警惕中国东海“大棒加胡萝卜”政策(第二期)
15:00 |
中国一面通过侵凌越南海域向越南背后“捅刀”,一面主动推动与越南的关系,一味要求越南内部问题内部解决,不要影响所谓的两国关系“大局”。中国的手法是一边威胁强制一边诱惑拉拢,对越南玩弄的“大棒加红萝卜”可谓炉火纯青。
专家们认为,中国将继续利用其非法建造的东海军事基地对地区国家大动干戈,包括侵入邻邦海域,实现独霸东海的阴谋。
在外交层面,中国将利用东盟各国在东海问题上的观点、利益分歧加码发挥自己的作用。
在“东海各方行为准则”谈判期间,准则谈成之前,中国必将继续在东海展开猖獗的好战行动以造成既成事实。换句话说,在达成新的规则之前,中国拼命缔造有利于自己的东海稳固之势。
中国在其非法占据和改造的东海礁滩-人造岛大搞军事化的同时,向东南亚国家伸出经济、贸易、基础设施“红萝卜”。
东盟各国在东海问题上持不同观点、与中国保持不同的经济利益关系。对地区外国家,比如美国,在解决东海问题上起到的作用的认识也不尽相同。这就为中国挖掘东盟内部矛盾,分化、拉拢、离间东盟国家埋下了伏笔。
东盟要想阻止中国重蹈好战控制东海的覆辙,就必须共同发出抗衡中国蛮横行径的呼声。东盟的统一呼声又必须与地区外大国的得到东盟全部国家支持的行动协调一致。
要做到这样并非易事。中国的贸易、投资、金融“胡萝卜”已经勾引了一些东盟国家,最典型的是已投入中国怀抱的柬埔寨。东海争端第二大争端国(越南之后)的菲律宾也被勾引得垂涎三尺,对东海问题的观点开始动摇了,尽管他是2013年东海仲裁案的始作俑者。
2020年越南担任东盟轮值主席国和联合国安理会非常任理事国职务,越南怎样行动来捍卫自己的东海权益,为依法维护东海和平、稳定、航空航海自由安全做出一份贡献呢?
越南在东海问题上发挥团结东盟的作用,同时争取地区外国家与国际社会的支持方面应该对中国的“胡萝卜”作出实际考量,要远离它,要摆脱这个危险的“陷阱”。在东盟及联大坦率揭穿中国对东海的图谋和错误行径。
越南是与中国发生东海争端最严重的国家,也是经常被中国针锋相对挑衅的国家。越南若不率先展开斗争没有谁会代替越南去做这件事的。
Cảnh giác với “cây gậy và củ cà rốt” của TQ trong vấn đề Biển Đông (phần 2)
14:29 |
Các hành động khiêu
khích của các tàu chấp pháp Trung Quốc và điều tàu khảo sát địa chất vào vùng đặc
quyền kinh tế của Việt Nam lặp đi lặp lại cho thấy Trung Quốc tiếp tục theo đuổi
yêu sách “đường lưỡi bò” của họ ngay cả khi việc này có nguy cơ làm bất ổn hơn
nữa tình hình ở Biển Đông. Song có lẽ ở thời điểm hiện tại,
Trung Quốc chỉ đẩy tình hình tới mức căng thẳng chứ Trung Quốc không đẩy tình
hình đến mức xung đột.
Một mặt, “đâm dao” vào sau lưng Việt Nam thông qua
các hành động xâm lấn vùng biển của Việt Nam, mặt khác Trung Quốc vẫn chủ động
thúc đẩy quan hệ với Việt Nam, vẫn tiếp tục đề nghị Việt Nam giải quyết nội bộ
vấn đề không để ảnh hưởng đến cái gọi là “đại cục” quan hệ hai nước. Cách làm của
họ là vừa đe dọa, cưỡng ép, vừa dụ dỗ, tranh thủ. Rõ ràng họ đang sử dụng thành
thạo “cây gậy và củ cà rốt” với Việt Nam.
Các chuyên gia cho rằng Trung Quốc sẽ tiếp tục lợi dụng
hơn nữa các căn cứ quân sự, các cơ sở hạ tầng ở Biển Đông mà nước này xây dựng
trái phép để phục vụ, hỗ trợ và thúc đẩy sức mạnh lớn hơn trong khu vực, trong
đó có việc xâm lấn vùng biển của các nước láng giềng nhằm thực hiện mưu đồ độc
chiếm Biển Đông.
Còn trên mặt trận ngoại giao, Trung Quốc sẽ ráo riết
nâng cao vị thế của mình bằng cách lợi dụng sự khác biệt trong lợi ích và quan
điểm của ASEAN đối với vấn đề Biển Đông.
Trong thời gian đàm phán Bộ quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC),
Trung Quốc sẽ gia tăng áp lực và tiếp tục các hành vi hung hăng, hiếu chiến ở
Biển Đông trước khi COC ra đời, để tạo việc đã rồi. Nói cách khác, trước khi có
nhiều quy định khác được đưa ra, Trung Quốc đang tìm mọi cách để củng cố lợi thế
chỗ đứng vũng chắc cho họ ở Biển Đông.
Cùng với việc tiếp tục tăng cường quân sự hóa các cấu
trúc mà nước này chiếm đóng, xây dựng phi pháp ở Biển Đông, Trung Quốc cũng
đang treo lơ lửng một “củ cà rốt” thông qua thương mại, đầu tư và cơ sở hạ tầng
với các nước trong khu vực Đông Nam Á.
