海洋8号事件:中国正在“践踏”国际法(第三期)
10:53 |
国际社会强烈谴责
国际社会立即对中国派遣海洋8号考察船在越南专属经济区和大陆架范围内非法活动,令东海紧张局势进一步升级的行为表示谴责。 亚洲海事透明倡议(AMTI)表示,最近几个月,中国在马来西亚和越南的领海实施了骚扰两国海上油气开采活动的行为,其中包括部署海洋8号地质勘测船以及护卫舰在越南大陆架思政滩附近进行地质勘测活动。 AMTI报告还指出,中国在马来西亚和越南水域以外的行动表明,中国愿意采取强制性措施,并威胁使用武力阻止邻国的油气勘探、开发活动。
作为太平洋沿岸国家并曾经宣称对世界最大的大洋--太平洋--拥有“核心利益”,美国对中国在东海的非法行为做出了强烈反应。东海的和平,安全与稳定。美国国务院、国防部以及许多高级官员强烈批评了中国“不断对其他东海主权声索国的离岸石油与天然气开发活动展开挑衅行动,这对地区的能源安全构成威胁,并损害了印太能源市场的自由与公开。”
美国国务院的声明呼吁中国“停止其欺凌行为,不要进行这种挑衅和破坏稳定的活动”。美国国家安全顾问约翰·博尔顿强调:“胁迫行为和欺凌策略威胁区域和平与安全,美国坚决支持反对胁迫行为和欺凌策略的各方”。英国,欧盟,日本,印度,澳大利亚官员……也发表声明表示关切,谴责中国在越南水域的非法行径,并呼吁北京遵守。遵守国际法,制止挑衅行为,侵犯另一个国家的领土,并防止在东海进行合法的油气勘探活动。
此外,区域和全球舆论表示,作为亚太地区的大国、联合国安理会常任理事国和《联合国海洋法公约》缔结国,中国有责任与义务在东海地区乃至全球范围内维护和平稳定,促进友谊合作。 因此,中国必须立即从专属经济区(EEZ)和东海地区越南的大陆架撤出海洋8号考察船,以缓解当前的紧张局势。
关于中国海洋8号考察船队严重侵犯越南在东海的主权和管辖权,越南外交部曾多次表示抗议。 因此,越南多次与中方联系,颁发外交照会进行抗议,坚决要求立即制止违法行为,将所有船只撤出越南水域; 尊重越南的主权和管辖权,以维护该地区的双边关系以及稳定与和平。 越南还表示,越东海上部队继续采取适当措施,以和平合法的方式行使主权,主权和管辖权,以保护海洋。越南 越南外交部发言人再三重申,越南对东海水域拥有主权,主权和管辖权,这是根据1982年《联合国海洋法公约》的规定确定的。东海都是国家。 因此,在越南水域进行的所有外国活动都必须遵守1982年《海洋法公约》的有关规定和越南法律。 未经越南许可,在越南水域内的所有外国活动都是无效的,侵犯了越南水域,违反了国际法和《 1982年联合国海洋法公约》。越南的一贯政策是:根据国际法,1982年《海洋法公约》坚决和持久地打击任何侵犯越南在确定水域的主权,主权和管辖权的行为。根据1982年《海洋法公约》。越南非常重视和平,友谊,合作,善意和以和平手段解决争端和分歧的意愿。 在此基础上,越南在过去一段时间内同时采取和平措施解决了这一问题,努力要求尊重越南水域,越南的合法权益。他的水,没有任何事情使情况复杂化。 越东海上力量一直以和平合法的方式行使和平,主权和管辖权,以保护越南水域。
Hải Dương 8: TQ đang “chà đạp” lên luật pháp quốc tế (phần 3)
08:49 |
Cộng đồng quốc tế phản đối
Cộng đồng quốc tế đã ngay lập tức có phản ứng trước hành vi gây căng thẳng trên Biển Đông của Trung Quốc khi đưa nhóm tàu Hải Dương 8 xâm phạm vùng biển thuộc chủ quyền không thể tranh cãi và bác bỏ của Việt Nam. Tổ chức Sáng kiến minh bạch hàng hải châu Á (AMTI) nêu rõ, trong những tháng gần đây, Trung Quốc đã có những hành vi quấy rối các hoạt động khai thác dầu khí ngoài khơi thuộc vùng lãnh hải Malaysia và Việt Nam, trong đó có việc triển khai tàu khảo sát địa chất Hải Dương 8 với sự hộ tống của các tàu hải cảnh tiến hành các hoạt động khảo sát địa chất gần bãi Tư Chính thuộc thềm lục địa Việt Nam. Báo cáo của AMTI cũng chỉ rõ, những hành vi của Trung Quốc ở ngoài khơi Malaysia và vùng biển Việt Nam cho thấy nước này sẵn sàng có hành động cưỡng ép và dọa dùng vũ lực để ngăn cản các hoạt động thăm dò, khai thác dầu khí của các nước láng giềng.
