốc
và Mỹ ngày càng trở nên quyết liệt hơn kể từ sau cuộc khủng hoảng tài chính
2007-2008. Chiến lược “Giấu mình chờ thời” với chính sách “gây cảm tình” ban đầu
của Bắc Kinh với các nước kể từ đó đã được thay thế bằng chiến lược “Xuất đầu lộ
diện” đi cùng những hành động mang tính hăm dọa nhiều hơn và vấn đề gây chia rẽ
lớn nhất giữa Mỹ, Trung trong khu vực Đông Á chính là những tranh chấp chủ quyền
lãnh thổ ở Biển Đông.
Bất chấp mọi nỗ lực của
ASEAN, Trung Quốc đã vi phạm đáng kể các chuẩn mực theo Tuyên bố về ứng xử của
các bên ở Biển Đông (DOC), sau đó nước này cũng liên tục vi phạm một cách trắng
trợn Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS 1982) thông qua những
hoạt động như bồi đắp, xây dựng và quân sự hóa các đảo nhân tạo trên quy mô lớn
ở Biển Đông.
Trong phạm vi khu vực,
việc Trung Quốc chiếm đoạt bãi cạn Scarborough từ tay Philippines vào năm 2012
là một sự kiện “mang tính bước ngoặt”. Mọi nỗ lực của Chính quyền Tổng thống
B.Obama trong việc dàn xếp để Bắc Kinh và Manila cùng rút khỏi bãi cạn này đã
thất bại. Tuy nhiên, điểm “chốt hạ” quan trọng là việc trong vòng trên dưới 3
năm, Bắc Kinh đã nhanh chóng xây dựng các đảo nhân tạo có diện tích gần 1.300
ha từ đầu năm 2013 đến năm 2016, giúp cho Trung Quốc dễ dàng triển khai các tiền
đồn quân sự cách xa bờ hàng trăm hải lý để kiểm soát “nhất cử, nhất động” trên
Biển Đông. Việc làm trên đã được một bài báo của Philippines ngày 31/07/2013 lần
đầu tiên “báo động sớm” về khả năng Trung Quốc bồi lấp các bãi cạn, đảo chìm ở
Trường Sa, nhưng phải đến tháng 02/2015, hình ảnh toàn diện về các đảo nhân tạo
mới được công khai. Vào thời điểm đó, Mỹ và các đồng minh của họ, dù vô tình
hay hữu ý, đã phớt lờ áp lực quốc tế yêu cầu họ phải ngăn chặn hành động xây dựng
đảo - chẳng hạn như phong tỏa bằng hải quân, khi vấn đề xây dựng đảo vào thời
điểm đó là sự đã rồi.
Thứ hai, lợi dụng sự
“co thủ” trong các hoạt động kiềm chế của các nước, Trung Quốc đã thực thi có hệ
thống nhiều biện pháp trái với luật pháp quốc tế để thực hiện tham vọng về chủ
quyền ở Biển Đông. Chính phủ Trung Quốc và truyền thông nhà nước này thường
xuyên tuyên truyền rằng, Bắc Kinh là “nạn nhân” của các chính sách kiềm chế phi
lý của Mỹ và đồng minh. Họ đưa ra một số dẫn chứng như việc đồn trú của lực lượng
lính thủy đánh bộ Mỹ ở Darwin/Australia, các hoạt động tự do hàng hải (FONOP) của