Một thực tế là hiện tại còn có nhiều khác biệt giữa
các nước thành viên ASEAN trong mối quan tâm đến vấn đề Biển Đông và lợi ích
kinh tế với Trung Quốc, cũng như nhận thức khác nhau đối với vai trò của các cường
quốc ngoài khu vực như Mỹ trong vấn đề Biển Đông. Điều này tạo cơ hội cho TQ
khai thác các vấn đề nội bộ của ASEAN, phân hóa, lôi kéo, chia rẽ các nước
ASEAN.
Để ngăn cản Trung Quốc tái diễn hành vi hiếu chiến
thực hiện ý đồ khống chế Biển Đông, ASEAN nhất thiết phải có chung tiếng nói chống
lại sự hung hăng của nước này.Tất nhiên, tiếng nói của một ASEAN thống nhất cần
phải kết hợp với các hành động của các cường quốc ngoài khu vực được tất cả các
quốc gia thành viên ASEAN ủng hộ.
Tuy nhiên, để có được điều này là không dễ dàng bởi
lẽ Trung Quốc đã và đang sử dụnghiệu quả "củ cà rốt" thương mại, đầu
tư, tài chính để lôi kéo được một vài nước ASEAN mà tiêu biểu là Cămpuchia đã
ngả hẳn về phía Trung Quốc trên vấn đề Biển Đông. Thậm chí, do tác động của “củ
cà rốt” mà Trung Quốc đưa ra, Philippines - một nước có tranh chấp trên Biển
Đông lớn thứ 2 (sau Việt Nam) với Trung Quốc cũng đã bị dao động, lung lay quan
điểm của mình trên vấn đề Biển Đông mặc dù chính họ là tác giả vụ kiện Biển
Đông hồi năm 2013.
Năm 2020, Việt Nam vừa đảm nhiệm vai trò Chủ tịch ASEAN,
vừa là Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, Việt Nam có thể
làm gì để bảo vệ các quyền và lợi ích của mình ở Biển Đông và đóng góp vào việc
duy trì hòa bình ổn định, tự do, an toàn hàng hải, hàng không dựa trên luật
pháp quốc tế ở Biển Đông.
Để phát huy vai trò của mình trong đoàn kết ASEAN
trên vấn đề Biển Đông và tranh thủ sự ủng hộ của các nước ngoài khu vực và cộng
đồng quốc tế trong vấn đề Biển Đông, Việt Nam cần có cách tiếp cận thực tế với
“củ cà rốt” mà TQ luôn đưa ra, tránh xa và cần thoát ra khỏi cái “cạm bẫy” nguy
hiểm này; thẳng thắn vạch trần những mưu đồ và hành vi sai trái của TQ ở Biển
Đông cả trong khuôn khổ ASEAN lẫn tại Đại hội đồng Liên hợp quốc.
Việt Nam là nước có tranh chấp lớn nhất với Trung Quốc
ở Biển Đông và cũng là nước luôn bị Trung Quốc chĩa mũi nhọn gây hấn. Nếu Việt
Nam không đi đầu dẫn dắt trên vấn đề Biển Đông thì cũng chẳng có ai làm hộ.
主动预防因特网的丑恶信息
08:30 |
越南在当前的建设和保卫祖国事业中面临着很多有利条件和机遇,但也面临着不少挑战,尤其是非传统挑战。非传统挑战是指虚拟空间的恶意信息,会造成实际后果,导致政治动荡,动摇人民对党的信心。越南职能机关正与这类犯罪进行有效的斗争。
据统计,越南脸书账户数量在全世界居第七位,共有五千万个,这还未计算其他网站的账户。网络空间已经成为获取信息的重要普遍渠道。
在其便利性不可否认的同时,网络空间也正成为散布丑恶信息的温床。今年上半年,公安部发现逮捕和起诉了七十多名对象,其中主要是利用社交网成立反动小组如,大越、越新小组。至于在平顺省发生的反对《特区法草案》和《网络安全法草案》示威游行并演变为骚乱事件,从今年六月初至今,共有127名对象被判处有期徒刑。这表明,在社交网上宣传、煽动民众的行为时刻都在发生,这让很多人感到担忧。越南公安部副部长裴文南说:“外国敌对势力利用因特网、社交网、信息技术对我国进行破坏。与河静省台塑河静钢厂造成的海洋环境污染事故有关的两场示威游行和去年平顺省的骚乱都是利用社交网乃至因特网拉拢和鼓动民众参加。外国反动组织,恐怖组织的人员选用、训练和管理等所有行为都是通过因特网进行,毒品、人口拐卖等各种罪犯都使用十分复杂的高技术。”
越南公安部预防打击高科技犯罪网络安全局的统计数据显示,目前服务器放在海外的反动网站有近2500个,主要从事宣传破坏越南党和国家。其中近30个网站,近200个脸书账户,50个优兔视频网络经常进行反政府活动。越南公安部预防打击高科技犯罪网络安全局局长阮明正少将说:“网络空间正被敌对反动势力和罪犯利用进行破坏国家安全和社会秩序的犯罪行为。特别是宣传破坏制度、示威、骚乱、进行颜色革命、街头革命和颠覆越南政治制度等。假信息、恶意信息、歪曲事实的信息在网络空间散播。”
越南在世界上遭受恶意软件攻击的国家中居第20位。仅今年上半年,职能机关共发现近2150个国内电子网站和电子门户网站遭受攻击,以夺取网站管理权限。其中,国家管理机关的八个网站遭受攻击。越南通讯传媒部部长阮孟雄说:“在越南成立的跨境社会性网络企业要遵守越南法律。法律、工具都已具备,但要配合和观察,为这些法规有效落实作出努力。”
对在网络空间保障社会和国家安全作出具体和详细规定的《网络安全法》于2019年1月1日生效,这为职能机关继续加强执法,保障网络空间安全奠定了坚实的法律基础。
Chủ động ngăn ngừa thông tin xấu độc trên mạng internet
08:01 |
Công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay đang
có nhiều thời cơ, thuận lợi, nhưng cũng đứng trước không ít thách thức, đặc biệt
là mối hiểm họa từ những nguy cơ phi truyền thống. Một trong số nguy cơ phi
truyền thống hiện nay chính là thông tin xấu độc trên không gian ảo, nhưng lại
gây hậu quả thật, làm bất ổn về chính trị, làm xói mòn lòng tin của nhân dân đối
với Đảng. Các cơ quan chức năng đang đấu tranh có hiệu quả với loại hình tội phạm
này.