Mỹ với vai trò là quốc gia nằm bên bờ Thái Bình Dương và đã tuyên bố “có lợi ích sống còn” trên đại dương rộng lớn nhất thế giới này, Mỹ đã có những phản ứng mạnh trước hành vi gây căng thẳng, đe dọa hòa bình, an ninh và ổn định trên Biển Đông của Trung Quốc. Bộ Ngoại giao, Bộ Quốc phòng Mỹ cùng nhiều quan chức đã chỉ trích các hành động khiêu khích lặp đi lặp lại của Trung Quốc nhằm vào các hoạt động phát triển dầu mỏ và khí đốt của các quốc gia có tuyên bố chủ quyền khác trong khu vực đã đe dọa an ninh năng lượng khu vực và làm tổn hại tới thị trường năng lượng của khu vực Ấn Độ - Thái Bình Dương tự do và mở. Tuyên bố của Bộ Ngoại giao Mỹ kêu gọi Trung Quốc chấm dứt “hành vi bắt nạt và không thực hiện những hành động khiêu khích cũng như gây bất ổn”. Cố vấn an ninh quốc gia Mỹ John Bolton nhấn mạnh: “Hành động bắt nạt của Trung Quốc” đối với các quốc gia láng giềng Đông Nam Á là phản tác dụng và đe dọa đến hòa bình cũng như ổn định ở khu vực.
Giới chức Anh, EU, Nhật Bản, Ấn Độ, Australia… cũng đưa ra các tuyên bố thể hiện sự quan ngại, lên án những hành vi phi pháp của Trung Quốc trong vùng biển của Việt Nam, đồng thời kêu gọi Bắc Kinh tuân thủ luật pháp quốc tế, chấm dứt các hành vi khiêu khích, xâm phạm lãnh thổ nước khác và ngăn chặn hoạt động thăm dò dầu khí hợp pháp ở Biển Đông.
Ngoài ra, dư luận khu vực và thế giới cho rằng, là cường quốc trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương, một Ủy viên Thường trực của Hội đồng bảo an Liên hợp quốc và một thành viên của Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS) năm 1982, Trung Quốc phải có trách nhiệm và nghĩa vụ góp phần gìn giữ môi trường hòa bình ổn định, thúc đẩy hợp tác, hữu nghị trên toàn thế giới cũng như trong khu vực Biển Đông. Trung Quốc vì thế phải rút ngay nhóm tàu Hải Dương 8 khỏi vùng biển thuộc vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) và thềm lục địa Việt Nam ở khu vực phía Nam Biển Đông để làm giảm căng thẳng hiện nay.
Trước việc Trung Quốc đưa nhóm tàu Hải Dương 8 xâm phạm nghiêm trọng chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam ở Biển Đông, Bộ Ngoại giao Việt Nam đã nhiều lần lên tiếng phản đối. Theo đó, Việt Nam đã tiếp xúc nhiều lần với phía Trung Quốc, trao Công hàm phản đối, kiên quyết yêu cầu chấm dứt ngay các hành vi vi phạm, rút toàn bộ tàu ra khỏi vùng biển Việt Nam; tôn trọng quyền chủ quyền, quyền tài phán của Việt Nam vì quan hệ hai nước và ổn định, hòa bình ở khu vực. Việt Nam cũng nêu rõ, các lực lượng chức năng trên biển của Việt Nam tiếp tục triển khai nhiều biện pháp phù hợp thực thi chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán một cách hòa bình, đúng pháp luật nhằm bảo vệ vùng biển Việt Nam. Người Phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam nhiều lần khẳng định, Việt Nam có chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán đối với các vùng biển ở Biển Đông được xác định theo đúng các quy định của UNCLOS 1982 mà Việt Nam và các nước ở Biển Đông đều là thành viên. Do đó, mọi hoạt động của nước ngoài trên các vùng biển Việt Nam phải tuân thủ các quy định có liên quan của UNCLOS 1982, pháp luật Việt Nam. Mọi hoạt động của nước ngoài trên các vùng biển Việt Nam nếu không được phép của Việt Nam đều vô giá trị, xâm phạm vùng biển Việt Nam, vi phạm luật pháp quốc tế và UNCLOS 1982. Chủ trương nhất quán của Việt Nam là kiên quyết, kiên trì đấu tranh bằng các biện pháp hòa bình, phù hợp với luật pháp quốc tế, UNCLOS 1982 trước bất cứ hành vi nào xâm phạm chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam trên các vùng biển được xác định phù hợp với UNCLOS 1982. Việt Nam hết sức coi trọng hòa bình, hữu nghị, hợp tác, thiện chí và sẵn sàng giải quyết các tranh chấp, bất đồng bằng các biện pháp hòa bình. Trên cơ sở đó, trong thời gian qua, Việt Nam đã triển khai đồng bộ các biện pháp hòa bình để giải quyết vấn đề, đấu tranh yêu cầu tôn trọng vùng biển Việt Nam, các quyền và lợi ích hợp pháp của Việt Nam trên vùng biển của mình, không có hành động làm phức tạp tình hình. Các lực lượng chức năng trên biển của Việt Nam đã và đang thực thi chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán một cách hòa bình, đúng pháp luật nhằm bảo vệ vùng biển Việt Nam.
