美国外长约翰•克里 – 越南亲切的朋友

19:10 |
美国外长约翰·克里将从201311于月11日至18日对中东与东南亚地区进行访问,其中越南与菲律宾将是他在东南亚的访问目的地。
不像一些曾经在越南参战的美国老战兵仍然对越南表示出仇恨态度,约翰·克里外长对越南有“特殊感情”,并且是积极推动美国与越南友好外交关系的美国议员之一。
1966年毕业于耶鲁大学后,海军中尉约翰·克里被拍到越南,担任指挥在湄公河流域的巡逻船活动。在参战期间,他亲眼见到很多无辜的平民在战争中被杀害,从此他就决定反对这个战争。20世界70年代初,约翰·克里回美国,加入了越南退伍军人反战运动,并成为杰出的反战运动发言人。1971年,他在美国参议院对位委员会听证会上发表自己关于越南战争的观点。从1991年指1993年,他担任了参议院战俘和战争失踪人员事务特别委员会主席。就在这岗位上,他有机会接触越南领导人以及越南人民,这也使他对越南以及越南人民的感情越来越浓厚。在此岗位上,他对促使美国与越南实现关系正常化作出贡献。1994年,美国参议院通过他与约翰的建议要求取消对越南的禁运。这就是正常化越-美关系过程中的重要步骤。
自从1995年两国关系正常化后,约翰先生总是做出积极的贡献旨在促进两国之间的关系日益发展并提升为战略伙伴关系。特别一提的是,20128月,当中国在东海有挑衅行动的时候,国会议员约翰先生与其他一些参议院已经向美国参议院呈递有关东海的S.Res.524 决议。
20137月,适值越南国家主席张晋创访问美国期间,约翰外长已对越南领导代表团在10多年来尽一切努力根据POW/MIA项目帮助美国寻找战争中失踪的数千名美国士兵一事表示感恩。同时也对越南在改革过程中取得跨越式发展表示欣佩。越南人民的人道之心和和平和解的精神与自立自强已经敦促约翰先生在两国之间关系的发展做出积极的贡献。
20132月,当约翰先生被选为美国外长后,他已经表示希望能够回到越南,一个他曾经居住和拥有许多纪念的地方。
美国外长约翰即将访问越南一事将有着重要意义,正如美国外交部发言人柏沙琪女士所强调在亚太再平衡战略中,东南亚有着非常重要的地位,因此,约翰外长访越和菲律宾一事已证明了美国与区域的长久承诺。
Đọc thêm...

Ngoại trưởng Mỹ John Kerry – Người bạn thân thiết của Việt Nam

18:45 |

Ngoại trưởng Mỹ John Kerry có chuyến công du tới Trung Đông và Đông Nam Á kéo dài từ ngày 11 đến 18/12/2013, trong đó Việt NamPhilippines là hai điểm dừng chân ở Đông Nam Á.

Khác với một số cựu binh Mỹ từng tham chiến ở Việt Nam vẫn còn phảng phất sự “cay cú”, hận thù, Ngoại trưởng Kerry lại người có tình cảm “đặc biệt” đối với Việt Nam. Ông chính là một trong những thượng nghị sỹ tích cực thúc đẩy nỗ lực bình thường hóa quan hệ giữa Việt Nam và Mỹ.

Sau khi tốt nghiệp trường Đại học Yale năm 1966, Trung úy Hải quân John Kerry được điều động tới Việt Nam với nhiệm vụ chỉ huy tàu tuần tra hoạt động ở tiểu vùng sông Mekong. Trong thời gian tham chiến, ông đã chứng kiến cảnh nhiều người dân vô tội đã bị giết bởi cuộc chiến tranh tàn khốc này. Từ đó, ông quyết định phản đối chiến tranh. Đầu những năm 1970, John Kerry trở về Mỹ và đứng đầu một nhóm cựu binh tham chiến ở Việt Nam phản chiến, được công chúng đánh giá cao. Năm 1971, ông tham gia điều trần trước Ủy ban Đối ngoại Thượng viện Mỹ về quan điểm của mình đối với cuộc chiến tranh Việt Nam. Từ năm 1991-1993, John Kerry được bầu làm Chủ tịch Ủy ban Đối ngoại Thượng viện Mỹ đặc trách về việc tìm hiểu, gom góp dữ kiện về POW/MIA. Chính trên cương vị này, ông đã có nhiều cơ hội tiếp xúc gần gũi với Ban lãnh đạo Việt Nam nói riêng và người dân Việt Nam nói chung, qua đó càng khiến ông thêm gắn bó và có thiện cảm với đất nước và con người Việt Nam. Năm 1994, Thượng viện Mỹ đã thông qua đề nghị của ông Kerry và John McCain yêu cầu dỡ bỏ cấm vận đối với Việt Nam. Đây là bước tiến quan trọng trong quá trình bình thường hóa quan hệ Việt – Mỹ. 

