越南在变动的世界中稳步前进
20:05 |
按照越南传统文化,“龙子仙孙”们虽然正在异国他乡生活,但他们的心每时每刻都挂念着祖国的影子,因为“家乡每人只有一个”。在如今的全球化世界当中,定居在国外的越南侨胞对祖国的感情不仅通过每次回国探望家人与家乡得到培育,而且还通过他们对越南信息的关心得到充分的体现。进而,在异国他乡的“孩儿们”将会欣慰的看到我们的祖国正日益焕然一新。
在世界媒体的信息主要围绕着中东北非的政治变动、石油价格与粮食价格不断飙升等信息时,仍然有些信息使越南人民对越南发展战略更加充满信心:2012年虽然是越南10年来经济发展速度最为缓慢的一年,但如果单独看2012年的每个季度将会发现,下一个季度的发展速度比上一个季度均有所增加。这意味着越南经济在政府的正确指导下有着良好的转变。据世界银行2012年的排行榜,越南经济在世界排名第42位,在东南亚地区续印度尼西亚、泰国、马来西亚、菲律宾、新加坡后名列第6。越南已加入中等收入的国家集团,2012年的人均收入达1600美元。据联合国发展计划署(UNDP )根据健康、知识与经济收入三个标准进行排名的人类发展指数排行榜,越南被列为40个在1990 – 2012年在人类发展方面获得超出预期的发展中国家之一。据UNDP的人类发展指数报告,在最近的20年中,越南的人类发展指数增加了41%。2012年,越南仔187个国家中名列第127位,属于人类发展指数中等水平的国家。越南贫困率从1993年的58%降到2012年的9.64%,2013年预期降到7.6%。
世界知名组织的排名不仅具有客观性、科学性,而且也是多国政府作为重要的参考依据与越南建立外交战略,对增加越南在国际社会中的地位做出贡献。虽然越南在经济管理方面仍然需要继续努力,但越南在未挂经济改革中的果断以及在提高人民神国水平的成果是不可否认的。
越南不仅在经济领域获得明显的改善,而且还体现于国会活动的进步、媒体活动的城战、人民文化水平的提高以及宗教自由的保证。越南的各种“好叶保护撕裂叶”的慈善捐款活动也是越南文化的美好体现,不仅在越南国内得到发展,而且还发展到在国外生活的越南侨胞群体中。
在世界诸多个发达国家正被经济衰退或公债所困扰时,越南仍然稳步发展,在各领域中获得良好的成果。这些成果是越南档和人民的共同努力,是越南90颗心共同奋斗的成果。这些成果需要继续发挥,为越南民富、国强、社会公明、民主、闻名的目标继续奋斗。
Việt Nam bước tiến vững chắc trong một thế giới biến động
20:04 |
Theo truyền thống văn hóa Việt Nam , những
"con Lạc, cháu Hồng" dù đang sống xa quê hương nhưng lòng lúc nào
cũng hướng về đất mẹ, bởi vì "quê hương mỗi người chỉ một". Trong thế
giới toàn cầu hóa hiện nay, tình cảm của những người Việt Nam định cư tại nước
ngoài đối với quê cha đất tổ không chỉ được bồi đắp qua những lần về thăm quê
hương, mà qua cả sự quan tâm của họ đối với những thông tin về Việt Nam. Để rồi
tấm lòng của những người con xa quê thêm ấm áp khi nhận thấy quê hương mình
đang đổi mới từng ngày.
Trong khi tin tức của các hãng truyền
thông lớn trên thế giới hầu như đều xoay quanh những bất ổn và biến động về
chính trị, kinh tế, an ninh, nhất là tại khu vực Bắc Phi, Trung Đông; việc giá
dầu, giá vàng và giá lương thực toàn cầu tăng vọt... thì cũng có những thông tin
khiến những người con Việt Nam vững tin vào chính sách định hướng phát triển của
Việt Nam: Năm 2012 là năm Việt Nam có tốc độ phát triển kinh tế thấp nhất trong
10 năm liên tiếp nhưng nếu nhìn riêng từng quý trong năm 2012 thì thấy quý sau
tăng trưởng hơn quý trước. Điều này cho thấy nền kinh tế có dấu hiệu tự chuyển
biến, cộng thêm sự điều hành đúng hướng chính sách kinh tế vĩ mô. Theo bảng xếp
hạng được Ngân hàng Thế giới (WB) công bố năm 2012, kinh tế Việt Nam đứng thứ
42 trên thế giới, đứng thứ 6 trong khu vực Đông Nam Á sau Indonesia, Thái Lan,
Malaysia, Philippines và Singapore. Việt Nam đã gia nhập nhóm các quốc gia
có thu nhập trung bình, với thu nhập bình quân đầu người năm 2012 đạt gần 1.600
USD/năm. Trong xếp hạng về chỉ số phát triển con người của Chương trình phát
triển LHQ (UNDP) dựa trên ba tiêu chí là sức khỏe, kiến thức và thu nhập kinh tế,
Việt Nam nằm trong số 40 nước đang phát triển đạt được những tiến bộ vượt xa dự
kiến về phát triển con người trong giai đoạn 1990 đến 2012. Theo báo cáo toàn cầu
của chỉ số phát triển con người (HDI) của UNDP, Việt Nam đã tăng 41% trong vòng hai thập
kỷ qua. Năm 2012, Việt Nam
đứng thứ 127/187 quốc gia – nằm trong nhóm xếp loại trung bình về phát triển
con người. Tỷ lệ đói nghèo tại Việt Nam đã giảm từ 58% năm 1993 xuống 9,64%
trong năm 2012, ước tính đến cuối 2013 giảm còn 7,6%.