Theo thống kê, Việt Nam xếp thứ 7 trên thế giới về số
lượng người dùng mạng xã hội face book với trên 50 triệu người sử dụng, đó là
chưa kể các tài khoản trên các nền tảng mạng khác. Không gian mạng trở thành một
kênh quan trọng phổ biến để tiếp nhận thông tin.
Bên cạnh sự tiện ích không thể phủ nhận, không gian
mạng cũng đang là địa bàn lý tưởng để phát tán thông tin xấu độc. Trong 6 tháng
đầu năm nay, Bộ Công an đã phát hiện, bắt và khởi tố trên 70 đối tượng, trong
đó chủ yếu là các đối tượng lợi dụng mạng xã hội để lập ra các nhóm phản động,
như Triều Đại Việt, Việt Tân... Còn trong vụ việc bạo loạn tại Bình Thuận, biểu
tình phản đối Dự thảo Luật Đặc khu và Luật An ninh mạng, thì tính đến đầu tháng
6 năm nay đã có 127 đối tượng tham gia biểu tình bị kết án tù. Có thể thấy, những
vụ việc tuyên truyền, kích động quần chúng nhân dân trên mạng xã hội vẫn đang
diễn ra từng ngày, từng giờ, khiến nhiều người lo ngại.
Việt Nam đang là quốc gia xếp thứ 20 trên thế giới bị
tấn công bằng những phần mềm độc hại, đứng thứ 8 trong số 10 quốc gia hàng đầu
trên thế giới về tình trạng lây nhiễm mã độc cục bộ. Chỉ tính riêng trong 6
tháng đầu năm 2019, các cơ quan chức năng đã phát hiện gần 2.150 trang thông
tin điện tử, cổng thông tin điện tử trong nước có tên miền chấm vn bị tấn công
chiếm quyền điều khiển. Trong số này, có 8 trang thuộc quản lý của các cơ quan
nhà nước bị tấn công chiếm quyền điều khiển thay đổi, giao diện.Trung tâm Giám
sát an toàn không gian mạng quốc gia dự kiến tiếp tục nâng cao năng lực xử lý
tin xấu độc mỗi ngày từ 100 triệu tin lên 300 triệu tin, để có thể hạn chế tối
đa việc lan toả các thông tin xấu độc trên các trang mạng xã hội.
Luật An ninh mạng với nhiều quy định cụ thể, chi tiết
về việc đảm bảo an toàn xã hội, an ninh quốc gia trên không gian mạng, có hiệu
lực từ 1/1/2019, cũng đã tạo lập được hành lang pháp lý hữu hiệu để các cơ quan
chức năng tiếp tục tăng cường các biện pháp thực thi pháp luật về an toàn trên
không gian mạng trong thời gian tới.
警惕中国东海“大棒加胡萝卜”政策(第一期)
23:00 |
中国从2019年 7月初至10月底连续侵犯越南专属经济区和大陆架,时间之久前所未有。在这期间,中国舰只四次进出越南海域,下次比上次更深入越南海域有时距离越南海岸不到100海里。中国为何要这样做呢?