Kể từ khi hai nước bình thường hóa quan hệ năm 1995, ông Kerry luôn có đóng góp tích cực nhằm thúc đẩy mối quan hệ giữa hai nước ngày càng phát triển và hiện được nâng lên thành quan hệ đối tác chiến lược. Đáng chú ý, tháng 8/2012, trước các hành động gây hấn của Trung Quốc ở Biển Đông, Thượng nghị sỹ John Kerry và một số thượng nghĩ sỹ khác đã trình lên Thượng viện Mỹ Nghị quyết S.Res.524 về vấn đề Biển Đông.

Trong dịp Chủ tịch nước Trương Tấn Sang thăm Mỹ hồi tháng 7/2013, Ngoại trưởng John Kerry đã bày tỏ sự biết ơn tới các nhà lãnh đạo Việt Nam trong hơn một thập niên qua đã làm hết sức mình để giúp Mỹ tìm kiếm hàng nghìn binh lính Mỹ mất tích trong chiến tranh theo chương trình POW/MIA, đồng thời bày tỏ sự khâm phục trước sự phát triển “nhảy vọt” của Việt Nam trong công cuộc đổi mới. Chính lòng nhân đạo và tinh thần hòa hiếu, hòa giải, tự lực, tự cường của con người Việt Nam đã thôi thúc ông Kerry có những đóng góp tích cực vào sự phát triển quan hệ giữa hai nước.

Ngay sau khi được bầu làm Ngoại trưởng Mỹ tháng 2/2013, ông Kerry đã bày tỏ mong muốn được quay trở lại Việt Nam, một đất nước mà ông có nhiều kỷ niệm và gắn bó trong suốt thời gian qua.

Chuyến thăm Việt Nam của Ngoại trưởng John Kerry mang ý nghĩa hết sức quan trọng như lời người phát ngôn Bộ Ngoại giao Mỹ bà Jen Psaki đã khẳng định trong chiến lược tái cân bằng xoay trục sang châu Á – Thái Bình Dương, Đông Nam Á nắm giữ vị trí đặc biệt quan trọng, vì vậy, chuyến thăm của Ngoại trưởng John Kerry tới Việt Nam, Philippines chứng tỏ cam kết lâu dài của Mỹ đối với khu vực.


Đọc thêm...

中国外交互访的背后

08:50 |

 

20133月到6月的三个月时间里,中国已派从国家主席特派员、总理特派员、国务院委员、国务院副总理到部长级的11个高级代表团出国进行国外访问。与此同时,中国也接待其中包括不少世界大国的元首、政府首相以及数十个国家的外长到中国进行访问。

这三个月中国频繁的高级代表团互访意味着,中国新的领导班子进行“元首外交”远早于上一届领导班子。刚上任后仅8天,中国国家主席习近平已经进行首次国际访问,并且仅两个月后就进行了第一次国际访问,而前一任中国国家主席胡锦涛要等到上任2个月11天后才进行到俄罗斯,哈萨克斯坦、蒙古的首次国际访问,并且到等到5个月后才进行到泰国、澳大利亚、新西兰的第二次国际访问。这表明中国新的领导班子急切想向世界证明,中国已从“区域大国”成为“全球大国”,而中国外交政策也将最早地、最明显地、最充分地体现出中国新的地位。