海洋8号事件:中国正在“践踏”国际法(第二期)
10:52 |
北京“践踏”国际法
中国的行动表明,该国严重违反了国际法的规定,特别是《联合国宪章》、《联合国海洋法公约》,《东海行为宣言》以及中国与越南所签署的双边协议。
中国违反了遵守国际承诺的原则:遵守国际承诺的原则是《联合国宪章》第二条第二款规定的国际法基本原则之一。因此,每个国家都有义务自愿和真诚地履行该国对已缔结的国际条约的义务。 许多其他国际条约也承认这一原则。《联合国宪章》的序言肯定了成员国的承诺:“创造必要的条件,以确保正义并尊重国际条约以及其他来源的国际法所规定的义务”。 《维也纳国际条约法公约》第二十六条还规定:“所有生效的条约对缔约国均具有约束力,并必须由当事方真诚执行。” 1970年《国际法原则宣言》; 1975年的《赫尔辛基公约》也阐明了这一原则。
中国违反了《联合国宪章》:中国不仅是联合国成员国,同时还是联合国安理会五个常任理事国之一,但中国并未遵守《联合国宪章》。 中国在东海的活动违反了《联合国宪章》第二条第一款所规定的国家间主权平等的原则,当时中国依靠自己作为一个大国的地位来认为自己拥有许多权利和利益。为了在不侵犯其他国家主权,主权和合法权益的情况下进行军事活动以保护这些权益,在海上进行。 违反《联合国宪章》第二条第三条规定的以和平手段解决国际争端的国家原则。 中国违反《联合国宪章》第二条第4款,特别指出:“成员国限制使用或威胁使用武力,旨在在国际关系中侵犯他国的领土完整和政治独立,或违反联合国的宗旨”。中国同时违犯《联合国宪章》第33条的规定:“争端各方必须首先尝试通过谈判,调查、调解、和解、仲裁、法庭,通过区域组织或协议,或通过自己选择的其他和平方式解决争端”。但,中国在东海的军事化行动完全违背了该规定。
中国违反《联合国海洋法公约》:中国是《联合国海洋法公约》的缔结国,但是,中国不仅没有认真执行《公约》的规定,而且还侵犯了越南的主权和管辖权。公约的规定。 中国也无视《联合国海洋法公约》第123条关于沿海国家在行使权利和履行义务方面相互合作的责任; 违反了《海洋法公约》关于所有国家在保护和维护海洋环境方面的共同义务的第129条,第193条和第196条。 违反航行自由和航空自由。 随着中国推动在东海进行军事化活动,海上和航空安全受到极大影响,航行自由和通行自由不受其他国家的损害,也没有受到损害的权利。航空自由受到限制,面临许多风险和挑战。 此外,中国还违反了《联合国海洋法公约》第87条有关“尊重”的规定,某些国家建立人工岛的权利的享有不应不合理地影响其权益。其他国家以及国际社会 该原则在《海洋法公约》的有关规定中得到了明确阐述,该规定表明,当沿海国在人工岛周围建立安全区时,应确保该区域具有合理的相关性。人工岛的性质和功能,还需要注意安全区的范围。 此外,“如果岛屿,人工结构和构筑物及其周围的安全区影响到公认道路的使用,则可能无法建立。国际海”。
中国违反了《东海各方行为宣言》:中国于2002年与东盟国家签署了《 DOC》,但中国在东海的活动违反了第2条。因此,DOC第3段和第4段,“缔约方承诺寻求在上述平等和相互尊重的基础上,根据上述原则建立相互信任和信任的方式。 ; 各方承诺不进行可能使争端复杂化或加剧并影响区域和平与稳定的活动; 双方重申对国际法普遍接受的原则所规定的航行自由和飞越东海的尊重和承诺,其中包括:都《联合国海洋法公约》。
此外,中国在东海的活动也违背了越南-中国高层领导人在高层访问期间所达成的共识。这些高层共识包括:越南共产党总书记阮富仲访华期间两国签署的联合声明(2011年10月11日至15日)、 越南国家主席张晋创访华期间的联合声明(2013年6月19日至21日)、 中国总理李克强访问越南的联合声明(2013年10月13日至15日)、阮富仲总书记访华的联合声明(2015年4月7日至10日)、阮富仲总书记访华后的联合通告(2017年1月12日至15日)以及习近平总书记、国家主席访问越南的联合声明(12-13/11/2017)。鉴于上述文件,中国违反了以下普遍共识:以两国关系大局为重,从全局与战略高度出发,在“友好邻国、全面合作、长久稳定、面向未来”方针以及“好邻居,好朋友,好同志,好伙伴”精神指导下,坚持通过友好协商,妥善处理和解决海上问题,使东海成为一个和平,友好,合作的海域,为越南和中国之间全面战略伙伴关系的发展和维护地区和平稳定做出贡献。
Hải Dương 8: TQ đang “chà đạp” lên luật pháp quốc tế (phần 2)
09:48 |
Bắc Kinh “chà đạp” luật quốc tế
Hành động của Trung Quốc cho thấy nước này đang vi phạm nghiêm trọng các quy định của luật pháp quốc tế, nhất là Hiến chương Liên hợp quốc, UNCLOS, DOC, thỏa thuận song phương với Việt Nam…
Trung Quốc vi phạm nguyên tắc tôn trọng các cam kết quốc tế: Nguyên tắc tôn trọng các cam kết quốc tế (pacta sunt servanda) là một trong các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế được quy định tại khoản 2 Điều 2 Hiến chương Liên hợp quốc. Theo đó, mọi quốc gia đều có nghĩa vụ thực hiện tự nguyện và có thiện chí, trung thực và đầy đủ các nghĩa vụ đối với các điều ước quốc tế mà nước mình đã tham gia ký kết. Nguyên tắc này cũng được ghi nhận trong nhiều điều ước quốc tế khác. Lời mở đầu của Hiến chương Liên hợp quốc đã khẳng định quyết tâm của các nước thành viên là: “Tạo những điều kiện cần thiết để bảo đảm công lý và tôn trọng những nghĩa vụ phát sinh từ các điều ước quốc tế và các nguồn khác của luật quốc tế đặt ra”. Điều 26 Công ước Viên về Luật Điều ước quốc tế cũng nêu rõ “Mọi điều ước đã có hiệu lực ràng buộc các bên tham gia và phải được các bên thi hành với thiện chí”. Tuyên bố năm 1970 về Các nguyên tắc của luật quốc tế; Định ước Helsinki năm 1975 cũng có nêu rõ nguyên tắc này.