Mỹ ở Biển Đông... để “la làng” về sự “bắt nạt” của Mỹ. Tuy nhiên, hầu như không
có sự kiềm chế hiệu quả nào đối với các hành vi bất hợp pháp của Bắc Kinh ở Biển
Đông, vì thế họ càng liều lĩnh và trắng trợn hơn trong các hành động này. Có thể
điểm lại những vi phạm trắng trợn của Bắc Kinh đối với luật pháp quốc tế và trật
tự dựa trên nguyên tắc, thậm chí còn nặng nề hơn so với việc Bắc Kinh vi phạm
UNCLOS 1982.Đó là: Năm 1974, đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam; năm
1988, đánh chiếm 6 đảo đá của Việt Nam ở quần đảo Trường Sa; năm 2012, chiếm đoạt
bãi cạn Scaborough của Philippines bằng lực lượng quân sự. Ngoài ra, chưa kể
các hành động hỗ trợ tàu Hải Dương 981 xâm phạm Vùng đặc quyền kinh tế và thềm
lục địa Việt Nam năm 2014; đánh cá trộm tại vùng biển Indonesia năm 2016; quấy
rối tàu thăm dò dầu khí của Malaysia tại bãi Luconia tháng 5/2019…
优先加强越老特殊团结关系
22:24 |
人民军队:应越南政府总理阮春福的邀请,老挝人民民主共和国政府总理通伦•西苏里率领老挝政府高级代表团对越南进行访问并共同主持召开于2020年1月2日至4日在河内举行的越老政府间委员会第42次会议。
越老政府间委员会第42次会议举行的目的在于继续肯定不断加强越老两国的伟大友谊、特殊团结和全面合作关系,加强两国之间政治互信,打造指导推进展开高层协议、促进两国未来时间合作关系发展的统一渠道的对外优先。
越南和老挝于1962年9月5日正式建交,两国人民长期以来已拥有始终如一的传统友好关系。尤其是,自从印度支那共产党,后来是越南共产党和老挝人民革命党诞生与领导后,两国关系日益得到加强和发展并不断走向深入。越老两国一直携手并肩,同甘共苦,铸就两国伟大友谊、特殊团结及全面合作的关系,成为两国无价之宝和宝贵财富,是各自国家革命取得成功的至关重要因素。回顾该历史旅程,我们对两国民族罕见的特殊关系的发展历程感到骄傲。由胡志明主席、凯山•丰威汉主席、苏发努冯主席及两国历届领导和历代人民精心培育、保护和弘扬的越老传统友好关系已发展成为特殊关系。
该关系体现出两国人民团结、携手抗击共同敌人、建设平等、自主、友谊、互利共赢的迫切愿望,也是两国全面合作、贯穿各历史阶段的可持续关系,为越老两国昔日争取民族独立自由和今日建国卫国事业及走上社会主义道路中取得历史性胜利做好准备。
越老政府间委员会第42次会议在两国和两国人民之间的伟大友谊、特殊团结和全面合作关系多方面上正继续得到巩固与深入务实的背景下举行。两党、两国领导人互访、各级代表团互访频繁。尤其是,2019年2月越共中央总书记、国家主席阮富仲对老挝进行正式访问和老挝人民民主共和国政府总理通伦•西苏里2019年10月对越南进行正式访问。两国领导积极关心和指导开展2019年各项高级协约。
与此同时,越老国防安全、对外合作日益紧密并取得积极效果,为维护各自国家的政治稳定、社会治安作出贡献。经济贸易与投资合作得到两国的关心和促进。文化、教育培训、卫生、科技及其它领域的合作取得诸多可喜结果,在革新和发展事业中起着互补作用。两国经常在国际和地区尤其是在东盟、联合国、大湄公河次区域(GMS)合作机制等框架内的合作上紧密配合和互相支持,为维护世界和地区的和平、稳定、合作及发展作出贡献。
我们热烈欢迎西苏里总理对越南进行访问和共同主持越老政府间委员会第42次会议。我们相信,此次会议将取得圆满成功,为将越老特殊团结关系结下硕果、造福两国人民作出贡献。
Không ngừng phát triển quan hệ đoàn kết đặc biệt Việt Nam - Lào
21:23 |
QĐND - Nhận lời mời của Thủ tướng Chính
phủ Nguyễn Xuân Phúc, Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào
Thongloun Sisoulith dẫn đầu đoàn đại biểu cấp cao Chính phủ Lào sang thăm và đồng
chủ trì Kỳ họp lần thứ 42 Ủy ban liên Chính phủ Việt Nam-Lào tại Hà Nội, từ
ngày 2 đến 4-1-2020.