中国近期的国际访问包括了亚洲、欧洲、非洲、拉美等四周的大国、新兴国家、周边邻国、发展中国家、美国“后院”的国家以及世界热点地区的国家。这体现了中国外交对象多极化的趋势。但与此同时,中国的外交重心仍是建立新型大国关系模式。中国向俄罗斯提出“在涉及核心利益问题上相”的外交口号,其目的是希望在与日本的Senkaku/钓鱼岛主权争议中能争取到俄罗斯的支持,同时给美- 日联盟造成沉重的打击。另外,中国希望改善与印度的关系,尽力不让印度越来越疏远中国,从此更有效地应对美国“重返亚太”的战略。对被公认是美国“后院”的非洲、拉美于加勒比地区,中国进一步实行经济与政治渗入政策,迫使美国要分散力量进行应对,从此不能全心全意在亚太地区遏制中国的崛起。

对周边邻国,值得注意的是中国的两位最高领导只选择了“大国俱乐部”中的俄罗斯、印度两国进行访问,同时也只派中国外长王毅对东盟中的四国进行访问。王毅的这次访问被国际媒体认为是图谋“破坏东盟”的一次访问。王毅选择访问泰国、印度尼西亚、新加坡与文莱四国表明了中国想拉拢其他东盟成员国,孤立与中国有主权争议的越南与菲律宾的意图。同时,中国国防部长常万全也对问来进行访问,其目的不外乎防止在由文莱举办的东盟系列峰会上进一步“国际化”东海问题的可能性。另外,虽然中 日的Senkaku/钓鱼岛争议还非常紧张,但中国仍接见日本首相的特派员,同时强调通过外交手段解决争端的可能性。中国也通过中 俄关系向日本施加压力。

上述的各种动态表明,在于周边邻国的关系中,目前中国将集中解决“大国”问题,建立中美新型大国外交模式,“一大压小”。分而治之是中国队东南亚国家的传统外交政策。当迫切需要与美国建立新型大国外交关系时,中国需要在东南亚地区拥有足够强有力的底牌。这种政策将使东南亚地区的国家对该地区共同问题更难达成共识。在东海问题上,中国最致命的劣势是缺少有说服力证明其“九段线”主权要求的历史和法律依据,所以中国要通过强迫手段压制周边弱小的邻国,使他们要么选择靠近中国、要么选择靠近美国、或者选择“依靠中国的经济、依靠美国的安全”政策。

总之,“中华梦”并没有中国想象得那么容易实现。战略互信才是建立各国长久稳定关系的核心因素。当中国还未具备该因素时,各国将不会与中国建立真诚的外加关系,“中华梦”也将很难得到实现。
Đọc thêm...

Đằng sau những chuyến công du ngoại giao của Trung Quốc

08:48 |

Trong 3 tháng từ tháng 3 đến tháng 6/2013 vừa qua, Trung Quốc đã cử 11 đoàn từ cấp Bộ trưởng, đặc phái viên của Chủ tịch nước, đặc phái viên của Thủ tướng, Ủy viên Quốc vụ, Phó Thủ tướng của Trung Quốc đi thăm nước ngoài. Cũng trong thời gian đó, Trung Quốc đã đón 10 nguyên thủ, Thủ tướng Chính phủ và hàng chục Ngoại trưởng các nước, trong đó có nhiều nước lớn đến thăm Trung Quốc.

Các hoạt động đối ngoại nhộn nhịp ở cấp cao nhất của Trung Quốc trong 3 tháng qua cho thấy, ban lãnh đạo mới của Trung Quốc đã triển khai “Ngoại giao nguyên thủ” sớm hơn nhiều so với những người tiền nhiệm. Chỉ 8 ngày sau khi nhậm chức, Chủ tịch Tập Cận Bình đã tiến hành chuyến công du đầu tiên ra nước ngoài và chỉ hơn 2 tháng sau lại có chuyến công du thứ hai thì trước đó Chủ tịch Hồ Cẩm Đào phải đợi đến 2 tháng 11 ngày mới tiến hành chuyến công du nước ngoài đầu tiên đến Nga, Kazakstan, Mông Cổ và mãi đến 5 tháng sau nữa mới tiến hành chuyến công du nước ngoài thứ hai đến Thái Lan, Australia, New Zealand (17/10/2013). Điều này cho thấy sự nôn nóng của ban lãnh đạo mới của Trung Quốc muốn chứng tỏ với thế giới rằng, họ đã từ một “cường quốc khu vực” vươn lên thành một “cường quốc toàn cầu” và ngoại giao Trung Quốc phải thực hiện một cách sớm nhất, rõ ràng và đầy đủ nhất vai trò này của Trung Quốc.