Trung Quốc vi phạm Hiến chương Liên hợp quốc: Không chỉ là thành viên mà Trung Quốc còn là 1 trong 5 Ủy viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, vậy mà Trung Quốc đã không tuân thủ Hiến chương Liên hợp quốc. Hoạt động của Trung Quốc ở Biển Đông đã vi phạm nguyên tắc bình đẳng chủ quyền giữa các quốc gia quy định tại Khoản 1 Điều 2 Hiến chương LHQ khi Trung Quốc dựa vào vị thế nước lớn nên tự cho mình có nhiều quyền và lợi ích trên biển hơn quốc gia khác, để tiến hành hoạt động quân sự nhằm bảo vệ cho những quyền và lợi ích đó bất chấp việc xâm phạm chủ quyền, quyền chủ quyền và các quyền, lợi ích hợp pháp của các nước khác. Vi phạm nguyên tắc các quốc gia giải quyết tranh chấp quốc tế bằng biện pháp hòa bình quy định tại Khoản 3 Điều 2 Hiến chương LHQ. Vi phạm Khoản 4, Điều 2 Hiến chương LHQ, cụ thể quy định “các quốc gia thành viên hạn chế việc đe dọa sử dụng hay sử dụng vũ lực (Vũ lực thông thường được hiểu là vũ lực quân sự, vũ lực do vũ khí, khí tài) trong quan hệ quốc tế chống lại sự toàn vẹn lãnh thổ và độc lập chính trị của các quốc gia khác hoặc trái với các mục đích của LHQ”. Vi phạm Điều 33 Hiến chương LHQ, trong đó quy định: “Các bên tham gia tranh chấp trước tiên phải cố gắng tìm cách giải quyết tranh chấp bằng con đường đàm phán, điều tra, trung gian, hòa giải, trọng tài, tòa án, sử dụng các tổ chức hoặc các hiệp định khu vực, hoặc bằng các biện pháp hòa bình khác tùy theo sự lựa chọn của mình”, tuy nhiên việc quân sự hóa trên các thực thể ở Biển Đông của Trung Quốc hoàn toàn đi ngược lại quy định này.
Trung Quốc vi phạm UNCLOS: Trung Quốc là một thành viên ký UNCLOS, tuy nhiên, Trung Quốc không những không thực hiện nghiêm túc các quy định của Công ước mà còn ngang nhiên vi phạm quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam theo quy định của Công ước. Trung Quốc cũng đã phớt lờ Điều 123 UNCLOS về trách nhiệm của các quốc gia ven biển hợp tác với nhau trong việc sử dụng các quyền và thực hiện nghĩa vụ của họ; vi phạm Điều 129, Điều 193, Điều 196 UNCLOS về nghĩa vụ chung cho tất cả các quốc gia trong việc bảo vệ và giữ gìn môi trường biển. Vi phạm quyền tự do hàng hải, quyền tự do hàng không. Cùng với việc Trung Quốc thúc đẩy các hoạt động quân sự hóa ở Biển Đông, an ninh hàng hải và hàng không bị ảnh hưởng rất lớn, quyền tự do hàng hải và quyền đi qua không gây hại của các quốc gia khác cũng như quyền tự do hàng không bị thu hẹp và phải đối mặt với nhiều nguy cơ, thách thức. Ngoài ra, Trung Quốc cũng vi phạm các quy định Điều 87 UNCLOS, liên quan việc “tôn trọng hợp lý”.Việc hưởng quyền xây dựng đảo nhân tạo của một số quốc gia không nên ảnh hưởng bất hợp lý đến quyền và lợi ích của các quốc gia khác cũng như cả cộng đồng quốc tế. Nguyên tắc này được thể hiện rõ trong các điều khoản liên quan của UNCLOS, nó chỉ ra rằng khi một quốc gia ven biển thiết lập vùng an toàn xung quanh đảo nhân tạo, cần đảm bảo rằng khu vực này liên quan một cách hợp lý đến bản chất và chức năng của hòn đảo nhân tạo ấy, và cũng cần phải đưa ra thông báo về phạm vi của vùng an toàn. Hơn nữa, “đảo, các thiết lập và cấu trúc nhân tạo cùng với các vùng an toàn bao quanh chúng có thể không được thiết lập nếu chúng ảnh hưởng đến việc sử dụng các tuyến đường biển đã được công nhận thiết yếu đối với đường biển quốc tế”.
Trung Quốc vi phạm Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở biển Đông (DOC): Trung Quốc đã ký kết DOC với các nước ASEAN năm 2002, tuy nhiên những hoạt động của Trung Quốc ở Biển Đông đã đi ngược lại Khoản 2, Khoản 3 và Khoản 4 DOC, theo đó, “Các bên cam kết tìm kiếm những cách thức xây dựng lòng tin và sự tín nhiệm lẫn nhau hài hòa với những nguyên tắc nêu trên và trên căn bản bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau; Các bên cam kết kiềm chế không tiến hành các hoạt động có thể làm phức tạp thêm hoặc gia tăng tranh chấp và ảnh hưởng đến hòa bình và ổn định của khu vực; Các bên tái khẳng định sự tôn trọng và cam kết của mình đối với quyền tự do hoạt động hàng hải và bay trên vùng trời Biển Đông như đã được quy định bởi các nguyên tắc được thừa nhận phổ biến trong luật pháp quốc tế, kể cả UNCLOS”.