Việc tổ chức Kỳ họp lần thứ 42 Ủy ban
liên Chính phủ Việt Nam-Lào nhằm tiếp tục khẳng định ưu tiên đối ngoại của cả
hai nước là không ngừng phát triển mối quan hệ hữu nghị vĩ đại, đoàn kết đặc biệt
và hợp tác toàn diện Việt Nam-Lào; tăng cường sự tin cậy chính trị giữa hai nước;
tạo một kênh thống nhất chỉ đạo thúc đẩy triển khai các thỏa thuận cấp cao,
tăng cường quan hệ hợp tác giữa hai nước trong thời gian tới.
Mặc dù Việt Nam và Lào chính thức thiết
lập quan hệ ngoại giao vào ngày 5-9-1962 nhưng nhân dân hai nước đã có mối quan
hệ truyền thống, thủy chung, gắn bó từ lâu đời. Đặc biệt, từ khi có sự ra đời
và lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương, sau này là Đảng Cộng sản Việt Nam và
Đảng Nhân dân Cách mạng Lào, mối quan hệ đó ngày càng mở rộng, phát triển và được
nâng lên về chất. Hai dân tộc Việt Nam và Lào luôn kề vai sát cánh bên nhau, đồng
cam cộng khổ, xây đắp nên mối tình hữu nghị vĩ đại, đoàn kết đặc biệt và hợp
tác toàn diện, trở thành tài sản vô giá, nguồn lực quý báu và là nhân tố cực kỳ
quan trọng bảo đảm sự thành công của cách mạng mỗi nước. Nhìn lại chặng đường lịch
sử ấy, chúng ta có thể tự hào về quá trình hình thành và phát triển của mối
quan hệ đặc biệt hiếm có giữa hai dân tộc. Đó là mối quan hệ phát triển bền vững
từ quan hệ truyền thống thân thiết trở thành quan hệ đặc biệt do Chủ tịch Hồ
Chí Minh, Chủ tịch Kaysone Phomvihane, Chủ tịch Souphanouvong đặt nền móng xây
dựng, được các thế hệ lãnh đạo, nhân dân hai nước dày công vun đắp. Đó là mối
quan hệ thể hiện những ước vọng tha thiết của nhân dân hai nước là đoàn kết,
giúp nhau chống kẻ thù chung, xây dựng quan hệ bình đẳng, tự chủ, hữu nghị, hợp
tác cùng có lợi giữa hai quốc gia. Đó là mối quan hệ hợp tác toàn diện, bền vững
mang tính xuyên suốt các giai đoạn lịch sử, các chặng đường, bước trước chuẩn bị
cho bước sau tiếp tục phát triển đưa tới những thắng lợi lịch sử của hai nước
Việt Nam và Lào trong sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc trước đây cũng
như sự nghiệp đổi mới, xây dựng đất nước cùng đi lên chủ nghĩa xã hội hiện nay.
Kỳ họp lần thứ 42 Ủy ban liên Chính phủ
Việt Nam-Lào diễn ra trong bối cảnh mối quan hệ hữu nghị vĩ đại, đoàn kết đặc
biệt và hợp tác toàn diện giữa hai nước đang tiếp tục được củng cố vững chắc,
ngày càng đi vào chiều sâu trên tất cả các lĩnh vực. Lãnh đạo cấp cao hai nước
thường xuyên gặp gỡ dưới nhiều hình thức; việc trao đổi đoàn các cấp được duy
trì đều đặn, gần đây nhất phải kể đến chuyến thăm chính thức Lào của Tổng Bí
thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng (tháng 2-2019) và chuyến thăm chính thức Việt
Nam của Thủ tướng Thongloun Sisoulith (tháng 10-2019). Việc triển khai thực hiện
các thỏa thuận cấp cao trong năm 2019 cũng được lãnh đạo hai nước quan tâm chỉ
đạo quyết liệt.