第一,越南坚持与俄罗斯石油公司在东海06-1石油区块展开油气合作项目,中国便采取报复行动。中国竭力证明自己可以掌控东海,就连靠近越南的海域也在中国的掌控中。越南授权俄罗斯石油公司及日本公司在06-1区块勘探石油时,中国蛮横宣称该海域在非法的“九段线”内便悍然侵入越南海域。中国还以同样理由侵入马来西亚专属经济区和大陆架。
第二,与从前相比中国在东海的实力增大了。中国在长沙群岛非法建造的基地成为中国舰只停靠和补充补给的地方。这样就使更多的舰只参与侵凌活动,而且不必返回中国港口补充燃料粮食弹药(距离其侵扰地点600-700海里)。五年前,中国还忙于在其占领的长沙群岛礁滩扩建人造岛、部署军事力量。现在大不一样了,就一个十字礁就成了侵凌越南海域的中国舰只补充补给的前哨阵地。
中国的目标是迫使越南屈服和停止与地区外国家的油气合作项目。这是中国在与东盟就“东海各方行为准则”谈判时一心要写进去的内容。越南顽强坚持展开油气活动,绝不退让,可是东海紧张局势依旧。中国舰只在越南停止06-1区块的钻探活动、钻井平台移出后才撤离越南海域。
不少人问道,中国要阻止越南在06-1区块的油气活动为何不干脆出动舰只碰撞、破坏钻井平台?答案是,中国没有胆这样做。理由很简单,中国对这片海域毫无司法依据!若中国胆大妄为,碰撞或破坏钻井平台,那么他就成了侵略者。因为这是越南与俄罗斯石油公司与日本公司进行的合作项目,这两个国家不会坐视中国破坏他们公司的财产。所以中国只好对越南施加压力,威胁逼迫越南自行撤退。但越南及俄罗斯和日本合作伙伴绝不退让。
此外,客观地说,中国不想与越南发生冲突,尤其是在中美贸易战中方处于窘境之际。中国心知肚明,中国舰只若碰撞或破坏钻井平台可能会激发冲突。而这时中国正需要与越南拉关系,不要把越南推进美国的怀抱。
第三,中国舰只撤走了,但中国独霸东海,不让其他国家与东海周边国家合作开采油气这一目标没有改变。中国只是暂时停下来准备新一轮更激烈的挑战行动。中国一贯使用的套路是“得寸进尺”,其后续行动一般都更加猖狂,更加好战。
中国执法船的挑衅行动和考察船反复侵入越南专属经济区的行为表明,中国不惜一切努力实现“九段线”声索,尽管这会导致东海形势更加动荡不安。不过,在此阶段,中国只想把形势搞得紧张一点而不想搞成冲突。
Cảnh giác với “cây gậy và củ cà rốt” của TQ trong vấn đề Biển Đông (phần 1)
22:30 |
Trung Quốc xâm phạm
vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa Việt Nam kéo dài từ đầu tháng 7 cho đến gần
cuối tháng 10, khoảng thời gian lâu nhất từ trước đến nay; các tàu của Trung Quốc
ra rồi lại vào vùng biển của Việt Nam 4 lần trong gần 4 tháng và có xu hướng
ngày càng xâm nhập sâu hơn vào vùng biển Việt Nam, lúc gần nhất cách bờ biển Việt
Nam chưa đến 100 hải lý.
Trước hết, cần phân tích nguyên nhân việc làm của Trung
Quốc.
Thứ nhất, đây rõ ràng là hành vi trả đũa của Trung
Quốc đối với việc Việt Nam kiên trì triển khai dự án hợp tác dầu khí với công
ty Rosneft (Nga) tại khu vực lô 06-1. TQ đang cố gắng và chứng tỏ họ có thể kiểm
soát khu vực Biển Đông, thậm chí cả ở những nơi rất gần bờ biển Việt Nam. Trung
Quốc đã quyết định thực hiện hành vi xâm lấn sau khi Việt Nam cho phép công ty
Rosneft (Nga) và các đối tác Nhật Bản khoan dầu khí ở khu vực lô 06-1 mà Trung
Quốc ngang ngược tuyên bố là nằm trong “đường lưỡi bò” phi pháp. Ngoài Việt Nam,
Trung Quốc còn hành động tương tự trong vùng đặc quyền kinh tế thềm lục địa
Malaysia với cùng lý do.
Thứ hai, so với trước đây, Trung Quốc đã mạnh hơn ở
Biển Đông. Các căn cứ mà nước này xây dựng phi pháp ở khu vực quần đảo Trường
Sa trở thành nơi trú ngụ, tiếp tế cho các tàu của Trung Quốc, cho phép nhiều
tàu hơn tham gia vào hoạt động vi phạm và tiếp nhiên liệu mà không phải quay về
cảng ở Trung Quốc (cách khu vực này 600-700 hải lý). Điều này khá khác biệt so
với tình hình 5 năm trước khi mà Trung Quốc còn đang trong quá trình bồi đắp, mở
rộng và bố trí lực lượng quân sự trên các cấu trúc họ chiếm đóng ở Trường Sa.
Thực tế thời gian qua cho thấy, đá Chữ Thập đã trở thành nơi tiếp tế cho các
tàu Trung Quốc xâm lấn vùng biển Việt Nam.
Mục tiêu của Trung Quốc là buộc Việt Nam phải khuất
phục, dừng các hoạt động hợp tác dầu khí với các nước bên ngoài khu vực, đúng
như nội dung mà Trung Quốc đã đòi đưa vào Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC)
trong đàm phán với ASEAN. Việt Nam kiên cường triển khai hoạt động dầu khí
không chấp nhận lùi bước, nhưng căng thẳng ở Biển Đông vẫn kéo dài. Các tàu của
Trung Quốc chỉ rút khỏi vùng biển Việt Nam khi các hoạt động khoan ở lô 06-1 kết
thúc, giàn khoan rút khỏi khu vực.