Ngoài ra, hoạt động của Trung Quốc trên Biển Đông cũng đi ngược lại nhận thức chung của Lãnh đạo Cấp cao Việt Nam - Trung Quốc ký kết trong các chuyến thăm cấp cao như: Tuyên bố chung về chuyến thăm Trung Quốc của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng (11-15/10/2011); Tuyên bố chung về chuyến thăm Trung Quốc của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang (19-21/6/2013); Tuyên bố chung trong chuyến thăm Việt Nam của Thủ tướng Trung Quốc Lý Khắc Cường (13-15/10/2013); Tuyên bố chung liên quan chuyến thăm Trung Quốc của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng (7-10/4/2015); Thông cáo chung sau chuyến thăm Trung Quốc của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng (12-15/1/2017) và Tuyên bố chung liên quan chuyến thăm Việt Nam của Tổng Bí thư, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình (12-13/11/2017). Theo đó, Trung Quốc đã vi phạm nhận thức chung về việc: Lấy đại cục quan hệ hai nước làm trọng, xuất phát từ tầm cao chiến lược và toàn cục, dưới sự chỉ đạo của phương châm “láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai” và tinh thần “láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt”, kiên trì thông qua hiệp thương hữu nghị, xử lý và giải quyết thỏa đáng vấn đề trên biển, làm cho Biển Đông trở thành vùng biển hòa bình, hữu nghị, hợp tác, đóng góp vào việc phát triển quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt Nam-Trung Quốc, góp phần duy trì hòa bình và ổn định trong khu vực.
越老情谊永放光芒
22:57 |
(VOVWORLD) - 2019年是越南援老志愿军和专家传统日70周年。越南共产党和胡志明主席70年前决定组建志愿军和专家力量,援助老挝革命,这对越老两国民族解放斗争事业具有特别重要的意义,传递了纯洁的国际共产精神,成为越老特殊团结友好情谊的生动表现。
落实两党、两国、两国军队和人民之间的协议,越南人民军承担起国际义务,援助老挝革命完成民族解放、保卫祖国的事业。遵循胡志明主席“帮助朋友也是帮助自己”的教导,历代越南志愿军和专家与老挝革命抗战力量并肩同行。
崇高的国际义务
在抗击法国殖民主义者,美帝国主义者及其帮凶的两场战争中,数十万越南干部、战士在老挝战场上参加战斗。越南志愿军和专家帮助老挝政府提高老挝军队及武装力量的战斗力,其中,重点是帮助老挝培养干部的作战组织、指挥能力及部队技术、战术能力,把建设人民解放军与发展地方武装力量紧密结合,为老挝革命稳步发展前进提供动力。
本着这一精神,越南志愿军不惧艰苦、牺牲,只要老挝革命需要就奔赴到任何地方,承担起任何任务。他们都意识到,只有动员老挝人民一起站起来抗争才能击败法国侵略军。他们分散各地,到基层民众中去,建设基层组织,成立群众组织,组织民间武装、游击队,进而面向建设政权。从小到大,从弱到强,逐步建设基层组织,形成游击区。与老挝民众同住、同吃,一起劳动生产,一起抗击敌军,保护基础,保护村庄。
得到老挝各族人民的爱戴、保护和照顾,以及老挝武装力量的团结及协同作战,越南志愿军和专家出色完成崇高国际义务,为老挝革命在抗法、抗美两场战争中取得光辉胜利做出重要贡献。这也是越老在战斗中特殊团结的胜利。
培育并进一步发展两国始终如一的纯洁关系
目前,越南和老挝正大力推进各自国家的革新事业,主动积极融入国际,努力建设繁荣、富强的国家。在世界各国都重视自身民族利益的背景下,越南援老志愿军和专家70年前的崇高义举书写了美好的历史篇章,有助于两国进一步加强睦邻友好、特殊团结、全面合作关系,并使之不断强劲发展。
历史把越老两国紧密联系在了一起。团结、互助是两个国家、两个民族革命历史中的客观规律。越南援老志愿军和专家纯洁、无私的帮助永远是两国光辉的历史丰碑,是两国特殊团结友好情谊的生动表现。
Sáng mãi nghĩa tình Việt - Lào
21:56 |
(VOV5) - Năm nay, Việt Nam kỷ niệm 70 năm ngày truyền thống Quân tình nguyện và chuyên gia Việt Nam tại Lào (30/10/1949- 30/102019). Quyết định tổ chức lực lượng quân tình nguyện, chuyên gia giúp cách mạng Lào 70 năm trước của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh là một chủ trương chiến lược, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc của hai nước; thể hiện tinh thần quốc tế cộng sản trong sáng và là biểu tượng sinh động của tình đoàn kết, hữu nghị đặc biệt Lào - Việt Nam.
Thực hiện thỏa thuận giữa Đảng, Nhà nước, quân đội và nhân dân hai nước Việt-Lào, một bộ phận Quân đội nhân dân Việt Nam được giao nhiệm vụ quốc tế giúp cách mạng Lào trong sự nghiệp giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc của nước bạn. Thực hiện nhiệm vụ giúp bạn theo lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh "giúp nhân dân bạn tức là mình tự giúp mình", nhiều thế hệ, chiến sỹ quân tình nguyện và chuyên gia Việt Nam đã sát cánh cùng các lực lượng kháng chiến của cách mạng Lào.