Các chuyến thăm tới cả 4 châu lục (Á, Âu, Phi, Mỹ Latinh) có các nước lớn, các cường quốc mới trỗi dậy, các nước láng giềng, các nước đang phát triển, khu vực hậu phương của Mỹ…; các chủ thể liên quan đến các điểm nóng của thế giới, liên quan đến các vấn đề toàn cầu khác. Điều này cho thấy “tính mở rộng” trong chính sách đối ngoại của Trung Quốc được thực hiện một cách ráo riết. Mặc dù là “tính mở rộng” nhưng điểm tập trung nhất, nổi bật nhất là “xây dựng quan hệ nước lớn kiểu mới”. Đối với Nga, Trung Quốc đưa ra việc “ủng hộ lợi ích cốt lõi của nhau” với Nga thực chất là muốn kéo Nga về phía mình trong cuộc tranh chấp với Nhật tại Senkaku / Điếu Ngư, đồng thời đây cũng là một đòn giáng vào liên minh Mỹ - Nhật. Với Ấn Độ, Trung Quốc muốn chơi đẹp hơn để không đẩy Ấn Độ ra xa, giúp Trung Quốc ứng phó hiệu quả hơn với chiến lược “tái cân bằng châu Á – Thái Bình Dương” của Mỹ. Đối với khu vực châu Phi, Mỹ Latinh và vùng Caribe được coi là sân sau của Mỹ thì Trung Quốc thực hiện chiến lược “phản kiềm chế”, thâm nhập sâu cả về chiến lược và kinh tế nhằm buộc Mỹ phải dàn lực lượng ra để đối phó, không thể dồn toàn lực cho việc kiềm chế Trung Quốc tại châu Á – Thái Bình Dương, vòng vây chiến lược của Mỹ xung quanh Trung Quốc cũng sẽ dãn bớt sức ép.

Riêng đối với các nước láng giềng, đáng chú ý là hai nhà lãnh đạo mới cao nhất của Trung Quốc chỉ chọn hai láng giềng trong “câu lạc bộ nước lớn” là Nga, Ấn trong khi chỉ cử Ngoại trưởng Vương Nghị đến thăm 4 nước ASEAN. Chuyến thăm này của Vương Nghị được một số báo chí gọi là “chuyến đi phá hoại đoàn kết của ASEAN”. Việc chọn nơi đến thăm của Vương Nghị (Thái Lan, Indonesia, Singgapore và Brunei từ ngày 30/4 đến 5/5/2013) đã chứng tỏ ý đồ lôi kéo các nước ASEAN, cô lập Việt Nam và Philippines, hai nước có tranh chấp gay gắt nhất với Trung Quốc tại Biển Đông. Bên cạnh đó, ngày 6/5, Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc Thường Vạn Toàn cũng đã thăm Brunei nhằm mục tiêu hạn chế, ngăn chặn việc “quốc tế hóa hơn nữa” vấn đề Biển Đông tại các hội nghị ASEAN và ASEAN với các đối tác do nước chủ nhà Brunei tổ chức. Một láng giềng nữa cũng thuộc loại “nước lớn” là Nhật Bản, tuy tranh chấp Senkaku / Điếu Ngư vẫn tiếp diễn gay gắt nhưng Trung Quốc cũng đã tiếp Đại sứ của Thủ tướng Nhật Bản, vẫn để ngỏ khả năng thông qua đàm phán để giải quyết các vấn đề đang bất đồng. Mặt khác, Trung Quốc cũng lợi dụng quan hệ Trung – Nga, dùng quan hệ với một nước lớn khác để gây sức ép với Nhật Bản…