Một số người cũng đặt câu hỏi muốn ngăn cản hoạt động
dầu khí của Việt Nam tại lô 06-1, tại sao Trung Quốc không cho các tàu của họ
đâm va phá hoại giàn khoan.Trung Quốc không dám làm như vậy bởi Trung Quốc hoàn
toàn không có cơ sở pháp lý ở khu vực này. Nếu Trung Quốc manh động, gây va chạm
phá hoại giàn khoan thì họ chính là kẻ xâm lược vì đây là một dự án hợp tác với
công ty Rosneft (Nga) và các đối tác Nhật Bản, cả hai nước này đều không thể để
yên nếu Trung Quốc manh động gây tổn hại cho doanh nghiệp họ. Cách làm của họ
là gây sức ép, uy hiếp để Việt Nam phải tự rút lui. Nhưng Việt Nam và các đối
tác Nga, Nhật cũng quyết không lùi bước.
Mặt khác, cũng cần nhìn nhận một cách khách quan là
Trung Quốc không muốn xảy ra xung đột với Việt Nam, nhất là trong hoàn cảnh
Trung Quốc đang gặp rất nhiều khó khăn trong cuộc chiến thương mại với Mỹ. TQ
hiểu rằng nếu các tàu Trung Quốc đâm va phá hoại giàn khoan có thể sẽ dẫn đến
xung đột, trong khi Trung Quốc vẫn cần quan hệ với Việt Nam để không đẩy Việt
Nam sang phía Mỹ.
Cuối cùng, các tàu của Trung Quốc cũng rút, nhưng mục
tiêu của Trung Quốc là độc chiếm Biển Đông và không cho các nước khác hợp tác với
các nước ven Biển Đông trong khai thác dầu khí nên hiện tại chỉ là thời điểm họ
tạm dừng để củng cố lợi ích, chuẩn bị cho các bước leo thang mới nghiêm trọng
hơn. Cách làm lâu nay của Trung Quốc là “lùi một bước, tiến 2 bước”, những hành
động tiếp theo của họ bao giờ cùng hung hăng, hiếu chiến hơn trước.
中国在柬埔寨建立军事基地的意图 (第二期)
14:53 |
现在我们回到观察界关注的两个问题。
第一个,中国在争取东南亚忠诚伙伴的竞争中忽略了柬埔寨。柬埔寨既不是东海争端一方又没有外部大国寻求的切断中国海上运输线的作用,而且与“一带一路”将中国商贸延伸至印太地区和缓解中国对马六甲及地区其它咽喉要道的隶属程度,无关紧要。然而,柬埔寨的地理位置对中国却有相对的战略意义。若中国在柬埔寨建立军事基地不仅中国军队战斗机、反舰导弹的活动范围得到扩大,而且有利于侦查、监视、情报收集等活动,将有助于中国对东海南部形势的监视更加牢靠,包括对马六甲海峡的监视。中国在柬埔寨设立的军事基地能够保障包括海军、海警船、海上民兵船在内的海上军事力量在“九段线”南部边缘维持密集存在状态,而且对美国的墙头草盟友泰国构成威胁,中国更逼近油气资源丰富的越南东南部海域。这是越南经济最有价值的,也是中国试图控制的海域。2019年7月以来在越南和马来西亚钻进平台周围发生的事件表明,中国一贯出动民事船只骚扰商业活动以达到控制的目的。因此,无论柬埔寨是否能被视为中国军舰的“圣地”,只要他的港口对中国渔船商船和半武装船只开放中国就获益了。
对柬埔寨来说,中国的存在不仅能帮助他加强航海安全还能对泰国
施加压力迫使他坐下来就在暹罗湾争执海域共同开发能源问题举行谈判。这是曼谷一直回避的问题,而柬埔寨又无可奈何。
第二个问题,可以说柬埔寨对华关系的收益主要是政治。二十世纪的岁月是柬埔寨不堪回首的。法国结束印度支那“殖民地”统治后,美国疯狂轰炸胡志明小道,给红色高棉乘机扩大影响最终占据柬埔寨(1970-1980)提供了机会。紧接着是红色高棉进行的种族绝灭,在整个九十年代柬埔寨20%人口被屠杀,整个社会体制和结构被摧毁。柬埔寨经济陷于瘫痪,地区内国家却在冷战后的经济蓬勃发展中获利。
柬埔寨摆脱了红色高棉的种族灭绝灾难后,在胡森总理的“掌舵”下,在寻求稳定的道路上步履维艰。二十一世纪初,柬埔寨经济隶属于援助及西方服装市场。这是西方借以插手柬埔寨事务把柬埔寨引向资本主义道路的接力棒,也成了中国以经济和军事援助“支撑”柬埔寨的砝码。中国迅速成为柬埔寨最大援助和投资国,柬埔寨外债一半来自中国。2019年7月29日胡森总理声称,柬埔寨将向中国购买价值四千万美元的武器。地区内外观察界认为,柬埔寨已“滑出”西方世界之手掉进中国怀抱。早在2017年,金边就拒绝美国的军事援助计划,取消与美军的年度军演,却与中国进行规模日益扩大的军演。
公平地讲,柬埔寨维持大国平衡关系和利用中国的竞争心理取得中国对手的投资不是赢利双收吗。尴尬的是,除了廉价劳动力外柬埔寨似乎没有任何吸引美国及其盟国投资的优势。这些公司出自利润考量,不愿将钱投进柬埔寨政府正大声疾呼、压到经济利益的重要政治项目。中国则看准了这一点,愿意掏钱玩弄这种游戏。政治吸引力,特别是中国的金钱让柬埔寨一厢情愿地与中国合作,把战略均衡抛在脑后。因此,美国议会最近通过对柬埔寨高层官员施行签证限制和财产冻结的法案在改变柬埔寨跟随中国的趋势无济于事。
柬埔寨和中国否认云朗军事基地秘密协定暴露了两国关系及中国扩大军事范围战略的致命弱点。在外国建立军事基地的协定对任何国家来说都是政治敏感话题,需要进行机智谈判及慎重处理公共关系战略。十分不正常的是,一个国家连续声称辩解本国对在外国看似商业性质的基础设施项目的关联,而没有足够“勇气”承认自己所想要的也正是任何新兴军事大国想要的。例如,中国很早就在吉布提建立军事基地却一再声称那不是军事基地。
