“越南走向社会主义道路是历史性的错误”——一种歪曲论调

07:15 |

 

 “越南走向社会主义道路是历史性的错误”,这只是敌对势力和机会主义者的歪曲论调。在越南共产党第十三届全国代表大会即将召开之际,他们更加紧宣传这种错误论调。对此,我们要认清并加以斗争批驳。

利用越南共产党将呈递越共十三大的政治报告草案公之于众以征求民众意见的机会,敌对势力、反动分子及机会主义者大力宣传:越南“坚持走向社会主义道路”、“坚持马列主义、胡志明思想”是不合时宜的歪曲论调。他们的主要手段为篡改越南共产党思想基础的科学性、革命性本质,普遍做法是绝对化现象而不重本质,“用模糊概念欺骗人民”。其目的是使人民失去对党思想基础的信心并否认越南共产党领导人民走向社会主义的道路。敌对势力与反动分子同时还彻底利用各种先进的大众传媒,在社交网、互联网散发错误观点、歪曲事实,旨在破坏社会主义制度其中包括越南的社会主义制度。尤其是,利用社会主义制度在前苏联与东欧失败,他们提出:越南共产党“保守”走向社会主义道路是违反自然规律的,“如果越南共产党继续坚持马列主义,越南人民就不要盼望十三大的路线了”等错误观点。上述论调在科学上是错误的,在政治上是反动的,其原因在于:

第一,马列主义已明确指出,历史上社会经济形态依次更替的过程和规律是客观的。这是遵循生产力与生产关系之间的辩证关系规律。当生产关系不适应生产力发展要求时,就会阻碍生产力的向前发展。新的生产力将打破旧的生产关系,必然会产生一个新的生产关系与其相适应。共产主义生产方式诞生会更先进并必然能够代替已落后的资本主义生产方式。马克思、恩格斯肯定:“新的生产力已经大大超越了资产阶级的生产力使用方式。生产力和生产方式间的这个冲突,并非只是在人们头脑中产生出来,而是实际地存在着,在我们外部存在着,不依赖于甚至是它所由造成的那些人们的意志或行为而存在着。”1 因此,“现代社会主义不过是这一事实冲突在思维中的反映,不过是它在头脑中--首先是在那个直接吃其苦头的阶级即工人阶级头脑中的观念的反映。”2 所以,社会主义必然将在崩溃的旧资本主义社会中兴起且发展。

马列主义理论也指出共产主义社会经济形态必须经过“一个时期和两个发展阶段。”一个时期即从资本主义到社会主义的过渡时期。两个发展阶段:第一阶段是社会主义社会,高级阶段是共产主义社会。共产主义是优于资本主义的更高一级的新社会制度,并且其在本质上与资本主义社会经济形态有所不同。共产主义经济形态不是自发而成的,而是通过经济、社会的运动规律以及消除资产阶级的压迫、剥削以建立新社会的革命斗争道路。同时,马列主义理论还肯定工人阶级是肩负领导无产革命推翻资产阶级的历史使命的阶级。工人阶级也是唯一力量能够建设新社会及代表比资本主义更先进的生产方式。

第二,胡志明主席、越南共产党和人民已选择的社会主义道路是符合于时代发展趋势和越南革命实践。在国外奔波流离过程中,胡志明主席已接触到马列主义与俄国现实主义社会的人文价值,旨在寻找摆脱殖民主义与封建主义的压迫、剥削、侵略及民族解放的道路。因此,要争取民族独立,必须进行无产阶级革命、建立社会主义制度。他老人家已给越南革命留下珍贵的遗产,就是争取民族独立、走向社会主义的道路及方法的基本观点系统。越南共产党坚持马列主义、胡志明思想以及走向社会主义道路,制定革新而不变色的道路,是符合于时代发展趋势与越南实践情况。由此可见,敌对势力、反动分子提出:马列主义已崩溃,越南共产党在理论思想上遭遇了危机,所以要以“胡志明思想为思想基础”等论调是不正确的。

第三,越南共产党已制定正确、创造性、体现出“融合党的意志、人民的心”的走向社会主义道路。早在1930年,成立越南共产党会议已讨论并通过由阮爱国领袖起早的《简要政纲》。其内容虽然简短但已明确指出越南革命的道路是:“进行包括土地革命在内的资产阶级民主革命,走社会主义和共产主义之路。”从此,民族独立与社会主义成为越南共产党在革命时期贯穿、始终不变的战斗目标。党代表大会的每届任期都是一段革命旅程,制定越南建立社会主义事业的不同目标、对象、要求、任务和计划。前一届所获得的成就将对下一届提出良好条件。1991年,越南共产党已颁发越南社会主义过渡时期的国家建设纲领,其中确定了越南社会主义的六个特点。到2011年再发展为八个特点。每届党代表大会都指出越南社会主义过渡时期的特殊性,评价越南在建立社会主义事业中所获得的巨大成就,并肯定坚持走向社会主义道路是完全正确的。

第四,现实社会主义的出现已体现出其比资本主义的优越性。前苏联和东欧社会主义的失败只是一种特定模式的失败。前苏联的社会主义建设事业时间虽然不长,但在各个领域都取得巨大成就。苏联已成为世界上第二大经济大国(仅次于美国),其工业产值占世界工业总产值的20%。1957年,苏联是第一个成功发射人造地球卫星的国家。1961年,苏联宇航员加加林乘坐东方号飞船飞上了太空并且返回,开辟了人类征服太空的时代。前苏联人民的中学文化程度比例在世界上排在首位,有超过3000万人“脑力劳动者”。上面所述的成就已经明确显示,在很短的时间内,社会主义诞生于苏联以及一些社会主义国家虽然还没完善,但在很多方面上已得到了迅速发展,其在本质上与资本主义完全不同。这加以肯定,社会主义已成为现实,完全不是“梦想”或“幻想”!