Cùng với đó, hợp tác quốc phòng, an ninh
và đối ngoại Việt Nam-Lào ngày càng chặt chẽ, đạt hiệu quả tích cực, góp phần bảo
đảm ổn định chính trị, an ninh, trật tự an toàn xã hội ở mỗi nước. Hợp tác kinh
tế, thương mại và đầu tư tiếp tục được hai nước quan tâm thúc đẩy. Hợp tác văn
hóa, giáo dục-đào tạo, y tế, khoa học-kỹ thuật và các lĩnh vực khác thu được
nhiều kết quả tích cực, bổ sung những lợi thế cho nhau trong quá trình đổi mới
và phát triển. Hai nước cũng thường xuyên phối hợp chặt chẽ, hiệu quả, ủng hộ lẫn
nhau trong các vấn đề quốc tế và khu vực, nhất là trong khuôn khổ hợp tác
ASEAN, Liên hợp quốc, các cơ chế hợp tác Tiểu vùng Mê Công, góp phần giữ vững
hòa bình, ổn định, hợp tác, phát triển ở khu vực và trên thế giới.
Nhiệt liệt chào đón Thủ tướng Thongloun
Sisoulith sang thăm và đồng chủ trì Kỳ họp lần thứ 42 Ủy ban liên Chính phủ Việt
Nam-Lào tại Hà Nội, chúng ta tin tưởng chắc chắn rằng kỳ họp sẽ thành công tốt
đẹp, góp phần quan trọng đưa quan hệ đoàn kết đặc biệt Việt Nam-Lào không ngừng
đơm hoa kết trái vì lợi ích của nhân dân hai nước.
越南麻族的文化风俗
06:39 |
(人民报)在越南五十四个民族中,麻族约有四万多人口,分布在全国三十四个省市,但大部分居住在林同和同奈两省。多年来,麻族人主要以山地耕种为生,因此仍保留着带有浓郁民族色彩的文化信仰风俗。
与居住在西原地区的其他民族一样,麻族人的村寨称为“奔”。以前,每个“奔”只有五至十座长屋,是一个家族几十户人家的共同居住之地。屋中每户小家庭的房间内都有谷仓和炉灶。但今天生活发生了巨大变化,小家庭使用的短屋逐步取代长屋。与西原地区其他民族一样,麻族人也有自己的特色,这体现在用土锦布缝制的传统服装上。按传统风俗,九至十岁的麻族姑娘要由外婆、母亲传教土锦纺织技术。为织出一条好看的土锦,要经过种棉、捻线、染色、上架和纺织等多个环节。在以木板和竹板做成的简单、轻便的织布机上,麻族人织出了图案生动、鲜艳的土锦布。在土锦上刺绣草木、鸟类、高脚屋和迎春竿等麻族同胞的代表性图案。尽管现在普遍使用工业绣线,但麻族人仍保留着种棉、捻线、染色和纺织等方式及前辈传下来的传统图案纺织技术。五颜六色、图案丰富是麻族土锦服装的一大特色。这也是麻族土锦相比其他民族土锦产品的独特之处。
一代代麻族人以农业为生,在他们的观念中丰收或歉收、饥饿或温饱都由上天、稻神、林神、水神、水井神决定。这样的观念形成了为农业诸神举行祭祀仪式的信仰习俗。农业礼仪体现了人类与神灵之间的和谐。麻族人举行祭祀仪式旨在对各位神灵表示感恩,祈求风调雨顺,庄稼丰收,人人健康。麻族人为稻神举行祭祀仪式要花一个月时间准备,他们要立迎春竿、建一座小竹屋、准备足够的祭品和献祭动物。祭品包括羊、鸡、鸭和竹筒酒。麻族人认为,羊是神圣森林的代表、鸭是水的代表、鸡是日常生活的代表,所以在祭祀仪式中不能缺少这三种祭品。
与其他民族一样,现在由于种种客观和主观原因。麻族的一些传统文化被埋没了。以前,麻族的信仰为多神信仰,所以每一项耕作环节和人生的每个阶段都要举行祭祀礼仪。现在,很多麻族人不是多神信仰者,导致多种礼仪和节日消失了。近几年来,在各省文化部门的帮助下,麻族同胞重新重视保护和弘扬传统文化价值,尤其是各种礼仪和传统手工业。有麻族同胞定居的省份在实施“保护本地节日、文化、铜锣和民族乐器”提案过程中关心和维护少数民族同胞的许多优良传统。
Phong tục văn hóa dân tộc Mạ
05:38 |
(VOV5)
- Trong cộng đồng 54 dân tộc Việt nam, đồng
bào Mạ là dân tộc thiểu số với dân số khoảng trên 40 nghìn người, cư trú ở 34
tình thành phố trong cả nước, song phần lớn cư trú tại các tỉnh Lâm Đồng, Đồng
Nai. Từ bao đời nay, người Mạ sống chủ yếu làm nương rẫy, vì vậy đồng bào còn
giữ được nhiều phong tục tập quán tín ngưỡng văn hóa mang đậm dấu ấn của dân tộc
mình.