更深远的是,地区邻国必需对中国的如意算盘及战略步骤提高警惕。中国需要“一带一路”项目是出自于中国的经济政治需求。中国也需要向外扩张军事力量以按照自己的意志重建地区秩序。“一带一路”项目因此对项目接受国隐藏着很大的政治危机,让中国秘密展开大型项目时焦头烂额的根本原因。这些无法掩饰的军民两用、没有盈利、招引质疑中国的居心叵测、败露中国为达到目的强制施行手段的真面目,等等这些无遗地暴露于天下。中国公然否认自己的军事打算根本遮挡不了其战略野心,只会令其露出“狐狸尾巴”。这必将引起国际社会的强烈反应,不仅不能将美国“踢出”地区而且引来更多的国家参与进来。观察界认为,中国鼓鼓的钱包可能获取柬埔寨,但要获取西太平洋则是远远不够的。
Ý đồ của Trung Quốc khi xây dựng căn cứ quân sự ở Campuchia (phần 2)
14:41 |
Trở lại hai câu hỏi khiến giới quan sát quan tâm.
Xin thưa:
Về câu hỏi thứ nhất.
Trong cuộc cạnh tranh ngày một gia tăng để có được
các đối tác trung thành ở Đông Nam Á của Trung Quốc, Campuchia thường bị bỏ
qua. Lý do là Campuchia không phải là một bên tranh chấp ở Biển Đông và cũng
không có vai trò gì đối với một cường quốc bên ngoài đang tìm cách phong tỏa
giao thương đường biển của Trung Quốc; không mấy quan trọng đối với các dự án
giao thông vận tải của BRI vốn để mở rộng khả năng Trung Quốc tiếp cận thương mại
tới khu vực Ấn Độ Dương và giảm sự phụ thuộc của Trung Quốc vào eo biển Malacca
và các yết hầu hàng hải khác trong khu vực. Tuy nhiên, vị trí địa lý của
Campuchia lại có giá trị chiến lược nhất định đối với TQ. Nghĩa là, nếu có các
căn cứ quân sự tại Campuchia, sẽ giúp Trung Quốc mở rộng đáng kể tầm hoạt động
của máy bay chiến đấu, tên lửa chống hạm cũng như tăng cường được công tác do
thám, giám sát và tình báo, từ đó giúp cho TQ kiểm soát tình hình phía Nam Biển
Đông chắc chắn hơn, kể cả tình hình tại eo biển Malacca. Những căn cứ có được ở
Campuchia cũng cho phép các lực lượng trên biển của Trung Quốc, không chỉ hải
quân, mà cả lực lượng bán quân sự như cảnh sát biển và dân quân biển, duy trì sự
hiện diện dày đặc hơn xung quanh rìa phía nam của “đường chín đoạn”. Vô hình
dung cũng tạo điều kiện cho Trung Quốc gia tăng sức ép đối với Thailand, một đồng
minh dễ chao đảo của Mỹ; giúp Trung Quốc tiến gần hơn vùng biển giàu dầu mỏ
ngoài khơi phía Đông Nam Việt Nam, vùng biển có giá trị kinh tế bậc nhất đối với
nước này và đây cũng là nơi Trung Quốc đang tìm cách để kiểm soát. Những gì xảy
ra quanh các giàn khoan ở vùng biển của Việt Nam và Malaysia từ tháng 7/2019 đến
nay cho thấy, Trung Quốc thường tìm cách áp đặt quyền kiểm soát đối với các
vùng lãnh thổ bị tranh chấp bằng cách quấy rối các hoạt động thương mại với các
tàu dân sự. Vì thế, dù Campuchia có được coi là “thánh địa” của các tàu chiến
Trung Quốc hay không, thì việc nước này mở cửa các cảng để tiếp nhận tàu đánh
cá và tàu thương mại, cũng như các lực lượng bán quân sự của Trung Quốc sẽ là yếu
tố có giá trị xét trên khía cạnh này.
Đối với Campuchia, sự hiện diện của Trung Quốc không
chỉ giúp nước này tăng cường khả năng an ninh hàng hải, mà còn có thể gây sức
ép, buộc Thailand phải đàm phán về việc khai thác năng lượng chung ở vùng biển
có tranh chấp trên vịnh Thailand, một vấn đề mà Bangkok từ trước đến nay luôn tìm cách
né tránh, còn Campuchia không có ưu thế nào để thúc ép hợp tác.
Về câu hỏi thứ hai.