Sự xếp hạng của những tổ chức có uy
tín trên thế giới không chỉ mang tính khoa học, khách quan, mà còn là cơ sở để
chính phủ nhiều nước xây dựng chiến lược quan hệ với Việt Nam, góp phần làm
tăng vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Mặc dù Việt Nam còn cần nỗ lực
nhiều hơn trong quản lý kinh tế, nhưng tính năng động, sự quyết đoán trong việc
cải cách kinh tế vĩ mô, ổn định tài chính, nâng cao mức sống của nhân dân là điều
không thể phủ nhận.
Những cải thiện rõ rệt tại Việt Nam
không chỉ được thể hiện trong lĩnh vực kinh tế, mà còn thể hiện qua sự phát triển
vượt bậc trong hoạt động của Quốc hội, qua sự trưởng thành của báo chí truyền
thông, chất lượng giáo dục, trình độ văn hóa và nhất là đảm bảo quyền tự do tín
ngưỡng của người dân thông qua việc tổ chức các lễ hội ở khắp mọi miền của đất
nước, người dân được tự do lựa chọn tôn giáo và tín ngưỡng mà họ muốn theo. Hoạt
động đóng góp từ thiện, "lá lành đùm lá rách", cũng là một nét đẹp của
văn hóa Việt Nam, không chỉ phát triển ở trong nước mà còn lan sang khối cộng đồng
gần ba triệu người Việt Nam đang sinh sống tại nước ngoài.
Khi nhiều quốc gia phát triển đang phải vật lộn
với những khó khăn kinh tế, do suy thoái hoặc nợ công quá cao, Việt Nam vẫn
đang phát triển vững chắc, đạt nhiều tiến bộ trong mọi lĩnh vực của đời sống.
Những thành quả ấy là nhờ các chính sách đúng đắn, ban lãnh đạo tâm huyết,
"nhìn xa trông rộng", cùng công sức và quyết tâm của gần 90 triệu con
tim cùng chung chí hướng. Những thành quả đó cần được đồng lòng phát huy, vì một
Việt Nam dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh./.
日本对东海问题的接近方式 (继续)
20:00 |
其实,日本在实现这些目标的过程中并没有战略性的选择。不是直接参与领土主权争议的有关国家,日本不能通过外交手段推动有关东海问题的谈判。日本的政治影响力也不足以使参与正义的各方向有利于日本利益的方向改变他们的政策。由于这些局限性,日本在东海问题的政策主要依靠两大支撑点:华东海地区的稳定以及海上航行自由与安全。在该基础上,日本的东海战略主要体现在三个方面:多边对话、双边安全合作以及支持多年盟友的美国。日本正努力通过参与各个多边安全论坛的机会表明日本对东海问题的立场。另外,日本主动提出建立一些对话机制和新的行为准则的倡议以控制紧张局势升级。关于双边安全合作,日本安倍政府更加明确地表现出帮助越南与菲律宾加强海安县防空能力的立场。同时,作为美国多年的盟友,日本可能会被要求为保持美国在东海地区的出现做出更多的贡献。
在目前情况下,日本在实行东海战略中将会遇到不少挑战。日本并未具有足够的影响力和说服力以与东盟国家形成遏制中国绝地的统一意志。东盟各国家不同的战略利益以及对中国的不同观点成为形成东盟统一立场的最大挑战。东盟的一些国家担心地区外的干预将对东盟与中国建设COC谈判进程造成困难。中国一直主张通过双边谈判解决争议,并强烈反对“国际化”东海问题。其二,促进日本与东盟一些国家的双边安全合作以及美- 日盟友活动也不能保证可以遏制中国的强硬态度。相反,北京将会对日本与河内、曼尼拉和华盛顿的合作做出消极反应,是紧张局势不断升级。最后,日本积极参与东海问题是否能够为东海局势造成积极影响仍然是个未知数。
但是,日本仍然应该对东海问题表现出积极态度与行动,因为东海问题不仅影响到东海地区的海上安全与自由,而且对华东海地区的和平与稳定也造成很大影响。积极参与东海问题的解决不仅帮助日本保护自身的利益,同时也为日本的“大国形象”赢得不少好评。
Phương thức tiếp cận Biển Đông của Nhật Bản (Tiếp theo Kỳ I)
19:58 |
Nhật thực sự không có nhiều lựa chọn chiến lược để
thực hiện các mục tiêu của mình liên quan đến Biển Đông. Không phải là nước
tranh chấp nên Nhật không có đòn bẩy ngoại giao thúc đẩy các cuộc đàm phán về
tranh chấp lãnh thổ. Nhật cũng không phải là nước có ảnh hưởng chính trị đủ lớn
để khuyến khích mạnh mẽ các bên tranh chấp thay đổi chính sách của họ nhằm có lợi
cho Nhật Bản. Hơn nữa, khả năng can thiệp quân sự của Nhật Bản cũng rất ít do gới