目前,社会主义国家包括越南在内正在进行革新事业,并获得了举世瞩目的成就。尽管资本主义已经过多次调整以适合于不同的发展阶段,但其本质从未改变。它仍然是一个压迫、剥削、不公正的社会。社会主义虽然面临困难和危机,但所取得的初步成果已证明它的优越性与先进性。社会主义是人类社会发展的必然。越南人民走向社会主义道路也出发于这些必然性的成就。

第五,越南共产党具有足够的政治本领、智慧与能力来领导国家的建设社会主义事业。越南共产党诞生于民族的革命运动,带领全国人民取得1945年八月革命的胜利,成立东南亚地区第一个工农国家的越南民主共和国家。在领导革命的过程中,党时常处理好民族任务与阶级任务之间的关系。从1954年至1975年,党领导人民同时进行南方的民族解放斗争与北方的社会主义建设等两个革命战略并都取得成功。南方解放,实现国家统一后,越南共产党领导全国走向社会主义道路。当前苏联与东欧的社会主义失败,党仍坚定走向社会主义道路,进行革新路线,坚持原则决不变色。

经过35年的革新,越南共产党以领导人民在生活社会的各个方面都取得了巨大成就并得到国际朋友的认可。这个事实是不可歪曲或驳斥的。呈递越共十三大的文件草案已肯定:我们国家未有今天这样的事业、潜力和地位;现在的情况对国家营造新时机越过重重挑战,越南要充分利用机会使社会主义在下一阶段快速与可持续地发展。

以上述的理论和实践基础,我们可以重申:歪曲与否定越南走向社会主义道路等篡改论调是毫无根据的。在越南共产党的领导下,越南人民已经选择走向社会主义道路是完全正确的。没有任何力量能够阻挡人民在建设与捍卫越南社会主义祖国事业中的进攻革命精神。


Đọc thêm...

“Đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là sai lầm lịch sử” - luận điệu sai trái

07:00 |

 

 “Đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là sai lầm lịch sử” mà một số người thường rêu rao là luận điệu sai trái. Trước thềm Đại hội XIII của Đảng, họ càng tăng cường đưa ra luận điệu này. Chúng ta cần nhận diện, đấu tranh, phản bác quan điểm sai trái đó.

Lợi dụng việc Đảng ta công khai, lấy ý kiến nhân dân tham gia, góp ý vào Dự thảo Báo cáo Chính trị trình Đại hội XIII, các thế lực thù địch, phản động rêu rao rằng: “Kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội”, kiên định với “chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh” là “lạc nhịp”. Thủ đoạn họ thường sử dụng là tạo dựng, xuyên tạc bản chất khoa học, cách mạng nền tảng tư tưởng của Đảng. Phương thức chung là tuyệt đối hóa hiện tượng thay cho bản chất, “lập lờ đánh lận con đen”, hòng gây mơ hồ, mất niềm tin của nhân dân vào nền tảng tư tưởng của Đảng, phủ nhận con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nhân dân ta do Đảng lãnh đạo. Họ triệt để lợi dụng công nghệ thông tin, internet, các trang mạng xã hội, website để đăng tải, chia sẻ, phát tán quan điểm sai trái nhằm chống phá chủ nghĩa xã hội nói chung và chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam nói riêng. Đặc biệt, lợi dụng sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu, họ cho rằng: Đảng Cộng sản Việt Nam “bảo thủ” với con đường đi lên chủ nghĩa xã hội là trái quy luật, “nếu Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục kiên định với chủ nghĩa Mác thì đừng trông chờ gì vào đường lối Đại hội XIII”(!), v.v. Các luận điệu trên sai về khoa học và phản động về chính trị, bởi một số lý do sau:

Một là, chủ nghĩa Mác – Lênin đã chỉ rõ sự thay thế giữa các hình thái kinh tế - xã hội trong lịch sử là hoàn toàn khách quan, tuân theo quy luật về mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất. Khi quan hệ sản xuất lỗi thời, trở thành xiềng xích của lực lượng sản xuất mới thì tất yếu nó bị lực lượng sản xuất mới phá vỡ nhằm thay thế bằng quan hệ sản xuất phù hợp hơn. Và phương thức sản xuất cộng sản chủ nghĩa ra đời sẽ tiến bộ hơn, tất yếu thay thế phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đã lỗi thời. C. Mác và Ph. Ăngghen đã chỉ ra: “Các lực lượng sản xuất mới đã vượt quá hình thức tư sản của việc sử dụng chúng; và sự xung đột ấy giữa các lực lượng sản xuất và phương thức sản xuất hoàn toàn không phải là sự xung đột sinh ra chỉ từ đầu óc người ta,... mà là có thật, khách quan, ở bên ngoài chúng ta, không phụ thuộc vào ý chí hoặc hành động của chính ngay những người đã tạo ra nó”1. Vì vậy, “Chủ nghĩa xã hội hiện đại chẳng qua chỉ là sự phản ánh của sự xung đột có thật ấy vào trong tư duy, là sự phản ánh trên ý niệm của sự xung đột ấy, trước hết trong đầu óc của giai cấp trực tiếp chịu đau khổ vì sự xung đột ấy, tức là giai cấp công nhân”2. Theo đó, tính tất nhiên là chủ nghĩa xã hội sẽ ra đời, phát triển trong lòng xã hội tư bản cũ đang sụp đổ.