Có thể cho rằng, các lợi ích đối với Phnom Penh
trong quan hệ với Trung Quốc chủ yếu là về chính trị. Những năm tháng của thế kỷ
XX không có gì là tốt đẹp và đáng nhớ với Campuchia. Sau khi người Pháp phải chấm
dứt chế độ “thực dân hóa” trên toàn cõi Đông Dương, đến lượt người Mỹ lại ném
bom ồ ạt đường mòn Hồ Chí Minh, góp phần cho lực lượng Khmer Cộng sản, còn được
gọi là Khmer Đỏ, mở rộng ảnh hưởng và tiến tới “làm chủ” ở Campuchia những năm
1970 - 1980. Và rồi nạn diệt chủng và chiến tranh kéo dài cho đến những năm
1990 đã xóa sổ 20% dân số Campuchia, phá hủy các thiết chế và xã hội dân sự ở
nước này, làm tê liệt nền kinh tế Campuchia, trong khi các nước láng giềng xung
quanh bắt đầu hưởng lợi từ sự bùng nổ sản xuất thời hậu Chiến tranh Lạnh tại
khu vực.
Sau khi thoát khỏi nạn diệt chủng của Khmer Đỏ, đất
nước Campuchia dưới sự “chèo lái” của Thủ tướng Hun Xen đã trải qua những vật lộn
đầy khó khăn trên con đường tìm kiếm sự ổn định. Những năm đầu thế kỷ XXI, nền
kinh tế Campuchia phụ thuộc vào viện trợ và thị trường hàng dệt may phương Tây.
Điều này trở thành “cây gậy” để phương Tây “chọc ngoáy” vào nội bộ Campuchia
trong việc hướng đất nước này đi theo con đường Tư bản. Tuy nhiên, chính nó lại
tạo điều kiện cho Trung Quốc nhanh tay “chống lưng” cho chính quyền Hun Xen bằng
các khoản viện trợ về tài chính và quân sự. Đến nay, Trung Quốc là nước viện trợ
lớn nhất, nhà đầu tư nước ngoài lớn nhất của Campuchia, trong khi một nửa số nợ
nước ngoài của Campuchia là từ Trung Quốc. Mới đây, ngày 29/07/2019, Thủ tướng
Hun Sen còn tuyên bố mua mới hàng chục nghìn đơn vị vũ khí từ Trung Quốc, trị
giá hơn 40 triệu USD. Giới quan sát cả trong và ngoài khu vực đều phải thừa nhận
rằng, Campuchia đã “tuột khỏi tầm tay” của phương Tây và họ đang ngày càng ngả
theo Trung Quốc. Thậm chí năm 2017, Phnom Penh đã từ chối chương trình viện trợ
quân sự của Mỹ và hủy các cuộc tập trận thường niên với Mỹ, nhưng lại tăng cường
quy mô tập trận với Trung Quốc.
Công bằng mà nói, Campuchia vẫn có lợi ích trong việc
duy trì cân bằng quan hệ nước lớn và khai thác sự cạnh tranh của Trung Quốc để
tranh thủ vốn đầu tư từ các đối thủ của TQ. Nhưng chết nỗi, ngoài nguồn nhân lực
giá rẻ, Campuchia hầu như không có tiềm năng gì để lôi kéo các công ty của Mỹ
và đồng minh bỏ vốn vào đầu tư. Với bản chất thực dụng, các công ty này không
muốn “vung tiền” vào những dự án quan trọng về chính trị nhưng không sinh lời
mà Campuchia đang thúc đẩy. Chỉ có Trung Quốc là sẵn sàng và đủ thực lực để
theo đuổi trò chơi này. Do đó, sức hút chính trị và nhất là thực lực tài chính
của Trung Quốc đã kéo Campuchia tiếp tục hợp tác với TQ và bỏ qua việc cân bằng
chiến lược. Vì thế, cho dù Quốc hội Mỹ mới thông qua một dự luật về việc áp đặt hạn chế thị thực
và phong tỏa tài sản đối với giới chức cầm quyền Campuchia cũng sẽ không tạo ra
thay đổi đáng kể nào đối với xu hướng Campuchia ngả sang Trung Quốc.
Song, việc Campuchia và Trung Quốc vội vã lên tiếng
phủ nhận câu chuyện về thỏa thuận bí mật liên quan đến căn cứ quân sự Ream cũng
cho thấy điểm yếu cơ bản trong quan hệ của hai đối tác này, cũng như chiến lược
của Trung Quốc về mở rộng quân sự. Các thỏa thuận về lập căn cứ quân sự ở nước
ngoài thường là chủ đề rất nhạy cảm về chính trị đối với bất kỳ nước nào, đòi hỏi
việc đàm phán phải khéo léo và một chiến lược quan hệ công chúng được xử lý cực
kỳ thận trọng. Nhưng thật sự là không bình thường nếu một nước liên tục phải
bào chữa cho sự dính líu của mình trong những dự án cơ sở hạ tầng ở nước ngoài
có vẻ như phục vụ cho mục đích thương mại, nhưng lại không đủ “dũng khí” để thừa
nhận thứ mà mình muốn cũng chính là những gì mà bất kỳ một cường quốc quân sự mới
nổi nào mong mỏi. Đơn cử như, rất lâu sau khi mở căn cứ quân sự đầu tiên ở nước
ngoài tại Djibouti, Trung Quốc vẫn tiếp tục khẳng định rằng, đây không phải là
một căn cứ quân sự.