hạn của hiến pháp và hoạt động chính trị. Vì những hạn chế này, chiến lược Biển
Đông của Tokyo liên quan chặt chẽ đến vấn đề an ninh trên Biển Hoa Đông và việc
bảo vệ các tuyến đường biển quan trọng. Dù có thể chưa hiệu quả nhưng để đối
phó với sự hung hăng của Trung Quốc đối với hai vùng biển, Tokyo đã đồng thời
tiếp cận trên 3 hướng là đối thoại đa phương; quan hệ an ninh song phương với
Philippines và Việt Nam; ủng hộ Mỹ dựa
trên quan hệ đồng minh. Chính phủ Nhật Bản đang cố gắng tận dụng mọi cơ hội
tham gia vào đối thoại an ninh đa phương để thể hiện lập trường của mình đối với
vấn đề Biển Đông. Ngoài ra, Tokyo đã cố gắng đề xuất một số cơ chế đối thoại với
một khái niệm mới về quy tắc ứng xử để kiểm soát sự căng thẳng leo thang ở vùng
biển này. Về quan hệ đối tác song phương, chính quyền đương nhiệm Abe đã thể hiện
rõ ràng hơn lập trường của Nhật Bản đối với việc hỗ trợ Philippines và Việt Nam
tăng cường khả năng bảo vệ bờ biển. Hơn nữa, là đồng minh của Mỹ, Nhật Bản có
thể được yêu cầu đóng góp nhiều hơn nhằm duy trì sự hiện diện quân sự của Mỹ ở
Biển Đông. Mặc dù chính sách hiện hành của Nhật Bản về vấn đề Biển Đông chủ động
và đa chiều hơn so với những năm 1990 song vẫn còn hạn chế trong việc hướng của
các vụ tranh chấp theo hướng có lợi cho Nhật Bản .
Trong hoàn cảnh có nhiều khó khăn như hiện nay, việc
theo đuổi phương thức tiếp cận riêng để giải quyết các vấn đề Biển Đông, Nhật Bản
sẽ phải đối mặt với những thách thức đáng kể. Nhật Bản không có ảnh hưởng chính
trị mạnh mẽ cũng không đủ sức thuyết phục hình thành một ý chí thống nhất giữa
Nhật Bản và ASEAN để đối phó với sự trỗi dậy mạnh mẽ của Trung Quốc ở Biển
Đông. Lợi ích chiến lược về hàng hải và chủ quyền của các thành viên ASEAN ở Biển
Đông và quan điểm khác nhau của họ đối với Trung Quốc đã là thách thức khiến
ASEAN khó khăn trong việc phối hợp lợi ích chiến lược và hình thành một lập trường
thống nhất. Một số quốc gia còn lo lắng sự can thiệp từ bên ngoài sẽ làm phức tạp
quá trình đàm phán về quy tắc ứng xử giữa ASEAN và Trung Quốc. Bắc Kinh muốn
đàm phán song phương về vấn đề Biển Đông và liên tục phản đối “quốc tế hóa” các
tranh chấp. Thứ hai, việc thúc đẩy quan hệ an ninh song phương giữa Nhật Bản và
các nước ASEAN cùng với các hoạt động trên cơ sở liên minh Mỹ-Nhật không chắc sẽ
đánh giá được thái độ hung hăng của Trung Quốc. Thay vào đó, Bắc Kinh sẽ phản ứng
tiêu cực trước sự hợp tác giữa Tokyo với
Manila (hoặc Hà Nội) và sự can thiệp của Washington khiến căng thẳng leo thang.
Cuối cùng, liệu sự tham gia tích cực của Nhật Bản vào Biển Đông có thể tác động
tích cực đến vấn đề Biển Hoa Đông như Nhật Bản mong muốn hay không.
Tuy nhiên, Tokyo vẫn nên thể hiện vai trò và phải chứng
minh được thái độ tích cực đối với vấn đề này vì sự ổn định ở Biển Đông có vai
trò quan trọng đối với hàng hải cũng như an ninh Đông Á và hai nước
Philippines, Việt Nam luôn kỳ vọng vào đồng minh của Mỹ là Nhật Bản sẽ góp phần
giải quyết vấn đề an ninh trong khu vực./.