Lý luận Mác – Lênin cũng chỉ ra hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa phải trải qua “một thời kỳ và hai giai đoạn”. Một thời kỳ là thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội. Hai giai đoạn: giai đoạn đầu là chủ nghĩa xã hội; giai đoạn cao là cộng sản chủ nghĩa. Hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa sẽ phát triển cao hơn và khác về chất so với hình thái kinh tế - xã hội tư bản chủ nghĩa. Nhưng nó không tự phát hình thành mà thông qua vận động của các quy luật về kinh tế, xã hội, con đường đấu tranh cách mạng xóa bỏ áp bức, bóc lột của giai cấp tư sản để xây dựng xã hội mới. Đồng thời, chỉ rõ giai cấp công nhân là giai cấp có sứ mệnh lịch sử lãnh đạo cách mạng vô sản để lật đổ giai cấp tư sản; giai cấp duy nhất có khả năng xây dựng và đại diện cho phương thức sản xuất tiến bộ hơn phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa.

Hai là, Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng và Nhân dân ta đã lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội là phù hợp với xu hướng của thời đại và thực tiễn cách mạng Việt Nam. Trong những năm bôn ba ở nước ngoài, Người đã tiếp cận chủ nghĩa Mác – Lênin, cùng giá trị nhân văn của xã hội chủ nghĩa hiện thực ở nước Nga để tìm ra con đường đấu tranh giải phóng dân tộc khỏi ách áp bức, bóc lột, xâm lược, đô hộ của chủ nghĩa thực dân, phong kiến. Bởi vậy, muốn giành được độc lập cho dân tộc thì phải tiến hành con đường cách mạng vô sản và xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa. Người đã để lại di sản vô cùng quý báu cho cách mạng Việt Nam, đó là hệ thống quan điểm cơ bản về con đường, phương pháp cách mạng đấu tranh giành độc lập dân tộc và đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đảng Cộng sản Việt Nam đã kiên định với chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, đường lối đổi mới nhưng không đổi màu, là phù hợp với xu thế thời đại và thực tiễn Việt Nam. Do vậy, những luận điệu cho rằng do chủ nghĩa Mác – Lênin đã sụp đổ, Đảng Cộng sản Việt Nam bị khủng hoảng về tư tưởng lý luận nên phải lấy “tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng” là không đúng.

Ba là, đường lối đúng đắn, sáng tạo hòa quyện “ý Đảng, lòng dân” về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Đảng Cộng sản Việt Nam. Ngay từ năm 1930, Chánh cương vắn tắt của Ðảng do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc soạn thảo và được Hội nghị thành lập Ðảng thảo luận, thông qua, tuy rất ngắn gọn, nhưng đã xác định rõ đường lối của cách mạng Việt Nam là “làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”. Từ đó, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trở thành mục tiêu chiến đấu nhất quán, xuyên suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam qua các thời kỳ cách mạng. Mỗi nhiệm kỳ Đại hội của Đảng là một chặng đường cách mạng có mục tiêu, đối tượng, yêu cầu, nhiệm vụ, kế hoạch khác nhau về xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Thành quả đạt được của nhiệm kỳ trước đã tạo tiền đề, thuận lợi cho nhiệm kỳ sau. Năm 1991, Đảng đã đưa ra Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, trong đó chỉ ra sáu đặc trưng của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Đến Cương lĩnh năm 2011 phát triển sáng tạo thành tám đặc trưng. Mỗi kỳ Đại hội đều chỉ ra tính đặc thù của thời kỳ quá độ ở Việt Nam, đánh giá những thành quả to lớn về xây dựng chủ nghĩa xã hội và khẳng định sự kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội là hoàn toàn đúng đắn.

Bốn là, chủ nghĩa xã hội hiện thực ra đời đã thể hiện tính ưu việt hơn chủ nghĩa tư bản; sự sụp đổ chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu chỉ là sự đổ vỡ của một mô hình cụ thể. Công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước Nga sau là Liên Xô có thời gian chưa dài, nhưng đã giành được nhiều thành tựu to lớn trên mọi lĩnh vực. Liên Xô đã trở thành cường quốc kinh tế thứ 2 thế giới (sau Mỹ) với sản lượng công nghiệp chiếm 20% tổng sản lượng công nghiệp thế giới. Năm 1957, Liên Xô là quốc gia đầu tiên phóng thành công vệ tinh nhân tạo. Năm 1961, phóng tàu vũ trụ đưa nhà du hành Gagarin bay vòng quanh trái đất mở ra kỷ nguyên chinh phục vũ trụ của loài người. Liên Xô là nước hàng đầu thế giới về trình độ học vấn của nhân dân với tỷ lệ dân số có trình độ từ trung học trở lên, có trên 30 triệu người “làm việc trí óc”, v.v. Rõ ràng, trong một thời gian ngắn, chủ nghĩa xã hội ra đời ở Liên Xô và nhiều nước xã hội chủ nghĩa tuy chưa hoàn thiện, nhưng đã phát triển lớn mạnh về nhiều mặt, khác hẳn về chất so với chủ nghĩa tư bản. Điều đó cho thấy, chủ nghĩa xã hội là một hiện thực, hoàn toàn không phải là “giấc mơ” cũng chẳng phải là “ảo tưởng”!