Cũng giống như các tộc người sinh sống ở
cao nguyên Tây Nguyên hùng vĩ, người Mạ sinh sống tập trung theo từng làng gọi
là Bon. Trước đây, mỗi Bon có từ 5-10 nhà sàn dài, là nơi cứ trú của gia đình lớn
hay nhiều gia đình nhỏ có cùng quan hệ huyết thống. Mỗi gia đình đều có kho lúa
và bếp ăn riêng. Tuy nhiên cuộc sống ngày nay đã có nhiều thay đổi , những ngôi
nhà sàn dài không còn nhiều mà thay vào đó là những ngôi nhà sàn ngắn dành cho
các gia đình nhỏ. Cũng như các dân tộc ở Tây Nguyên, người Mạ có nét bản sắc riêng,
thể hiện trước hết ở các bộ trang phục truyền thống dệt bằng vải thổ cẩm.
Theo phong tục truyền thống, những cô
gái Mạ lên 9, lên 10 tuổi đã được Bà, Mẹ truyền nghề, dạy cách dệt thổ cẩm. Để
dệt nên tấm thổ cẩm đẹp mắt, người Mạ phải thực hiện rất nhiều công đoạn, từ trồng
bông, xe sợi, nhuộm màu, lên khung rồi mới ngồi vào dệt. Chỉ với một bộ khung gồm
nhiều thanh gỗ và tre đơn sơ, gọn nhẹ nhưng người Mạ đã tạo nên những tấm thổ cẩm
với những đường nét hoa văn sinh động, màu sắc bắt mắt. Trên tấm thổ cẩm, bà
con thường chọn dệt những hình thù đặc trưng của đồng bào như: cây cối, chim,
muông thú, nhà sàn, cây nêu… Ngày nay, dù chỉ màu công nghiệp đã trở nên phổ biến
nhưng bà con vẫn giữ cách trồng bông, xe sợi, nhuộm màu và dệt hoa văn truyền
thống của ông, bà để lại.
Sự đa dạng về màu sắc, phong phú về hoa
văn đã tạo nên nét đặc sắc trong trang phục thổ cẩm của đồng bào Mạ. Đó cũng là
nét đẹp riêng có của thổ cẩm Mạ so với thổ cẩm của đồng bào các dân tộc khác
trong cả nước.
Người Mạ từ bao đời sinh sống bằng nông
nghiệp, họ quan niệm được mùa hay mất mùa, đói hay no là đều do Giàng (trời) và
do thần lúa, thần rừng , thần nước, thần giếng định đoạt. Từ quan niêm trên đây
đã hình thành những phong tục tập quán tín ngưỡng các nghi lễ cúng tạ ơn các vị
thần nông nghiệp. Những nghi lễ nông nghiệp thể hiện sự hài hòa giữa con người
với các đấng thần linh.Đồng bảo tổ chức các nghi lễ cũng để tạ ơn các vị thần,
cầu cho mưa thuận gió hòa vụ mùa được tươi tốt con người được khỏe mạnh.Nghi lễ
cúng tạ ơn thần lúa được chuẩn bị cả tháng trời đồng bào dựng trang trí cây
nêu, một ngôi nhà bằng tre nhỏ và chuẩn bị đủ lễ vật với những con vật hiến
sinh để làm lễ cúng. Lễ vật
gồm các con dê, gà, vịt và các ché rượu cần. Theo quan niệm của người Mạ: dê là
đại diện cho rừng thiêng, vịt đại diện cho nước và gà đại diện cho cuộc sống
thường nhật, vì thế 3 lễ vật này không thể thiếu trong lễ cúng.