日本对东海问题的接近方式 (第一期)
19:56 |
东海领土争议长久以来是东盟与中国的热点问题,甚至影响到亚洲其他没有参与领土争议的有关国家,例如日本。虽然并未直接参与东海领土争议,但由于东亚地区的和平与稳定,日本非常关注东海问题。日本要保护东海海域上的航行自由与安全,因为经过东海的航线对日本的能源供应以及贸易运输都非常重要。
由于中国、印度等新兴国家的崛起,日本的国家战略也有所改变。在东海问题上,日本也逐渐调整自己的政策。东海地区的主权争议成为日本关注的焦点。在当今的战略思维中,日本为了对付中国在华东海以及亚洲地区的强硬态度已经把东海问题与话东海问题紧密地连接在一起。从这一连接关系上,日本提出了新的政策,那就是加强与东盟国家的关系。这体现于日本首相安倍选择越南、泰国、印尼等东盟国家作为从2012年12月当选第二任日本首相后的国外访问第一站。
另外,美国对东海问题的日益关注也影响到其在东亚地区多年盟友的日本。日本将通过加强美日盟友关系以及支持美国“再平衡战略”等措施加强自己在东海地区的影响力。
目前,日本参与东海问题以达到三大目标。其一,维持东海地区的和平与稳定,保证日本能源供应以及冒雨运输航线的安全和东海地区的和平与稳定。中国在东海地区的主权主张严重影响到需要经过东海海域的日本船只,另外也可能由于影响到美国海军的正常活动而对美 – 日 的盟友关系造成影响。所以,日本一直支持中国与东盟谈判建设“东海各方行为准则(DOC)”,并不断呼吁中国通过双边谈判解决东海争议,参加多边讨论以便分享信息和解决争议的观点,减少紧张爵士升级的可能性。
其二,日本郑迫切需要对中国日以强硬的态度以及日本 – 中国在华东海地区不断升级的紧张局势做出对策。中国巡逻船曾多次侵犯日本所主张的领海主权。由于担心华东海问题,日本非常关注东海问题,并需要与东盟国家通过双边与多边合作对付中国的强硬态度。
其三,与上述两个目标有关,日本作为美国多年的盟友需要对美国在东海地区的政策表示支持。而且,美国也强硬宣布将维护原本是日本所关注的东海地区的海上航行自由源泉。
Phương thức tiếp cận Biển Đông của Nhật Bản (Kỳ I)
19:54 |
Tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông từ lâu đã là vấn đề phức tạp
và nóng bỏng giữa ASEAN và Trung Quốc, thậm chí liên quan đến cả khu vực châu Á
Thái Bình Dương, trong đó có các nước không tranh chấp như Nhật Bản. Mặc dù không
liên quan đến việc tranh chấp lãnh thổ song vì hòa bình và ổn định ở Đông Á, Nhật Bản đặc biệt quan tâm đến vấn đề BiểnĐông. Do đó Nhật
Bản phải bảo vệ tự do hàng hải vì các tuyến đường biển đóng vai trò vô cùng
quan trọng đối với việc cung cấp năng lượng và thương mại của Nhật Bản.
Hiện nay, chiến lược của Nhật Bản đã thay đổi nhiều chủ yếu
vì ảnh hưởng của các cường quốc mới nổi như Trung Quốc và Ấn Độ. Theođó, ưu
tiên cho chính sách tham gia vào vấn đề Biển Đông của Nhật Bản cũng đượcđiều chỉnh.
Trong bối cảnh trò chơi quyền lực Mỹ-Trung hiện đang diễn ra ở khu vực Đông Á,
Nhật Bản xác định mình như một “cường quốc trung gian ảnh hưởng”.Việc Nhật Bản
giảm tương đối sức mạnh và ảnh hưởng trong khu vực cho thấy nước này không còn
vị thế danh giá trong cộng đồng quốc tế. Thay vào đó, tranh chấp lãnh thổ nổi
lên ở Biển Đông trở thành quan ngại an ninh nghiêm trọng cho nước này làm thế
nào để kìm chế một Trung Quốc mạnh mẽ và cứng rắn ở vùng Biển HoaĐông. Trong tư
duy chiến lược hiện nay, chính phủ Nhật Bản đã liên kết chặt chẽvấn đề Biển Hoa
Đông với vấn đề Biển Đông. Bắt nguồn từ mối liên kết này, một chính sách được
đưa ra là đổi mới và tăng cường quan hệ với các nước ASEAN, điều này được minh
chứng qua sự lựa chọn điểm đến đầu tiên của Thủ tướng Abe trong các chuyến công
du là các nước Việt Nam, Thái Lan và Indonesia kể từ khi bắt đầu nhiệm kỳ thủ
tướng thứ hai của ông vào tháng 12 năm 2012.
Hơn nữa, sự quan tâm ngày càng tăng của Mỹ ở BiểnĐông tác
động đến Nhật Bản với vai trò là một đồng minh của Mỹ ở Đông Á. Nhật Bản sẽ
tăng cường sự tham gia của mình vào Biển Đông thông qua củng cố liên minh Mỹ-Nhật
và ủng hộ chiến lược "tái cân bằng" của Mỹ.
Hiện nay Nhật Bản tiếp cận Biển Đông thông qua nhiều hoạt
động và đa chiều hơn. Nhật Bản hiện có ba mục tiêu chính khi tham gia vào các vấn
đề Biển Đông: Thứ nhất, ổn định ở Biển Đông để đảm bảo tuyến đường thương mại
và vận chuyển năng lượng cũng như một môi trường an ninh ổn định ở Đông Á không
bị ảnh hưởng bởi các tranh chấp. Ngoài ra, nỗ lực của Trung Quốc nhằm mở rộng ảnh
hưởng đáng kể đối với các vùng biển và khả năng biến Biển Đông trở thành vùng
"nội thủy" của Trung Quốc có thể gây trở ngại cho lưu lượng tàu thuyền
của Nhật Bản tại vùng biển mà Trung Quốc kiểm soát và có thể ảnh hưởng đến quan
hệ đồng minh Mỹ-Nhật do liên quan đến hoạt động của Hải quân Mỹ.Về vấn đề này,
trong cuộc đàm phán giữa Trung Quốc và ASEAN để xây dựng quy tắc ứng xử, Tokyo
đều bày tỏ ủng hộ cần phải phát triển ổn định. Nhật Bản cũng khuyến khích Trung
Quốc đàm phán song phương để giải quyết các tranh chấp lãnh thổ,tham gia thảo
luận đa phương để chia sẻ thông tin và quan điểm giải quyết, hoặc làm giảm căng
thẳng xung quanh vấn đề này.