Hiện nay, các nước xã hội chủ nghĩa trong đó có Việt Nam đang tiến hành sự nghiệp đổi mới, cải cách đạt được những thành tựu hết sức quan trọng, vững chắc, được thế giới ngưỡng mộ. Mặc dù, chủ nghĩa tư bản đã trải qua những giai đoạn phát triển khác nhau, với sự điều chỉnh, thích nghi nhưng bản chất không bao giờ thay đổi, vẫn là xã hội áp bức, bóc lột, bất công. Chủ nghĩa xã hội tuy gặp phải khó khăn, khủng hoảng, song với những thành tựu ban đầu đã khẳng định tính chất ưu việt, tiến bộ hơn hẳn và tất yếu sẽ là tương lai của xã hội loài người. Con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nhân dân Việt Nam xuất phát từ những thành tựu mang tính tất yếu đó.

Thứ năm, Đảng Cộng sản Việt Nam có bản lĩnh chính trị, trí tuệ, khả năng lãnh đạo công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Ra đời trong phong trào cách mạng của dân tộc, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo toàn thể nhân dân Việt Nam làm nên thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám 1945, lập nên Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn giải quyết tốt mối quan hệ giữa nhiệm vụ dân tộc với nhiệm vụ giai cấp. Từ năm 1954 đến 1975, Đảng lãnh đạo nhân dân ta thực hiện đồng thời và thắng lợi hai chiến lược cách mạng là đấu tranh giải phóng dân tộc ở miền Nam và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc. Sau giải phóng miền Nam, đất nước thống nhất, Đảng lãnh đạo cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Khi chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, Đảng ta vẫn kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, kiên quyết thực hành đường lối đổi mới, giữ vững nguyên tắc, quyết “không đổi màu”.

Qua 35 năm tiến hành đổi mới, Đảng ta đã lãnh đạo nhân dân ta đạt được những thành tựu quan trọng có ý nghĩa lịch sử, trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, được bạn bè quốc tế thừa nhận. Sự thực ấy không thể xuyên tạc, bác bỏ. Dự thảo các văn kiện trình Đại hội XIII của Đảng, đã khẳng định: đất nước chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực và vị thế như ngày nay; đồng thời, tạo nên thời cơ mới cho cả dân tộc vượt qua thách thức, tận dụng cơ hội để chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam phát triển nhanh và bền vững hơn ở chặng đường tiếp sau.

Với những cơ sở lý luận và thực tiễn trên, một lần nữa khẳng định: sự xuyên tạc và phủ nhận con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta là vô căn cứ. Và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội mà Nhân dân đã lựa chọn dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là hoàn toàn đúng; không một thế lực nào có thể ngăn cản được tinh thần cách mạng tiến công của nhân dân ta trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.


Đọc thêm...

实现绿色复苏

06:14 |

 

世界经济从来未有面对像目前这样难以预测的挑战,在同一个时间内承受许多要素诸如:大流行病的冲击、气候变化的后果和第四次工业革命的深刻影响。

新冠肺炎疫情使全球公共债务攀至多高。不过各国政府所受到的劝告是,在这一飙升中应该维持着经济刺激计划以确保实现绿色和可持续复苏。

国际货币基金组织在世界经济论坛框架内所作的《全球金融稳定报告》称,全球公共债务已达到历史最高水平。2020年,各国政府的经济刺激计划和抗疫工作已耗费14万亿美元。因此,全球公共债务飙升并占全球GDP98%,创历史新高。预测,2021年全球公共债务将接近GDP100%

一年来,新冠肺炎疫情使世界经济陷入严重衰退,甚至比20世纪30年代的大萧条更严重。2021年世界经济进步复苏阶段。虽然推出一系列大规模援助计划,但是全球经济复苏展望并完全没有把握。国际货币基金组织预测,2021年全球经济增长率可达5.5%,这几乎都取决于大型经济体的刺激计划、新冠肺炎疫情遏制能力和有关经济恢复措施。但是,新冠疫情继续复杂演化,再说,变异新冠病毒出现和肆虐,这使全球经济复苏展望更加难以预料。

这些援助计划基本上能减少损失和推进一些经济产业,但是使公债压力日益加大,甚至在一些国家可接近风险警戒水平。但是,国际货币基金组织还是劝告各国继续推出有关助推经济复苏的政策和广泛地开展疫苗接种。

为了援助政策发挥其效益,国际货币基金组织认为,在经济形势容易受冲击的背景下,各国政府应识时通变,主动为实现绿色、平衡、且可持续的复苏打造前提。

新冠肺炎大流行对所有经济体产生了深远影响,但是也对朝着数字化和绿化方向改变发展方向提出迫切要求。因此,国际货币基金组织认为,应将各一揽子经济刺激计划维持到大流行得到控制的时候,其中特别注重各“绿色投资”款项,对遭受大流行最严重损失的领域提供紧急援助。要保障经济刺激措施的效益,直到经济稳健复苏为止。

近段时间世界各国应对新冠肺炎疫情的实践表明,各国之间互相配合是有效措施,因此,要继续巩固多边合作以控制全球范围的疫情。除了采取社交距离和封锁措施,新冠疫苗被视为有效措施,因此疫苗所有权竞赛日益剧烈。世界卫生组织最近就发达国家和贫穷国家在接近各种疫苗中的千差万别的不平等情况提出警告。疫苗分配不平等的直接后果就是不能尽早控制大流行。因此,国际货币基金组织呼吁提升对由世界卫生组织引领的“新冠肺炎疫苗实施计划”(COVAX)的赞助并对此予以支持,旨在保障世界各国都能接近新冠肺炎疫苗。

因新冠肺炎疫情全球公共债务负担加重,贫穷国家和发展中国家是最为弱势的群体,其中,许多国家债务堆积,目前要面对公共债务日益增加的状况。在此背景下,期望二十国集团和新兴经济体保持善意,继续对贫穷国家实行债务减少和债务重新安排机制,助力各国巩固力量,抗击新冠肺炎疫情和实现经济复苏。

新冠肺炎疫情不仅使世界经济变得更加艰难,而且还对国际各方面产生严重影响,其提出全球治理能力和机制改革要求。每个国家虽然找出不同的道路,然而多边精神,国际合作与互相帮助精神需要得到维持,为后大流行时期复苏进程奠定基础。

Đọc thêm...