Sâu xa hơn, vấn đề nằm ở chỗ các nước láng giềng
trong khu vực sẽ phải gia tăng cảnh giác trước những bước đi và tính toán chiến
lược của Trung Quốc. TQ cần các dự án BRI vì những lý do kinh tế, chính trị của
riêng mình. Nước này cũng cần triển khai sức mạnh quân sự ra bên ngoài để tái lập
trật tự khu vực theo ý mình. Các dự án BRI vì thế tiềm ẩn đầy nguy cơ chính trị
ở các nước tiếp nhận, khiến TQ liên tục lâm vào thế lúng túng khi cố gắng ngấm
ngầm xây dựng các dự án quy mô lớn, có khả năng lưỡng dụng không thể che giấu
và ít có khả năng sinh lợi, gây nghi ngờ về mục đích của TQ và những công cụ cưỡng
ép mà Trung Quốc sử dụng để đạt được mục tiêu. Việc công khai bác bỏ toan tính
quân sự không giúp gì được cho việc che giấu các tham vọng chiến lược mà nó sẽ
chỉ khiến Trung Quốc bị “lòi đuôi”. Cái sự “lòi đuôi” đó dẫn đến phản ứng ngược
là không những không đẩy được Mỹ rời khỏi khu vực mà còn kéo thêm các nước lớn
khác “xúm” vào. Giới quan sát có nhận xét rằng: Với túi tiền rủng rỉnh, chắc vẫn
đủ để Trung Quốc giành được Campuchia, nhưng không thể đủ để giành lấy Tây Thái
Bình Dương.
Hot (焦点)
-
胡志明是二十世纪越南革命杰出的马克思主义思想家。他老人家的思想是马克思列宁主义在符合越南的条件和历史背景基础上的运用、发展与创新,体现着时代精神及现代与当代世界的运动与发展趋势。 1 、胡志明思想、道德、风格体系的道德榜样。他老人家的思想合成了越南革命及革命之路的战略策...
-
为维护国家海岛主权,越南历代封建王朝都着重投资建设强大的水军力量。越南丁、李、陈、黎、阮等王朝的水军力量不断得到加强和完善。这支水军为捍卫祖国事业作出了巨大贡献,在各个阶段留下了历史烙印。 至今还收藏的古籍显示,越南历代封建王朝早已对黄沙群岛和长沙群岛确立主权、实施...
-
1954 年《日内瓦协议》签署之后,越南暂时被分成南北两方不同政治制度的政体。据此,越南北纬 17 度以南的领土(包括黄沙、长沙两群岛)由越南共和国政府管辖。根据《协议》规定,法国殖民者被迫撤离越南之后,西贡政权立即派遣海军力量接管黄沙、长沙两群岛并对其行使主权。与此同时,...
-
(VOVWORLD) - 越南伟大领袖胡志明主席的思想、道德、作风、革命生涯是越南全党、全民学习和实践胡志明道德榜样的生动和具有说服力的楷模。至今,越南开展学习和实践胡志明道德榜样运动已有 8 年并取得多项重要结果。 胡志明主席在其革命生涯中牺牲个人利益,为祖国和人...
-
越南的黄沙群岛位于东海(中国称南海)北边,处于北纬 15°45′ 至 17°15′ 、东经 110° 至 113° ,距越南广义省李山岛约 120 海里。黄沙群岛由 37 多个岛、洲、礁和沙滩组成,分为西面和东面两个群岛。东面为安永群岛(中国称宣德群岛),由 12 个岛、洲...
-
数十年来,中国人拿出大量书籍、资料和史料,企图证明从两千年前的汉朝起,中国人就发现了西沙和南沙(即越南的黄沙群岛和长沙群岛),从而说古代中国发现西沙南沙群岛就足够证明中国对西沙和南沙的不可争议的领土主权。据说,中国人最迟于唐宋发现南沙群岛至今,就一直在岛上及其海域从事生产活...
-
越南对黄沙、长沙两座群岛的主权不仅在越南古籍和古文献中有记载,而且还出现在西方航海家和传教士等的书籍、报纸、地图、日记、航路指南等外国资料中。这些资料描述黄沙、长沙“是越南中部海上的一块沙渚…”,这和越南同一历史时期资料和古地图描述的类似。法国 1936 年在印度支那建立的...
-
BDN - 位于东海边国土陆地呈 “S” 字形的越南,无形中拥有沿着国土走向三千公里海岸及依照 1982 年《联合国海洋法公约》从岸边向外延伸的辽阔海域。这意味着从越南 1982 年 11 月确定和公布的垂直基线算起往外延伸 200 海里宽的海域属越南的主权,被称作专属经济...
-
从十六、十七世纪至今,西方国家的轮船日益频繁来往于东海。他们来到这里,不只为了扩大贸易还为了传教和传播西方文化。在来往东海期间,西方航海家和传教士们以当时最现代的技术很详细地描述和绘画黄沙群岛和长沙群岛,以避免这两个群岛的礁石给来往的船舶造成危害。为此,他们很仔细地研究东海...
-
香港媒体最近透露中国在东海划分“新边界线”的海洋研究项目,为“资源研究”创造了条件,北京对这片海域的主权主张“增添了筹码”。这条新边界线是一条与囊括了蕴藏着丰富矿产和能源资源的东海海域九段线相吻合的实线,九段线内的海域就是北京声索主权的那片海域。 从国际法的角度来看实线...