Thứ hai, Nhật Bản đang rất cần đối phó với sự cứng rắn
ngày càng tăng của Trung Quốc và vấn đề căng thẳng leo thang giữa Nhật Bản-Trung
Quốc ở Biển Hoa Đông, nơi tàu tuần tra Trung Quốc nhiều lần xâm phạm chủ quyềnđi
vào vùng lãnh hải, của Nhật Bản. Do lo ngại về vùng Biển Hoa Đông nên Nhật Bản
hết sức quan tâm đến vấn đề Biển Đông và cần hợp tác với ASEAN cả đa phương lẫn
song phương để khẳng định thống nhất cùng nhau ngăn chặn sự hung hăng của Trung
Quốc.
Thứ ba, liên quan đến hai mục tiêu trước đó, Nhật Bản hỗ
trợ các chính sách của Mỹ đối với vùng Biển Đông như một đồng minh vì Mỹ mạnh mẽ
tuyên bố sẽ đảm bảo vấn đề tự do, lưu thông hàng hải và an toàn thương mại trên
Biển Đông vốn là vấn đề quan trọng đối với Nhật Bản. (Còn nữa)
美国在东海的利益 (继续)
19:03 |
军事利益
东海市美国防守系统中重要的交通路线,以便对付像在马六甲海峡的海盗与恐怖威胁的传统与非传统安全问题。2004年4月,美国为了加强与该地区的各国家的伙伴关系,通过国家法律与国内法律加强对航行威胁的控制与制止能力提出了“地区航行安全倡议”。该倡议允许美国将海军力量带到马六甲海峡,进行对恐怖、海盗,毒品走私与人口贩运的制止。
美国维持在日本和菲律宾的军事基地,旨在实现保护日本和菲律宾同盟的任务,从此巩固美国在东海的利益和肯定美国在该领域的地位。当美国和菲律宾于1995年签署“两国间交换军事协议”后,美国第7舰队被允许停靠在菲律宾东海的各海港。
美国认为中国加强军事力量,特别是在东海的海军力量已经影响到美国的角色和在亚洲-太平洋区域的力量平衡,虽然目前美国仍然评价自己的军事实力远远超过中国的实力。
美国对东海问题的政策
美国对亚太地区实行了一贯多年的政策。该政策在奥巴马政府期间继续延续下去。
美国在东海的对外政策重点在于保护美国以及同盟的利益,美国希望在东海地区看到和平与发展而并不是武装冲突。美国希望与该地区的沿海国家维持平衡关系。另外,东南亚在美国亚太战略中占据着非常重要的地位。从冷战末期以来,美国一直力求控制东南亚地区,获得地缘政治优势,从而实现遏制其他大国的崛起。
在很长的一段时间中,美国对东海争议实现“不干预”政策。从冷战结束后,美国开始更加关注东海的争议。美国并未对参与正义的任何一方表示支持,但支持这些国家通过和平方式解决争议。
美国一直认为“各国间的海洋主权问题,特别是发生海洋主权争议时,需要各国通过联合国海洋法公约进行划分,但美国自己对联合国海洋法公约却比较复杂。这曾经成为美国内部在四分之一世纪中的一个引起争议的问题。美国国会支持联合国海洋法公约,美国总统于1994年签署了该公约。但该公约尚未得到美国上议院的批准,因为其认为该公约将损害美国的利益,例如冲突写上问题、深水区域的资源开发权、联合国国际官员机构的合法全力等。
在中国与菲律宾于1995年2月发生美济礁(Mischief Reef)争端后,克林顿政府的反应比较谨慎,并重复美国一直以来对东海地区的政策观点。美国外交部表示美国强烈反对任何国家使用武力或威胁使用武力肯定对海洋海岛主权。美国不倾向与参与正义的任何一方,并支持东海争议中的和平解决方案。美国也对限制在东海地区的航行自由的任何宣布深表关切。
巩固与同盟与合作伙伴的关系
为了保护自己的利益,美国巩固与日本、菲律宾等盟国的关系,加强部署军事力量,保证区域安全与美国在东海地区的地位。与东盟有相关活动的美 – 日安全联盟可以帮助促进东海问题的长久解决方案。
美国鼓励亚洲国家发展多边安全关系。为了解决长沙群岛的争议问题,美国强调与菲律宾的军事联盟的重要性,并支持东盟建立多边机制的努力。
加强与中国的关系
美国对中国在东海的主权主张以及中国军事预算的不断增加、各种肯定主权的经济与军事活动,同时否认其他国家的主权等表现深表关切。但同时,美国继续加强与中国的关系,合作开发油气以保护经济利益,合作打击海盗以保护东海航行的安全。美国还希望加强美 - 中的海军合作以维持亚太地区及东海地区的安全。
近期连续发生美国与中国军舰的冲突。虽然美国以主动改善与中国的关系,但情况仍不如所愿,例如中国因美国公布向台湾出售武器而停止两国间的军事交流活动。
支持与鼓励东盟
美国支持与鼓励东盟合作解决东海争议,维持地区的稳定。美国已发展一项正式的合作机制,该机制被认为将减少紧张以及冲突危机。美国希望各方一起营造和平与稳定的国际环境。美国也打算开始加入东盟友谊与合作协定的进程,从此干预东亚峰会进程。东盟对美国来说占据着非常重要的位置,是美国努力营造的亚洲地区合作机制的核心。
东盟与中国已于2002年11月4日签署了东海各方行为宣言(DOC)。这是东盟与中国之间第一个有关东海的官方政治文件。美国评论称DOC并没有存在任何帮助解决争议的约束力,但该文件的作用在于帮助各方保持克制,并尊重东海地区海上与空上航行自由。DOC 以及在将来形成的COC 都只能减轻紧张局势,推动合作,建立东盟与中国间的互信,而并不是 管理与防治潜在冲突有效的机制。