Nỗ lực phục hồi xanh

05:32 |

Kinh tế thế giới chưa khi nào đứng trước thách thức khó lường như hiện nay, khi cùng lúc phải chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố, là sự tàn phá của đại dịch, hậu quả của biến đổi khí hậu và tác động sâu sắc của cách mạng công nghiệp 4.0. Dịch Covid-19 đẩy tổng nợ công toàn cầu lên cao, song các chính phủ được khuyến cáo duy trì gói hỗ trợ kinh tế trong cuộc "leo dốc" đầy gian nan, bảo đảm phục hồi xanh và bền vững.

Trong Báo cáo giám sát tài chính, công bố trong khuôn khổ hội nghị Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF), Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) cảnh báo, nợ công trên thế giới đã lên mức kỷ lục. Năm 2020, gần 14.000 tỷ USD được các chính phủ chi cho các gói hỗ trợ kinh tế, chống đại dịch Covid-19. Qua đó đẩy tổng nợ công lên gần 98% GDP toàn cầu và là mức cao nhất từ trước tới nay. Dự báo, nợ công toàn cầu sẽ nhanh chóng tiến sát mốc 100% GDP trong năm 2021.

Sau một năm bị Covid-19 đẩy xuống đáy suy thoái mới, tồi tệ hơn cả cuộc đại suy thoái những năm 30 của thế kỷ 20, năm 2021 kinh tế thế giới bước vào giai đoạn phục hồi. Tuy nhiên, dù với các gói cứu trợ khổng lồ, triển vọng phục hồi của kinh tế toàn cầu vẫn không hề chắc chắn. IMF dự báo, tăng trưởng kinh tế toàn cầu năm 2021 có thể đạt mức 5,5%, phần lớn nhờ các gói kích thích của các nền kinh tế lớn và phụ thuộc khả năng kiểm soát đại dịch, cũng như khôi phục các hoạt động kinh tế. Song, dịch bệnh tiếp tục diễn biến phức tạp, cộng thêm sự xuất hiện và lây lan khó lường các biến thể mới của vi-rút gây Covid-19, khiến triển vọng phục hồi kinh tế toàn cầu càng trở nên khó đoán định.

Không phủ nhận các gói cứu trợ phần nào giúp giảm bớt thiệt hại và thúc đẩy phục hồi một số lĩnh vực kinh tế, song lại khiến gánh nặng nợ công thêm trầm trọng, thậm chí tới mức nguy hiểm ở nhiều quốc gia. Tuy vậy, IMF vẫn khuyến cáo các nước tiếp tục các chính sách hỗ trợ nhằm vực dậy kinh tế và triển khai các chương trình tiêm phòng mở rộng.

Để chính sách hỗ trợ có hiệu quả, theo IMF, các chính phủ cần linh hoạt trong bối cảnh tình hình kinh tế dễ biến động, chủ động tạo tiền đề cho tiến trình phục hồi xanh, cân bằng và bền vững hơn.

Đại dịch gây tác động đa chiều và sâu sắc tới mọi nền kinh tế, song cũng đặt ra yêu cầu cấp bách về chuyển đổi đường hướng phát triển, theo hướng số hóa và xanh hóa. Vì thế, IMF cho rằng, các gói cứu trợ kinh tế cần được duy trì cho đến khi đại dịch được kiểm soát, trong đó đặc biệt chú trọng các khoản "đầu tư xanh", hỗ trợ khẩn cấp những lĩnh vực chịu thiệt hại nặng nhất do đại dịch. Các biện pháp kích thích kinh tế phải bảo đảm hiệu quả cho đến khi đà phục hồi vững chắc hơn.

Thực tế ứng phó Covid-19 trên thế giới thời gian qua đã chứng tỏ rằng, việc phối hợp giữa các nước là cách thức hiệu quả, bởi thế, hợp tác đa phương cần tiếp tục được củng cố nhằm kiểm soát dịch bệnh trên phạm vi toàn cầu. Cùng các biện pháp hạn chế và phong tỏa, vắc-xin phòng bệnh được xem là giải pháp hữu hiệu, nên cuộc đua sở hữu vắc-xin trở nên gay gắt hơn. Tổ chức Y tế thế giới (WHO) mới đây cảnh báo về tình trạng bất bình đẳng khi các quốc gia phát triển đang bỏ rất xa các nước nghèo trong việc tiếp cận các nguồn vắc-xin. Hệ lụy trực tiếp của việc phân phối vắc-xin không đồng đều là đại dịch không thể sớm được khống chế. Vì thế, IMF ủng hộ và kêu gọi tăng tài trợ cho COVAX, cơ chế do WHO dẫn dắt nhằm bảo đảm tiếp cận toàn cầu với vắc-xin ngừa Covid-19.