Cộng đồng người Mạ
có vốn văn học nghệ thuật dân gian khá phong phú gồm nhiều truyền thuyết, truyện
cổ và những bài dân ca trữ tình gọi là "tam bớt".
Nhạc cụ truyền thống là bộ chiêng đồng 6
chiếc không núm. Khi hoà tấu có trống bịt da trâu đánh giáo đầu, giữ nhịp và đổ
hồi trước khi kết thúc. Con trai Mạ thường thổi khèn bầu, sáo trúc, tù và bằng
sừng trâu.Những sinh hoạt văn hóa văn nghệ thông qua những nhạc cụ độc đáo như:
chiêng, trống, khèn bầu…trong đó nghệ thuật đánh cồng chiêng có ý nghĩa đặc biệt
trong đời sống tinh thần của bà con, theo quan niệm của người Mạ xưa, các
chiêng cũng có đời sống tinh thần như con người có luc vui, lúc buồn,,,giống
như con người,
Cũng như nhiều dân tộc khác, ngày nay do
nhiều lý do khách quan và chủ quan, một số phong tục văn hóa truyền thống của
bà con có phần bị mai một. Trước đây, bà con theo tín ngưỡng đa thần nên thường
có nhiều lễ nghi theo thời vụ, vòng đời con người. Hiện nay, nhiều hộ không
theo tín ngưỡng đa thần nữa nên có rất nhiều nghi lễ, lễ hội mất dần.
Những năm gần đây, được sự giúp đỡ của
ngành văn hóa các tỉnh nà con người Mạ cũng đã chú trọng vào việc bảo tồn và
phát huy những giá trị văn hóa truyền thống, nhất là các lễ nghi và nghề truyền
thống. Tại các tỉnh có đồng bào Mạ sinh sống, với việc thực hiện đề án “Bảo tồn
lễ hội, hoa văn, cồng chiêng và nhạc cụ các dân tộc tại chỗ” nhiều phong tục
văn hóa tốt đẹp của bà con đã được quan tâm, bảo tồn bền vững.
复原和保存金黄民间画的价值
07:05 |
(VOV) - 金黄民间画于18世纪末在河内怀德县云耕乡问世。这种民间画常在每年农历10月至12月开始制作,以满足当时京城人对年画的需求。19世纪初,金黄画蓬勃发展但后来因为1915年发生的水灾而失传。出于恢复金黄民间画的愿望,河内陶瓷博物馆馆长、收藏家阮氏秋和与同事一起复原金黄画刻板和作品。
金黄民间画又称红画,因为其通常画在红条纸上,符合春节气氛和人民祈求吉祥、温饱、幸福生活的愿望。因此,每到春节,除了东湖画外,画在红条纸上的进财进禄、猪、鸡等各种金黄画,也给每个家庭带来鲜艳的色彩和喜气洋洋的春节气氛。
十月收获季一过,天气转凉,正是金黄村民开始制作年画的时候。大家在纸扎行街购买红条纸,用水弄湿刻板,然后把红条纸放在上面,用干丝瓜网轻轻擦拭,使刻板上的图案凸出来,然后在太阳下晒干。等画完全干了以后,画家才涂上颜色,点缀色彩,使整幅画更显生动夺目。
除了使用红条纸做底,金黄画的另一个特点是在画的一角写上一首诗和防邪魔符。要具备一定知识的艺人才能在画上展现出自己的才华。金黄画图案种类丰富,有画猪的、画鸡的,还有画进士的,具有祝愿村里的人科举及第,或生意兴隆等意义。比如画鸡,意思是希望后代多福.