总之,美国国内舆论近期认为美国利益因东海争议升级而受到威胁,并对中国现代化海军力量表示关注。美国海军上将蒂莫西·J·基廷表示中国海军力量近期的战略动态体现了改过的野心。所以,有观点认为美国“不干预”政策不再完全保护美国在东海的利益,美国要更多参与到该地区的事务。美国似乎正在改变对东海地区沿海国家的对外政策从“不干预”到“部分干预”的战略政策。
Mỹ được lợi gì ở Biển Đông (Tiếp theo Kỳ I)
19:00 |
Lợi ích quân sự
Biển Đông là tuyến đường giao thông quan trọng
trong hệ thống phòng thủ của Mỹ nhằm đối phó với các thách thức an ninh truyền
thống và phi truyền thống như chống hải tặc và khủng bố, đặc biệt tại eo biển
Malacca. Mỹ đã đưa ra “Sáng kiến an ninh hàng hải khu vực” hồi tháng 4/2004 nhằm
phát triển quan hệ đối tác với các nước trong khu vực có khả năng kiểm soát và
ngăn chặn các mối đe dọa hàng hải thông qua luật quốc tế và trong nước. Sáng kiến
này có thể cho phép Mỹ đưa lực lượng hải quân tới eo biển Malacca để ngăn chặn
khủng bố, hải tặc, buôn lậu ma túy và người.
Mỹ duy trì các căn cứ quân sự tại Nhật Bản và Philippines
nhằm thực hiện nhiệm vụ bảo vệ đồng minh Nhật Bản và Philippines, từ đó củng cố
lợi ích và khẳng định vị thế của Mỹ ở Biển Đông. Sau khi Mỹ và Philippines ký “Hiệp
định trao đổi quân sự giữa hai nước” năm 1995, hạm đội 7 của Mỹ đã được phép
neo đậu lại tại các cảng của Philippines ở Biển Đông.
Mỹ cho rằng Trung Quốc tăng cường sức mạnh
quân sự, nhất là hải quân ở biển Đông ảnh hưởng đến vai trò của Mỹ và
sự cân bằng lực lượng ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương mặc dù hiện
nay Mỹ vẫn đánh giá sức mạnh quân sự của nước này vượt xa Trung
Quốc.
Chính sách của Mỹ đối với vấn đề Biển Đông
Chính sách của Mỹ đối với khu vực châu Á - Thái
Bình Dương được duy trì nhất quán trong nhiều năm và đường lối chính sách này vẫn
tiếp tục dưới thời chính quyền Obama.
Chính sách đối ngoại của Mỹ tại Biển Đông tập
trung vào việc bảo vệ lợi ích của Mỹ và đồng minh, Mỹ muốn thấy sự phát triển
chứ không phải là xung đột vũ trang xảy ra tại Biển Đông. Mỹ cũng muốn duy trì
quan hệ cân bằng với các nước ven biển ở khu vực. Ngoài ra, Mỹ coi Đông Nam Á rất
quan trọng trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Từ cuối chiến tranh lạnh, Mỹ
đã tìm kiếm quyền kiểm soát Đông Nam Á để giành lợi thế địa chính trị với mục
tiêu ngăn cản sự nổi lên của các cường quốc khác.
Trong một thời gian dài, Mỹ duy trì chính sách
“không can dự” vào các tranh chấp ở Biển Đông. Từ sau chiến tranh Lạnh, Mỹ bắt
đầu quan tâm nhiều hơn tới xung đột tại Biển Đông khi các tranh chấp tuyên bố
chủ quyền tại khu vực và các hoạt động đơn phương của các nước ven biển để hỗ
trợ lập trường đang tăng lên. Mỹ không ủng hộ bất kỳ bên nào trong các tranh chấp,
nhưng tin rằng các nước này nên giải quyết bằng phương pháp hòa bình.