Thực hiện nghĩa vụ quốc tế cao cả
Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, chống đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai, đã có hàng trăm nghìn lượt cán bộ, chiến sĩ Việt Nam tham gia chiến đấu trên chiến trường Lào. Quân tình nguyện và chuyên gia Việt Nam giúp Chính phủ Lào nâng cao sức mạnh chiến đấu của quân đội và lực lượng vũ trang yêu nước, trọng tâm là bồi dưỡng năng lực tổ chức chỉ huy chiến đấu của cán bộ và kỹ chiến thuật của bộ đội; kết hợp chặt chẽ xây dựng quân đội giải phóng nhân dân với phát triển lực lượng vũ trang địa phương, tạo nguồn lực cho cách mạng Lào phát triển vững chắc.
Trên tinh thần đó, quân tình nguyện Việt Nam không ngại gian khổ, hy sinh, đi bất cứ đâu, làm bất cứ việc gì cách mạng Lào cần. Họ hiểu, chỉ có vận động được nhân dân Lào đứng lên kháng chiến mới đánh thắng được thực dân Pháp xâm lược. Họ chia nhau bám dân để xây dựng cơ sở, hình thành các tổ chức quần chúng, tổ chức dân quân du kích, tiến lên xây dựng chính quyền. Từng bước phát triển cơ sở từ hẹp đến rộng, từ yếu đến mạnh, hình thành các khu du kích. Cùng ăn ở, cùng lao động sản xuất, cùng nhân dân Lào đánh giặc, chống càn quét, bảo vệ cơ sở, bản làng.
Được sự thương yêu, đùm bọc, chăm sóc của nhân dân các bộ tộc Lào, sự đoàn kết hiệp đồng chiến đấu của các lực lượng vũ trang cách mạng Lào, quân tình nguyện và chuyên gia Việt Nam đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ quốc tế cao cả, góp phần rất quan trọng vào thắng lợi vẻ vang của cách mạng Lào trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Đó cũng là thắng lợi của tình đoàn kết chiến đấu đặc biệt Việt - Lào.
Vun đắp và phát triển quan hệ thủy chung, trong sáng
Hiện nay, Việt Nam - Lào đang đẩy mạnh công cuộc đổi mới, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; phấn đấu xây dựng, phát triển đất nước giàu mạnh...Trong bối cảnh các quốc gia đều đề cao lợi ích dân tộc thì những nghĩa cử cao đẹp của quân tình nguyện và chuyên gia Việt Nam giúp cách mạng Lào từ 70 năm trước là trang sử đẹp, góp phần giúp 2 tăng cường hơn nữa quan hệ láng giềng hữu nghị, đoàn kết đặc biệt, hợp tác toàn diện Việt Nam - Lào; và đưa mối quan hệ đặc biệt này ngày càng phát triển mạnh mẽ.
Lịch sử đã gắn bó hai dân tộc Việt - Lào. Đoàn kết, tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau là quy luật khách quan trong lịch sử cách mạng của hai dân tộc, hai nước. Sự giúp đỡ trong sáng của quân tình nguyện và chuyên gia Việt Nam đối với cách mạng Lào sẽ mãi là mốc son trong lịch sử hai dân tộc, là biểu tượng sinh động của tình đoàn kết, hữu nghị đặc biệt Lào - Việt Nam.
越南优先选择依照国际法解决东海问题
12:05 |
(VOV) -7月初以来,中国海洋地质八号调查船和一些中国护航船非法侵犯越南专属经济区和大陆架。越南一向坚持采取外交手段,呼吁中国遵守国际法,维护东海秩序、和平与稳定,并同国际社会一道发出声音反对中国的错误行为,优先选择遵守国际法,维护在东海的合法主权。
截至目前,《联合国海洋法公约》是调整海洋和海域所有活动的法律框架,得到国际社会认可。在东海地区,中国、越南、马来西亚、菲律宾、文莱等东海主权声索国都签署和批准了该《公约》。
蛮横违反《联合国海洋法公约》
要指出的是,中国对东海毫无“历史性权利”,中国划设的“九段线”完全违反《联合国海洋法公约》。中国的主权要求基于国际海洋法没有规定的所谓“历史性权利”。2016年,中国“九段线”等毫无道理的主权诉求遭到荷兰海牙常设仲裁法院仲裁庭驳斥。但中国不承认上述裁决并通过单方面、非法、胁迫手段设法宣示主权。
中国海洋地质八号调查船最近驶入越南思政滩即是明证。思政滩位于越南专属经济区。但中国依据所谓“九段线”声称,思政滩位于中国专属经济区。中国甚至出动海洋地质八号调查船和一些护航船阻挠越南在主权权利海域的石油开发活动。这并不是首例。2017年和2018年,中国逼迫越南和越南伙伴公司停止在该地区的石油开发活动。
美国塔夫茨大学外交科学中心东海研究家博尔顿表示:“海洋地质八号调查船驶入越南领海被视为对沿海国家按照《联合国海洋法公约》享有的主权、主权权利的法律挑衅行为。其危险在于,无视越南数十年来在主权范围内进行的开发活动,中国依然设法将不存在争议的海域变为争议海域,颠倒黑白,引发地区地缘政治紧张。”
坚决基于法律通过和平方式维护主权
作为海岸线长达3200多公里的沿海国家,越南积极参与制定《联合国海洋法公约》。越南也是努力落实《公约》的国家,倡导《公约》宗旨和目标。
3个多月来,越南一直坚持按照《联合国海洋法公约》等国际法,维护在东海的合法权利。越南努力将《公约》原则列入东盟和中国2001年签署的《东海各方行为宣言》及2012年签署的《东盟关于解决东海问题六点原则》 。在起草《东海行为准则》过程中,越南和各国一致同意《准则》要以《联合国海洋法公约》为基础。
鉴于东海目前的复杂局势,要尊重和全面落实《联合国海洋法公约》,使其在维护地区和平、稳定、安全及航行与飞越安全中发挥重要作用。域内外国家都在基于法律至上原则的东海享有利益。因此,任何使用武力或以武力相威胁来侵吞、胁迫他国,以武器代替公义解决分歧和争端的都是不文明的行为并遭到国际社会抵制。
Việt Nam đã và luôn ưu tiên lựa chọn tuân thủ luật pháp quốc tế về vấn đề Biển Đông
10:05 |
(VOV5) - Kể từ đầu tháng 7, một tàu khảo sát lớn của Trung Quốc, được hộ tống bởi các tàu có vũ trang, đã xâm phạm vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam một cách bất hợp pháp. Trước những diễn biến này, Việt Nam luôn kiên trì các giải pháp ngoại giao, kêu gọi Trung Quốc tuân thủ luật pháp quốc tế, giữ gìn trật tự, hòa bình, ổn định ở Biển Đông, cùng cộng đồng quốc tế lên tiếng phản bác các hành vi sai trái của Trung Quốc, ưu tiên lựa chọn tuân thủ luật pháp quốc tế để bảo vệ chủ quyền hợp pháp của mình trên Biển Đông.