Gánh nặng nợ công toàn cầu tăng cao vì Covid-19, những nước nghèo và các nền kinh tế đang phát triển là nhóm dễ bị tổn thương nhất, trong đó nhiều nước vốn đã lâm vào cảnh nợ nần chồng chất, nay đối mặt tình trạng "núi nợ công" cao thêm từng ngày. Trong bối cảnh ấy, nhóm 20 nền kinh tế phát triển và mới nổi hàng đầu thế giới (G20) được kỳ vọng duy trì thiện chí, tiếp tục gia hạn triển khai cơ chế giảm và giãn nợ cho các nước nghèo, giúp các quốc gia có thêm nguồn lực phục vụ chống đại dịch và vực dậy kinh tế.

Cơn địa chấn Covid-19 không chỉ gây xáo trộn kinh tế thế giới, mà còn tác động nghiêm trọng mọi mặt đời sống quốc tế, đặt ra yêu cầu cải cách năng lực và cơ chế quản trị toàn cầu. Mỗi quốc gia có tìm thấy con đường riêng, song tinh thần đa phương, hợp tác và hỗ trợ quốc tế cần được duy trì là nền tảng cho tiến trình phục hồi sau đại dịch.

Đọc thêm...

越共十三大的成功激励全党、全民族跨入新发展阶段

02:39 |

 

越南共产党第十三届中央委员会总书记阮富仲21日在越共十三大闭幕式上致闭幕辞时突出阐述本次大会的结果,同时强调,本次大会的成功将激励全党、全民、全军继续奋斗,把本次大会重大决策落到实处。

在致大会闭幕辞时,阮富仲指出,越共十三大取得的结果包括通过重要文件,同时选举产生代表500万党员,符合各种标准,品德好、能力强,足以担负党和人民交付的任务,由200名委员组成的第十三届中央委员会。

阮富仲表示,本次大会通过的文件在对理论和实践深入分析和总结的基础上形成,是全党、全民、全军智慧和意志的结晶。各项文件总结、评估越共十二大决议落实结果,同时回顾革新事业实施35年、1991年纲领实施30年、2011年补充纲领实施10年情况,回顾20112020年经济社会发展战略实施情况,制定20212025年经济社会发展方向和任务,明确到2030年国家发展目标和到2045年的愿景等。

阮富仲在评估大会结果时表示:“大会充分展示了全党、全民、全军跨入新时期之际在意志上的统一,在行动中的决心。全党、全民、全军力争成功实现政治报告提出的提高党的领导力、执政能力和战斗力,建设全面纯洁强大的党和政治体系,巩固人民对党、国家和社会主义的信心,激发人民建设繁荣、幸福国家的渴望,发挥全民族大团结力量,将大团结力量与时代力量相结合,全面、同步推进革新、现代化事业,牢牢捍卫祖国,维护和平稳定环境,力争到二十一世纪中叶,越南成为社会主义发达国家等目标。”

阮富仲也强调,大会讨论并通过了重要主张和决策,为快速、可持续发展、建设和保卫祖国的任务组织实施过程指明方向并进行正确、全面领导、指导。大会指出,越南共产党继续坚持马列主义和胡志明思想,并不断发展和创新运用,使之符合越南每个阶段的实际情况,坚持民族独立与社会主义相结合目标,坚持革新路线,面向实现民富、国强、民主、公平、文明目标。大会也强调,党要加强建党整党工作,在制定和落实符合越南实际情况和时代发展趋势的路线、政策过程中提高本领、领导力和执政能力。

阮富仲表示,大会依据党章严格举行选举,选出符合标准的人进入中央委员会。大会责成第十三届中央委员会领导全党、全民、全军胜利完成大会决议提出的任务。

阮富仲表示:“本次大会取得圆满成功将激励全党、全民、全军继续克服困难和挑战,把握机会,及早把国家建设成为高收入的社会主义发达国家。我建议各级党委、党组织、所有党员在大会结束后集中做好大会结果普及、宣传工作,让全党、全民、全军了解,研究并贯彻大会决议和相关文件,抓紧制定行动计划,启动爱国竞赛运动,发挥革新、创新精神,把大会决议落到实处,把大会重大决定化为生动的现实。”

在致辞的最后,阮富仲号召全党、全民、全军及海外同胞发挥爱国精神、自立自强意志、全民族大团结力量,踊跃竞赛,胜利实现越共十三大决议。

Đọc thêm...

Thành công của Đại hội Đảng cộng sản Việt Nam cổ vũ toàn Đảng, toàn dân bước vào giai đoạn phát triển mới

01:36 |

 

Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII Nguyễn Phú Trọng, trong diễn văn bế mạc Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng cộng sản Việt Nam, sáng 1/2/2021 tại Hà Nội, nêu rõ những kết quả nổi bật của Đại hội. Tổng Bí thư cũng khẳng định thành công của Đại hội sẽ cổ vũ toàn đảng, toàn quân và toàn dân Việt Nam tiếp tục phấn đấu, đưa những quyết sách quan trọng của Đại hội này thành hiện thực sinh động trong thực tế.