Mỹ luôn cho rằng “Vấn đề quyền chủ quyền hàng hải
giữa các nước, đặc biệt khi có những bất đồng, phải được các nước thiết lập theo
Công ước Luật biển của Liên Hợp Quốc” nhưng quan điểm của Mỹ đối với Công ước
Luật biển Liên Hợp Quốc khá phức tạp. Đây đã từng là một vấn đề gây tranh cãi của
nội bộ Mỹ trong một phần tư thế kỷ. Quốc hội Mỹ ủng hộ Công ước Luật biển Liên
Hợp Quốc và Tổng thống Clinton đã ký công ước này năm 1994. Nhưng Công ước này
chưa được Thượng viện thông qua vì cho rằng công ước sẽ gây rủi ro cho lợi ích
của Mỹ, như việc thỏa thuận xung đột, quyền khai thác tài nguyên tại vùng nước
sâu, và quyền hành hợp pháp của bộ máy quan chức quốc tế thuộc Liên Hợp Quốc.
Sau vụ tranh chấp tại bãi đá Vành Khăn giữa Trung
Quốc và Philippines tháng 2/1995, chính quyền Clinton đã phản ứng thận trọng và
lặp lại quan điểm chính sách lâu nay trong vấn đề Biển Đông. Bộ Ngoại giao Mỹ
cho biết Mỹ phản đối mạnh mẽ việc đe dọa hay sử dụng vũ lực để khẳng định chủ
quyền của bất kỳ nước nào. Mỹ không đứng về phía bất kỳ nước nào đang có tuyên
bố tranh chấp và mong muốn ủng hộ giải pháp hòa bình trong tranh chấp tại Biển
Đông. Mỹ cũng quan ngại sâu sắc tới các tuyên bố hàng hải hay hạn chế hoạt động
hàng hải tại Biển Đông không tuân theo luật quốc tế.
Củng cố quan hệ với đồng minh và đối tác
Để bảo vệ lợi ích của mình, Mỹ củng cố quan hệ với
đồng minh như Nhật Bản và Philippines để triển khai lực lượng quân sự, đảm bảo
an ninh khu vực và vị thế tại Biển Đông. Liên minh an ninh Mỹ - Nhật, đang hoạt
động liên kết với ASEAN, có thể thúc đẩy một giải pháp lâu dài tại Biển Đông.
Mỹ khuyến khích các nước châu Á phát triển quan hệ
an ninh đa phương. Để giải quyết với vấn đề tranh chấp tại quần đảo Trường Sa,
Mỹ nhấn mạnh tầm quan trọng của liên minh quân sự với Philippines và ủng hộ nỗ
lực xây lực cơ chế đa phương của ASEAN.
Tăng cường quan hệ với Trung Quốc
Mỹ quan ngại tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc tại
Biển Đông, ngân sách quân sự ngày càng tăng, các hoạt động kinh tế và quân sự để
khẳng định chủ quyền trong khi phủ nhận chủ quyền của các nước khác. Nhưng đồng
thời Mỹ tăng cường quan hệ với Trung Quốc, hợp tác khai thác dầu khí để bảo vệ lợi
ích kinh tế, chống hải tặc để bảo vệ an toàn hàng hải ở Biển Đông. Mỹ còn muốn
tăng cường hợp tác hải quân giữa Mỹ và Trung Quốc nhằm duy trì an ninh ở châu
Á- Thái Bình Dương và Biển Đông.
Gần đây xảy ra liên tiếp các vụ đụng độ giữa tàu hải
quân Mỹ và Trung Quốc, mặc dù Mỹ đã đi đầu trong việc cải thiện quan hệ với
Trung Quốc, nhưng mối quan hệ này không được như mong muốn. Ví dụ như việc
Trung Quốc ngừng hoạt động trao đổi quân sự giữa hai nước do Mỹ công bố bán vũ khí
cho Đài Loan.
Ủng hộ và khuyến khích ASEAN
Mỹ ủng hộ và khuyến khích ASEAN hợp tác để giải
quyết hòa bình các tranh chấp ở Biển Đông, duy trì ổn định trong khu vực. Mỹ đã
phát triển một cơ chế hợp tác chính thức giúp hài hòa cả hai bên dựa trên luật
quốc tế như Công ước Luật biển Liên Hợp Quốc, và cơ chế này được tin là sẽ tối
thiểu hóa các căng thẳng. Mỹ muốn các bên tạo ra môi trường ổn định và hòa
bình. Mỹ cũng dự định bắt đầu tiến trình tiến tới gia nhập Hiệp định Hữu nghị
và Hợp tác của ASEAN, can dự vào tiến trình Thượng đỉnh Đông Á. ASEAN có vị trí
rất quan trọng đối với Mỹ và là nòng cốt chủ chốt trong cơ chế hợp tác khu vực
đang nổi lên tại châu Á nơi Mỹ có cam kết sâu sắc.