Cho đến nay, Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển 1982 (UNCLOS 1982) là khung pháp lý cho tất cả mọi hoạt động trên các đại dương và vùng biển, được công nhận rộng rãi trên thế giới. Theo công ước này, tất cả các quốc gia giáp biển đều có vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) 200 hải lý, vùng thềm lục địa 200 hải lý và vùng lãnh hải 12 hải lý. Tại khu vực Biển Đông, tất cả các nước có tuyên bố chủ quyền ở Biển Đông gồm Trung Quốc, Việt Nam, Malaysia, Philippines và Brunei đều đã ký UNCLOS 1982 và phê chuẩn công ước này.
Trước hết cần khẳng định rằng Trung Quốc không có “quyền lịch sử” đối với Biển Đông và “đường lưỡi bò” hay “đường 9 đoạn” do Trung Quốc tự vẽ ra hoàn toàn vi phạm UNCLOS 1982. Yêu sách chủ quyền của Trung Quốc, dựa trên cái gọi là "các quyền lịch sử" vốn không có trong luật biển quốc tế. Năm 2016, tất cả những tuyên bố chủ quyền phi lý của Trung Quốc dựa trên Đường 9 đoạn và các quyền lịch sử đã bị Tòa Trọng tài Thường trực ở The Hague bác bỏ. Tuy nhiên, Bắc Kinh không công nhận phán quyết này và tìm cách xác lập tuyên bố chủ quyền của mình thông qua các hành động đơn phương, phi pháp và có tính cưỡng ép.
Vụ việc xảy ra ở Bãi Tư Chính gần đây cho thấy rõ ràng những tham vọng đó của Trung Quốc. Bãi Tư Chính, nằm trong EEZ của Việt Nam, cách bờ biển Việt Nam chưa tới 200 hải lý và cách biên giới trên biển của Trung Quốc 600 hải lý. Tuy nhiên, Trung Quốc dựa trên Đường 9 đoạn mà tuyên bố Bãi Tư chính nằm trong EEZ của họ. Thậm chí, Trung Quốc còn triển khai tàu khảo sát Hải Dương Địa Chất 8 và nhiều tàu tuần tra bờ biển được vũ trang đầy đủ nhằm ngăn chặn hoạt động khai thác dầu mỏ của Việt Nam tại khu vực hoàn toàn thuộc chủ quyền của Việt Nam. Đây không phải là lần đầu tiên Trung Quốc làm như vậy. Năm 2017 và 2018, Trung Quốc đã buộc Việt Nam và một công ty đối tác của Việt Nam ngừng các hoạt động khai thác dầu ở khu vực này.
Các hành động này của Trung Quốc bị cộng đồng quốc tế chỉ trích mạnh mẽ.
Ông James Borton, nhà nghiên cứu Biển Đông thuộc Trung tâm Khoa học ngoại giao Đại học Tufts, Mỹ cho rằng: "Việc Trung Quốc điều nhóm tàu Hải Dương 8 vào sâu trong lãnh hải của Việt Nam là một hành động mang tính thách thức về mặt pháp lý đối với chủ quyền, quyền chủ quyền của một quốc gia ven biển theo quy định của UNCLOS 1982. Sự nguy hiểm của hành động này chính là, dù Việt Nam đã khai thác khu vực thuộc chủ quyền của mình từ nhiều năm nay nhưng Trung Quốc vẫn tìm cách biến khu vực không tranh chấp thành khu vực tranh chấp, đánh lận trắng thành đen, tạo sóng căng thẳng về địa chính trị trong khu vực."
Kiên quyết bảo vệ chủ quyền bằng con đường pháp lý, hòa bình
Là một quốc gia ven biển có đường bờ biển dài trên 3260km, Việt Nam có nhiều lợi ích gắn liền với biển. Không chỉ tích cực tham gia vào quá trình xây dựng UNCLOS 1982, Việt Nam còn là quốc gia có nhiều nỗ lực trong việc thực thi Công ước, luôn đề cao tôn chỉ và mục tiêu của Công ước.