Các động thái trên cho thấy, trong quan hệ với láng giềng, trước mắt, Trung Quốc sẽ tập trung giải quyết các vấn đề với các “láng giềng là nước lớn”, xây dựng “quan hệ nước lớn kiểu mới” với Mỹ, “dùng lớn ép nhỏ”. Chia để trị là chính sách muôn thuở của Trung Quốc đối với Đông Nam Á. Khi nhu cầu xây dựng quan hệ nước lớn kiểu mới với Mỹ càng trở nên bức thiết, Trung Quốc càng cần có những con bài tại khu vực này để chơi với Mỹ và các thành viên trong khu vực càng khó đi đến tiếng nói chung trong các vấn đề của khu vực, trong đó có vấn đề Biển Đông. Chủ yếu nhất của Trung Quốc tại khu vực là không đủ chứng cứ pháp lý và lịch sử để chứng minh cho tham vọng chủ quyền biển đảo của họ theo yêu sách “đường lưỡi bò”, dẫn đến dùng sức mạnh để lấn át kẻ yếu, gây căng thẳng tại khu vực, làm cho các nước trong khu vực, hoặc phải lựa chọn đứng về một bên giữa Mỹ và Trung Quốc hoặc là “dựa vào Trung Quốc về kinh tế, dựa vào Mỹ về an ninh”.
Tuy nhiên, “Giấc mộng Trung Hoa” không thật sự thực hiện dễ dàng như Trung Quốc nghĩ. Lòng tin chiến lược mới là nhân tố cốt lõi để xây dựng quan hệ bền chặt giữa các quốc gia, dù đó là quốc gia lớn hay nhỏ, giàu hay nghèo. Điều đáng nói nữa là Trung Quốc chưa bao giờ có và không biết đến bao giờ mới có nhân tố cốt lõi đó, cho nên dù có xây dựng quan hệ bằng cách nào, Trung Quốc cũng khó lòng đạt được thành công./.
Đọc thêm...

中国巩固中亚地区的战略“后院”

07:18 |

 
本着不让强大的邻国俄罗斯在中亚富有地区的影响力争夺战忠取得领先位置,中国国家主席习近平于201393日至13日对哈萨克斯坦、吉尔吉斯斯坦、塔吉克斯坦和乌兹别克斯坦中亚四国进行为期10天的正式访问。这是从中国国家主席上任后首次对该四国进行访问。此次访问的目的是为了在中国影响力因美国实行“重返亚太”战略而严重下降的情况下巩固和加强与中亚四国的关系。

中亚地区位于亚欧地区的中心,北边靠近俄罗斯,南边靠近印度和巴基斯坦,东边靠近亚太地区,西边临近黑海和 Kavkar地区。中亚地区的不稳定将对全世界造成影响,多义该地区的战略意义非常显著。中国的新疆、西藏地区靠近中亚,该地区的局势跟中国西边边境地区的稳定与发展密切相关,所以中国巩固与中亚地区国家的关系显得尤为重要。这是中国国家主席上任后的第三次进行国际访问。中国与上述的中亚四国虽然从久就建立外交关系,但其关系并不稳定,因为中国的“新疆独立”运动分子与该四国的伊斯兰教极端分子关系非常密切。另外,美国继续维持在吉尔吉斯斯坦的军事基地以及在该地区曾发生过的“颜色革命”等因素也对中国造成不小的影响。在东海地区面临不利局面的情况下,中国不得不巩固其“后院”的中亚地区。

中国选择对中亚四国进行国外访问是基于以下一些因素:

其一,从经济上而言,中亚四国拥有丰富的石油资源,可以成为中国重要的石油提供商。在给中国提供80%石油进口量的中东地区局势日益混乱的情况下,中亚地区的石油资源对中国经济的稳定与发展将尤为重要。

其二,从政治上而言,中国可以通过外交手段遏制“新疆独立”运动。新疆自己起近期连续发生骚乱事件,其目的在于使新疆地区从中国独立出来新疆独立运动与中亚地区的伊斯兰教极端分子关系非常密切。在美国向亚太地区调整战略重心和中国国内因领导班子刚刚更换而显得不稳定的情况下,中国非常担忧新疆状况可以给中国内地带来严重的影响。