ASEAN và Trung Quốc đã ký Tuyên bố chung về ứng xử
của các bên ở Biển Đông (DOC) ngày 4/11/2002. Đây là văn bản chính trị chính thức
đầu tiên liên quan đến Biển Đông giữa ASEAN và Trung Quốc. Mỹ đánh giá DOC là một
văn kiện không có sự ràng buộc để giải quyết tranh chấp nhưng có tác dụng giúp
các bên học cách kiềm chế và tôn trọng tự do hàng hải và trên không. DOC và COC
nếu được xây dựng chỉ có tác dụng làm giảm căng thẳng, thúc đẩy hợp tác và xây
dựng lòng tin giữa ASEAN và Trung Quốc, chứ chưa phải là một cơ chế hiệu quả quản
lý và ngăn chặn các xung đột tiềm năng.
Tóm lại, các giới ở Mỹ gần đây cho là lợi ích của
Mỹ bị đe dọa do tranh chấp Biển Đông leo thang đồng thời quan tâm hơn tới việc
hiện đại hóa lực lượng hải quân của Trung Quốc trong khu vực. Đô đốc Timothy J.
Keating cho biết động thái chiến lược gần đây của lực lượng hải quân Trung Quốc
thể hiện tham vọng của nước này. Do đó, đã có ý kiến cho rằng chính sách “không
can dự” của Mỹ không còn hoàn toàn bảo vệ lợi ích của Mỹ tại Biển Đông, Mỹ cần
dính líu hơn vào khu vực này. Mỹ dường như đang thay đổi từ “không can dự” tới “can
dự một phần” trong chính sách đối ngoại với các nước ven biển và ASEAN tại Biển
Đông.
Hot (焦点)
-
胡志明是二十世纪越南革命杰出的马克思主义思想家。他老人家的思想是马克思列宁主义在符合越南的条件和历史背景基础上的运用、发展与创新,体现着时代精神及现代与当代世界的运动与发展趋势。 1 、胡志明思想、道德、风格体系的道德榜样。他老人家的思想合成了越南革命及革命之路的战略策...
-
为维护国家海岛主权,越南历代封建王朝都着重投资建设强大的水军力量。越南丁、李、陈、黎、阮等王朝的水军力量不断得到加强和完善。这支水军为捍卫祖国事业作出了巨大贡献,在各个阶段留下了历史烙印。 至今还收藏的古籍显示,越南历代封建王朝早已对黄沙群岛和长沙群岛确立主权、实施...
-
1954 年《日内瓦协议》签署之后,越南暂时被分成南北两方不同政治制度的政体。据此,越南北纬 17 度以南的领土(包括黄沙、长沙两群岛)由越南共和国政府管辖。根据《协议》规定,法国殖民者被迫撤离越南之后,西贡政权立即派遣海军力量接管黄沙、长沙两群岛并对其行使主权。与此同时,...
-
(VOVWORLD) - 越南伟大领袖胡志明主席的思想、道德、作风、革命生涯是越南全党、全民学习和实践胡志明道德榜样的生动和具有说服力的楷模。至今,越南开展学习和实践胡志明道德榜样运动已有 8 年并取得多项重要结果。 胡志明主席在其革命生涯中牺牲个人利益,为祖国和人...
-
越南的黄沙群岛位于东海(中国称南海)北边,处于北纬 15°45′ 至 17°15′ 、东经 110° 至 113° ,距越南广义省李山岛约 120 海里。黄沙群岛由 37 多个岛、洲、礁和沙滩组成,分为西面和东面两个群岛。东面为安永群岛(中国称宣德群岛),由 12 个岛、洲...
-
数十年来,中国人拿出大量书籍、资料和史料,企图证明从两千年前的汉朝起,中国人就发现了西沙和南沙(即越南的黄沙群岛和长沙群岛),从而说古代中国发现西沙南沙群岛就足够证明中国对西沙和南沙的不可争议的领土主权。据说,中国人最迟于唐宋发现南沙群岛至今,就一直在岛上及其海域从事生产活...
-
越南对黄沙、长沙两座群岛的主权不仅在越南古籍和古文献中有记载,而且还出现在西方航海家和传教士等的书籍、报纸、地图、日记、航路指南等外国资料中。这些资料描述黄沙、长沙“是越南中部海上的一块沙渚…”,这和越南同一历史时期资料和古地图描述的类似。法国 1936 年在印度支那建立的...
-
BDN - 位于东海边国土陆地呈 “S” 字形的越南,无形中拥有沿着国土走向三千公里海岸及依照 1982 年《联合国海洋法公约》从岸边向外延伸的辽阔海域。这意味着从越南 1982 年 11 月确定和公布的垂直基线算起往外延伸 200 海里宽的海域属越南的主权,被称作专属经济...
-
从十六、十七世纪至今,西方国家的轮船日益频繁来往于东海。他们来到这里,不只为了扩大贸易还为了传教和传播西方文化。在来往东海期间,西方航海家和传教士们以当时最现代的技术很详细地描述和绘画黄沙群岛和长沙群岛,以避免这两个群岛的礁石给来往的船舶造成危害。为此,他们很仔细地研究东海...
-
香港媒体最近透露中国在东海划分“新边界线”的海洋研究项目,为“资源研究”创造了条件,北京对这片海域的主权主张“增添了筹码”。这条新边界线是一条与囊括了蕴藏着丰富矿产和能源资源的东海海域九段线相吻合的实线,九段线内的海域就是北京声索主权的那片海域。 从国际法的角度来看实线...