虽然具有民间画的特殊意义,但金黄画只存在了短短的时间。在1915年发生的水灾中,连莫堤决堤,整个村庄被淹没,许多刻板被冲走了。后来因庄稼歉收、饥馑、战乱等,村里的艺人越来越少。生活的困难也让人民渐渐失去了对年画的兴趣。
金黄民间画具有特殊性,专门为平民服务,因此,每逢春节到来,其能够满足他们的精神需求。复活金黄民间画本以为是不可能的事,但因为民间艺术爱好者的不断努力,具有民间魂骨的这些作品又有机会出现在公众面前。
Sự hồi sinh của dòng tranh dân gian Kim Hoàng
07:03 |
(VOV) – Tranh dân gian
Kim Hoàng hình thành từ nửa sau thế kỷ 18. Giống với một số dòng tranh khác,
tranh Kim Hoàng có những chủ đề quen thuộc với đời sống người dân nông thôn và
cũng có những thể loại như tranh Tết, tranh thờ… đáp ứng được những nhu cầu đa
dạng, từ trang hoàng nhà cửa nhân dịp Tết đến Xuân về, cầu cho phúc lộc đầy
nhà, cho đến xua đuổi tà ma, giữ nhà yên ấm.
Nhưng nếu như tranh
Đông Hồ là tranh của làng quê mộc mạc, tranh Hàng Trống là tranh của chốn kinh
kỳ tinh mỹ, vậy thì tranh Kim Hoàng là là tranh dân gian của một làng quê giàu
truyền thống Nho học, thấm đượm bên trong mình cả sự thô mộc lẫn tinh tế. Theo
đó, tranh Kim Hoàng có một đặc điểm riêng mà các dòng tranh dân gian khác không
có, đó là những câu thơ Hán tự được viết theo lối chữ thảo trên góc trái bức
tranh, vì thế thơ và hình vẽ đã tạo nên một chỉnh thể hài hoà, chặt chẽ. Không
sử dụng giấy điệp như tranh Đông Hồ hay giấy dó như tranh Hàng Trống mà được in
trên nền giấy đỏ, giấy hồng điều hoặc giấy vàng tàu, nên tranh Kim Hoàng còn có
tên gọi khác là “tranh đỏ”.
Ở tranh Kim Hoàng, các
nghệ nhân chỉ sử dụng một bản khắc để in nét đen lên giấy rồi dựa vào đó mà tự
do chấm phá màu sắc theo cảm xúc riêng. Do đó, mỗi bức tranh có sự phóng khoáng
và diện mạo riêng, dù cùng được in ra từ một bản khắc. Điều này tạo nên giá trị,
điểm ưa chuộng nhất của tranh Kim Hoàng thời đó.
Tranh Đông Hồ và tranh
Hàng Trống và tranh ở miền Nam vẽ một lần trên khung là xong nhưng tranh Kim
Hoàng thì phải 3 lần. Tranh khi in ở trong khuôn ra thì in sơ lược trên tờ giấy
đỏ nhưng phải tô thêm những nét đặc biệt, sau khi tô thêm thì phải làm bài thơ
trên đó thì mới hoàn thiện bức tranh được.
Dù mang nhiều giá trị
dân gian đặc sắc nhưng do thiên tai, thời cuộc, tranh dân gian Kim Hoàng chỉ tồn
tại trong khoảng thời gian ngắn. Rồi cứ như vậy, nghề làm tranh ở Kim Hoàng đã
biến mất trong suốt bảy mươi năm, cho đến tận mấy năm gần đây, nhờ có một dự án
phục dựng, dòng tranh Kinh Bắc này mới một lần nữa xuất hiện.
Với nội dung dân dã,
cách trình bày tinh tế, kĩ thuật in độc đáo, dòng “tranh đỏ” Kim Hoàng đã có một
thời là món ăn tinh thần rất đáng quý của người dân “xứ Đoài mây trắng” và cả
vùng đồng bằng Bắc bộ. Vì vậy, việc hồi sinh dòng tranh giấy đỏ Kim Hoàng bị lãng
quên cũng đồng nghĩa với khôi phục, bảo tồn các giá trị văn hóa dân gian đặc sắc,
góp phần làm phong phú đời sống tinh thần của người dân mảnh đất Thăng Long- Hà
Nội.