Trong diễn văn, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh những kết quả của Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam, đó là thông qua các văn kiện quan trọng, bầu ra Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, gồm 200 người tiêu biểu cho hơn 5 triệu đảng viên, có đủ tiêu chuẩn, phẩm chất, đạo đức, năng lực, trình độ để gánh vác trọng trách mà Đảng và nhân dân giao phó. Theo Tổng Bí thư, các văn kiện được thông qua tại Đại hội lần này được xây dựng trên cơ sở tổng kết sâu sắc lý luận và thực tiễn, kết tinh trí tuệ, ý chí, nguyện vọng của toàn đảng, toàn dân và toàn quân. Các văn kiện đã tổng kết, đánh giá việc thực hiện Nghị quyết Đại hội XII của Đảng gắn với việc nhìn lại 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới, 30 năm thực hiện Cương lĩnh năm 1991, tổng kết 10 năm thực hiện Cương lĩnh bổ sung, phát triển năm 2011, Chiến lược phát triển kinh tế xã hội 10 năm 2011-2020; đề ra phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội 5 năm 2021-2025 và xác định mục tiêu, phương hướng tầm nhìn đến năm 2030, tầm nhìn phát triển đất nước đến năm 2045.

Đánh giá kết quả Đại hội, Tổng Bí thư nêu rõ: “Đại hội biểu thị sự thống nhất ý chí và quyết tâm hành động của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân trong thời kỳ mới, thực hiện bằng được mục tiêu phát triển tổng quát đã nêu trong báo cáo chính trị là nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa; khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; phát huy ý chí và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc; kết hợp sức mạnh thời đại; đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, công cuộc hiện đại hóa, bảo vệ vững chắc Tổ quốc; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định; phấn đấu để đến giữa thế kỷ thứ XXI, Việt Nam trở thành một nước phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cũng khẳng định Đại hội đã thảo luận và thông qua những chủ trương và quyết sách quan trọng để định hướng và lãnh đạo, chỉ đạo đúng đắn và toàn diện quá trình triển khai tổ chức thực hiện, phương hướng, nhiệm vụ phát triển đất nước nhanh, bền vững, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đại hội khẳng định Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục kiên định Chủ nghĩa Mác-Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, không ngừng vận dụng và phát triển, sáng tạo phù hợp với thực tiễn Việt Nam trong từng giai đoạn; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, đường lối đổi mới vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Đồng thời nhấn mạnh Đảng phải tăng cường chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị thực sự trong sạch, vững mạnh, tiếp tục nâng cao bản lĩnh, năng lực lãnh đạo, cầm quyền trong hoạch định và thực hiện đường lối chính sách phù hợp với thực tiễn của Việt Nam và xu hướng phát triển của thời đại.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định Đại hội đã tiến hành nghiêm túc đúng điều lệ Đảng, sáng suốt lựa chọn và bầu những người có đủ tiêu chuẩn, xứng đáng vào Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII. Đại hội đã giao trọng trách cho Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII lãnh đạo toàn Đảng, toàn dân, toàn quân thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhận định: “Thành công rất tốt đẹp của Đại hội lần này sẽ cổ vũ toàn Đảng, toàn dân, toàn quân tiếp tục vượt qua mọi khó khăn, thách thức, tranh thủ thời cơ thuận lợi, sớm đưa đất nước trở thành một nước phát triển có thu nhập cao theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Tôi đề nghị ngay sau Đại hội này, tất cả các cấp ủy, tổ chức Đảng, tất cả các cán bộ đảng viên cần tập trung làm tốt việc phổ biến, tuyên truyền sâu rộng trong toàn đảng, toàn dân, toàn quân về kết quả của Đại hội; nghiên cứu, quán triệt sâu sắc Nghị quyết và các văn kiện Đại hội; khẩn trương xây dựng, triển khai chương trình, kế hoạch hành động, phát động phong trào thi đua yêu nước sâu rộng; tinh thần đổi mới, sáng tạo vượt qua mọi khó khăn, thách thức để sớm đưa Nghị quyết Đại hội vào cuộc sống. Biến những quyết định quan trọng của Đại hội lần này thành hiện thực sinh động trong thực tế.”

Cuối cùng, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng kêu gọi toàn đảng, toàn dân, toàn quân, đồng bào Việt Nam ở trong nước cũng như ở nước ngoài phát huy cao độ tinh thần yêu nước; ý chí tự lực, tự cường, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, ra sức thi đua thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng.

Đọc thêm...

越南要求有关国家尊重越南在东海的主权、主权权利和管辖权

04:45 |

 

“越南支持维护地区和平与稳定,安全、航行与飞越自由和安全,尊重各海域的法律至上原则,符合国际法各项规定和1982年《联合国海洋法公约》”。

越南外交部发言人黎氏秋姮于24日下午在以视频形式举行的越南外交部例行新闻发布会上就东海问题答记者问时如是强调。

黎氏秋姮表示,越南支持维护地区和平与稳定,安全、航行与飞越自由和安全,尊重各海域的法律至上原则,符合国际法各项规定和1982年《联合国海洋法公约》”。各方在东海的活动应为这一共同目标作出贡献。

黎氏秋姮回答记者有关越南对日本最近向联合国提交照会, 驳斥中国有关东海的照会有何回应的提问时重申,越南对东海问题的立场是一贯的,且在不同的场合阐明了本国立场。各民族和国际社会对维护和促进东海和平、稳定、合作与发展环境有共同利益。尊重海上法律秩序,以诚意和责任充分且全面地实施1982年《联合国海洋法公约》是必要的。

黎氏秋姮重申,越南欢迎各国有关东海问题的立场符合国际法、1982年《联合国海洋法公约》,越南对第36届东盟峰会的联合声明和第53届东盟外长会联合公报中所提出的立场,即1982年《联合国海洋法公约》是调整海上所有活动的法律框架的立场表示赞同。