Trước các hành vi vi phạm của Trung Quốc ở Bãi Tư Chính, hơn 3 tháng qua, Việt Nam luôn kiên trì sử dụng luật pháp quốc tế, cụ thể là UNCLOS 1982 để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình ở Biển Đông. Tinh thần tôn trọng luật pháp quốc tế của Việt Nam còn được thể hiện nhất quán thông qua việc Việt Nam đã nỗ lực đưa nguyên tắc của Công ước này vào các văn kiện của ASEAN, như “Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông” (DOC) ký năm 2001 giữa ASEAN và Trung Quốc, “Tuyên bố 6 điểm ngày 20/7/2012 của ASEAN về Biển Đông”. Hay trong dự thảo Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC), trong quá trình đàm phán Việt Nam và các nước thống nhất nguyên tắc COC phải sử dụng UNCLOS làm cơ sở. Bởi quan điểm của Việt Nam cho rằng trong một thế giới văn minh thì các quốc gia phải hành xử với nhau một cách văn minh trên tinh thần thượng tôn pháp luật.
Trong bối cảnh phức tạp hiện nay ở Biển Đông, việc tôn trọng và tuân thủ đầy đủ UNCLOS 1982 càng có vai trò quan trọng trong duy trì hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn và tự do hàng hải ở khu vực. Các nước cả trong và ngoài khu vực đều có lợi ích từ một Biển Đông thượng tôn pháp luật. Vì vậy, bất kỳ một quốc gia nào sử dụng và đe dọa sử dụng vũ lực để thôn tính, chèn ép quốc gia khác, dùng vũ khí thay cho công lý hoặc sử dụng và đe dọa sử dụng vũ lực để giải quyết các bất đồng, tranh chấp quốc tế trong đó có tranh chấp về chủ quyền lãnh thổ đều là hành động không văn minh và cần phải bị loại trừ khỏi đời sống quốc tế.
Hot (焦点)
-
胡志明是二十世纪越南革命杰出的马克思主义思想家。他老人家的思想是马克思列宁主义在符合越南的条件和历史背景基础上的运用、发展与创新,体现着时代精神及现代与当代世界的运动与发展趋势。 1 、胡志明思想、道德、风格体系的道德榜样。他老人家的思想合成了越南革命及革命之路的战略策...
-
为维护国家海岛主权,越南历代封建王朝都着重投资建设强大的水军力量。越南丁、李、陈、黎、阮等王朝的水军力量不断得到加强和完善。这支水军为捍卫祖国事业作出了巨大贡献,在各个阶段留下了历史烙印。 至今还收藏的古籍显示,越南历代封建王朝早已对黄沙群岛和长沙群岛确立主权、实施...
-
1954 年《日内瓦协议》签署之后,越南暂时被分成南北两方不同政治制度的政体。据此,越南北纬 17 度以南的领土(包括黄沙、长沙两群岛)由越南共和国政府管辖。根据《协议》规定,法国殖民者被迫撤离越南之后,西贡政权立即派遣海军力量接管黄沙、长沙两群岛并对其行使主权。与此同时,...
-
(VOVWORLD) - 越南伟大领袖胡志明主席的思想、道德、作风、革命生涯是越南全党、全民学习和实践胡志明道德榜样的生动和具有说服力的楷模。至今,越南开展学习和实践胡志明道德榜样运动已有 8 年并取得多项重要结果。 胡志明主席在其革命生涯中牺牲个人利益,为祖国和人...
-
越南的黄沙群岛位于东海(中国称南海)北边,处于北纬 15°45′ 至 17°15′ 、东经 110° 至 113° ,距越南广义省李山岛约 120 海里。黄沙群岛由 37 多个岛、洲、礁和沙滩组成,分为西面和东面两个群岛。东面为安永群岛(中国称宣德群岛),由 12 个岛、洲...
-
数十年来,中国人拿出大量书籍、资料和史料,企图证明从两千年前的汉朝起,中国人就发现了西沙和南沙(即越南的黄沙群岛和长沙群岛),从而说古代中国发现西沙南沙群岛就足够证明中国对西沙和南沙的不可争议的领土主权。据说,中国人最迟于唐宋发现南沙群岛至今,就一直在岛上及其海域从事生产活...
-
越南对黄沙、长沙两座群岛的主权不仅在越南古籍和古文献中有记载,而且还出现在西方航海家和传教士等的书籍、报纸、地图、日记、航路指南等外国资料中。这些资料描述黄沙、长沙“是越南中部海上的一块沙渚…”,这和越南同一历史时期资料和古地图描述的类似。法国 1936 年在印度支那建立的...
-
BDN - 位于东海边国土陆地呈 “S” 字形的越南,无形中拥有沿着国土走向三千公里海岸及依照 1982 年《联合国海洋法公约》从岸边向外延伸的辽阔海域。这意味着从越南 1982 年 11 月确定和公布的垂直基线算起往外延伸 200 海里宽的海域属越南的主权,被称作专属经济...
-
从十六、十七世纪至今,西方国家的轮船日益频繁来往于东海。他们来到这里,不只为了扩大贸易还为了传教和传播西方文化。在来往东海期间,西方航海家和传教士们以当时最现代的技术很详细地描述和绘画黄沙群岛和长沙群岛,以避免这两个群岛的礁石给来往的船舶造成危害。为此,他们很仔细地研究东海...
-
香港媒体最近透露中国在东海划分“新边界线”的海洋研究项目,为“资源研究”创造了条件,北京对这片海域的主权主张“增添了筹码”。这条新边界线是一条与囊括了蕴藏着丰富矿产和能源资源的东海海域九段线相吻合的实线,九段线内的海域就是北京声索主权的那片海域。 从国际法的角度来看实线...