Hot (焦点)
-
胡志明是二十世纪越南革命杰出的马克思主义思想家。他老人家的思想是马克思列宁主义在符合越南的条件和历史背景基础上的运用、发展与创新,体现着时代精神及现代与当代世界的运动与发展趋势。 1 、胡志明思想、道德、风格体系的道德榜样。他老人家的思想合成了越南革命及革命之路的战略策...
-
为维护国家海岛主权,越南历代封建王朝都着重投资建设强大的水军力量。越南丁、李、陈、黎、阮等王朝的水军力量不断得到加强和完善。这支水军为捍卫祖国事业作出了巨大贡献,在各个阶段留下了历史烙印。 至今还收藏的古籍显示,越南历代封建王朝早已对黄沙群岛和长沙群岛确立主权、实施...
-
1954 年《日内瓦协议》签署之后,越南暂时被分成南北两方不同政治制度的政体。据此,越南北纬 17 度以南的领土(包括黄沙、长沙两群岛)由越南共和国政府管辖。根据《协议》规定,法国殖民者被迫撤离越南之后,西贡政权立即派遣海军力量接管黄沙、长沙两群岛并对其行使主权。与此同时,...
-
(VOVWORLD) - 越南伟大领袖胡志明主席的思想、道德、作风、革命生涯是越南全党、全民学习和实践胡志明道德榜样的生动和具有说服力的楷模。至今,越南开展学习和实践胡志明道德榜样运动已有 8 年并取得多项重要结果。 胡志明主席在其革命生涯中牺牲个人利益,为祖国和人...
-
越南的黄沙群岛位于东海(中国称南海)北边,处于北纬 15°45′ 至 17°15′ 、东经 110° 至 113° ,距越南广义省李山岛约 120 海里。黄沙群岛由 37 多个岛、洲、礁和沙滩组成,分为西面和东面两个群岛。东面为安永群岛(中国称宣德群岛),由 12 个岛、洲...
-
数十年来,中国人拿出大量书籍、资料和史料,企图证明从两千年前的汉朝起,中国人就发现了西沙和南沙(即越南的黄沙群岛和长沙群岛),从而说古代中国发现西沙南沙群岛就足够证明中国对西沙和南沙的不可争议的领土主权。据说,中国人最迟于唐宋发现南沙群岛至今,就一直在岛上及其海域从事生产活...
-
越南对黄沙、长沙两座群岛的主权不仅在越南古籍和古文献中有记载,而且还出现在西方航海家和传教士等的书籍、报纸、地图、日记、航路指南等外国资料中。这些资料描述黄沙、长沙“是越南中部海上的一块沙渚…”,这和越南同一历史时期资料和古地图描述的类似。法国 1936 年在印度支那建立的...
-
BDN - 位于东海边国土陆地呈 “S” 字形的越南,无形中拥有沿着国土走向三千公里海岸及依照 1982 年《联合国海洋法公约》从岸边向外延伸的辽阔海域。这意味着从越南 1982 年 11 月确定和公布的垂直基线算起往外延伸 200 海里宽的海域属越南的主权,被称作专属经济...
-
从十六、十七世纪至今,西方国家的轮船日益频繁来往于东海。他们来到这里,不只为了扩大贸易还为了传教和传播西方文化。在来往东海期间,西方航海家和传教士们以当时最现代的技术很详细地描述和绘画黄沙群岛和长沙群岛,以避免这两个群岛的礁石给来往的船舶造成危害。为此,他们很仔细地研究东海...
-
香港媒体最近透露中国在东海划分“新边界线”的海洋研究项目,为“资源研究”创造了条件,北京对这片海域的主权主张“增添了筹码”。这条新边界线是一条与囊括了蕴藏着丰富矿产和能源资源的东海海域九段线相吻合的实线,九段线内的海域就是北京声索主权的那片海域。 从国际法的角度来看实线...