黎氏秋姮强调,本着上述精神,越南希望包括东盟伙伴国在内的所有国家将为维护东海和平、稳定与合作环境作出努力,按照国际法和1982年《联合国海洋法公约》通过对话和其他和平方式解决争端,为各国带来共同利益,符合地区各国和国际社会的意愿。黎氏秋姮明确指出,越南再次重申,越南一直为这一进程作出积极和负责任的贡献。

越南外交部发言人就中国《海警法》于21日开始生效明确指出,在颁发和实施涉海法规时,各国有义务遵守国际法和本国作为缔约国的国际条约,尤其是1982年《联合国海洋法公约》。

越南有充分的历史证据和法律依据证明越南对黄沙和长沙两个群岛拥有主权符合国际法,越南对各海域的主权、主权权利和管辖权符合1982年《联合国海洋法公约》,越南将坚决、坚持采取符合于国际法的各项措施来维护本国合法、正当权益。

黎氏秋姮强调,“越南要求有关国家尊重越南在东海的主权、主权权利和管辖权,有责任以诚意实施国际法、1982年《联合国海洋法公约》,不采取使紧张局势加剧的行动,为建立互信,维护和平稳定环境,促进海上国际秩序以及东海安全、航行安全与自由作出积极贡献”。


Đọc thêm...

Việt Nam yêu cầu các nước liên quan tôn trọng chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán của Việt Nam ở Biển Đông

03:44 |

 

Chiều 4/2, Bộ Ngoại giao tổ chức họp báo thường kỳ theo hình thức trực tuyến. Người Phát ngôn Bộ Ngoại giao Lê Thị Thu Hằng giải đáp một số câu hỏi của phóng viên liên quan đến Biển Đông.

Chia sẻ quan điểm về vấn đề Biển Đông, Người Phát ngôn Lê Thị Thu Hằng khẳng định: Việt Nam ủng hộ việc duy trì hòa bình, ổn định trong khu vực, an ninh, an toàn, tự do hàng hải và hàng không, tôn trọng nguyên tắc thượng tôn pháp luật trên các vùng biển và đại dương, phù hợp với các quy định của luật pháp quốc tế, Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển 1982. Hoạt động của các bên ở Biển Đông cần đóng góp vào mục tiêu chung này.

Trước đề nghị của phóng viên cho biết phản ứng của Việt Nam khi mới đây, Nhật Bản gửi Công hàm phản đối một Công hàm của Trung Quốc về Biển Đông, Người Phát ngôn Lê Thị Thu Hằng nhắc lại lập trường của Việt Nam về các vấn đề liên quan đến Biển Đông là nhất quán và đã được thể hiện trong nhiều dịp khác nhau.

Các dân tộc, cộng đồng quốc tế có lợi ích chung về việc duy trì và thúc đẩy hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển tại Biển Đông. Theo đó, việc tôn trọng trật tự pháp lý trên biển và thực thi đầy đủ thiện chí, trách nhiệm Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển 1982 là thiết yếu.

Việt Nam hoan nghênh lập trường của các nước về vấn đề Biển Đông phù hợp với luật pháp quốc tế, Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển 1982 và chia sẻ quan điểm như đã nêu trong Tuyên bố Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 36, Thông cáo chung của Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN lần thứ 53 rằng, Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển 1982 là khuôn khổ pháp lý điều chỉnh mọi hoạt động trên biển và đại dương.

“Với tinh thần đó, cùng các nước ASEAN, Việt Nam mong rằng tất cả các nước, trong đó có các nước đối tác của ASEAN sẽ nỗ lực đóng góp vào việc duy trì hòa bình, ổn định, hợp tác tại Biển Đông và giải quyết các tranh chấp thông qua đối thoại cùng các biện pháp hòa bình khác theo luật pháp quốc tế, Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển 1982, vì lợi ích chung phù hợp với nguyện vọng của các nước trong khu vực và cộng đồng quốc tế. Một lần nữa xin khẳng định, Việt Nam luôn đóng góp tích cực và có trách nhiệm vào quá trình này,” Người Phát ngôn Lê Thị Thu Hằng nêu rõ.

Nêu quan điểm liên quan đến việc ngày 1/2 vừa qua, Luật Hải cảnh Trung Quốc bắt đầu có hiệu lực, Người Phát ngôn Lê Thị Thu Hằng khẳng định rõ: Trong việc ban hành và triển khai văn bản pháp luật quốc gia liên quan đến biển, các quốc gia phải có nghĩa vụ tuân thủ luật pháp quốc tế, các điều ước quốc tế mà mình là thành viên, đặc biệt là Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển 1982.

Việt Nam có đầy đủ chứng cứ lịch sử và cơ sở pháp lý để khẳng định chủ quyền của mình với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, phù hợp với luật pháp quốc tế, chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán đối với các vùng biển phù hợp với Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển 1982 và sẽ kiên quyết, kiên trì các biện pháp phù hợp với luật pháp quốc tế để bảo vệ các quyền hợp pháp, chính đáng đó.

“Việt Nam yêu cầu các nước liên quan tôn trọng chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán của Việt Nam ở Biển Đông, có trách nhiệm thực thi một cách thiện chí luật pháp quốc tế, Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển 1982, không có các hành động gia tăng căng thẳng, tích cực đóng góp vào việc tạo dựng lòng tin, giữ gìn hòa bình, ổn định, thúc đẩy trật tự quốc tế trên biển, an ninh, an toàn và tự do hàng hải ở khu vực Biển Đông,” Người Phát ngôn Lê Thị Thu Hằng nhấn mạnh./.


Đọc thêm...

Hot (焦点)