其三,中国非常担心在2014年美国从阿富汗撤军后自己“后院”的中亚地区发生不稳定局面。所以,与中亚地区保持友好关系,维持该地区的稳定将减少中国潜在的危机。另外,趁美国撤军之际,中国也希望可以代替美国在该地区发挥出主导地位。

其四,中国希望可以说服中亚四国不允许美国在其领土内设立军事基地,进而在中国的“肋骨”和“后备”的战略要害暗藏潜在的威胁。美国维持在吉尔吉斯斯坦的军事基地让中国非常不安。给军事基地给在阿富汗的美军提供战略支援,所以中国希望可以说服吉尔吉斯斯坦在美军撤离后也撤销该军事基地。

其五,中国想趁此机会向世界“宣示”中国共产党18大后新的领导班子,同时展示他们新的对外政策。

基于上述的目的,在访问中亚四国期间,中国国家主席习近平非常积极推动与四国的战略合作关系, 并向四国提供多项投资和援助。众多专门研究中国的专家学者指出,这是中国为了实现更为远大的目的而进行的战略步骤。在经济合作的同时,中亚地区的战略位置对中国安全战略具有至关重要的位置。目前,中国不断想方设法扩大在东海地区的影响力,但中国的好战、霸道态度和行为受到了国际社会的指责,所以中国希望从其他方面获得支持。中国希望在不久的将来,当中国在该地区的投资不断增加时,中亚地区将完全属于中国影响力范围内。另外,中国也希望在于美国、俄罗斯、印度等国的影响力争夺战中获得有力的位/..但是,在中亚地区以及全球范围内的战略棋盘中,一切并不像中国想象那样简单。
Đọc thêm...

Trung Quốc củng cố “sân sau” chiến lược với bốn nước Trung Á

07:14 |

 

Với quyết tâm không để người láng giềng Nga vượt mặt trong cuộc đua tranh giành ảnh hưởng vị thế tại khu vực Trung Á giàu tiềm năng, Chủ tịch Trung Quốc đã thực hiện chuyến công du 10 ngày (3-13/9/2013) tới bốn quốc gia gồm Kazakhstan, Kyrgyzstan, Tajikistan, Uzbekistan. Đây là chuyến thăm đầu tiên tới bốn nước Trung Á của Chủ tịch Tập Cận Bình kể từ khi nhậm chức nhằm củng cố và tăng cường quan hệ với các nước “sân sau” của Trung Quốc trong tình hình uy tín và ảnh hưởng ở “sân trước” là Biển Đông bị suy giảm kể từ khi Mỹ thực hiện chiến lược trở lại châu Á – Thái Bình Dương.

Khu vực Trung Á nằm ở Trung tâm đại lục Á – Âu, phía Bắc giáp với Nga, phía Nam giáp với Ấn Độ, Pakistan, phía Đông giáp với khu vực châu Á Thái Bình Dương, phía Tây giáp với vùng Kavka, Biển Đen. Sự biến động của khu vực Trung Á sẽ ảnh hưởng đến toàn thế giới, vì thế ý nghĩa chiến lược của khu vực với thế giới ngày càng rõ nét. Khu vực Tân Cương, Tây Tạng của Trung Quốc tiếp giáp với khu vực Trung Á, do vậy tình hình ở khu vực này có quan hệ mật thiết với sự ổn định, phát triển của khu vực của khu vực biên giới phía Tây của Trung Quốc do đó việc Trung Quốc củng cố quan hệ với các nước Trung Á có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Đây là chuyến thăm nước ngoài lần thứ ba của Chủ tịch Tập Cận Bình. Mặc dù Trung Quốc và 4 nước Trung Á “sân sau” tuy có quan hệ hữu nghị lâu dài nhưng không ổn định vì “Phong trào ly khai Tân cương” của Trung Quốc có quan hệ gắn bó với các phần tử Hồi giáo ở các nước Trung Á này. Ngoài ra, việc Mỹ tiếp tục duy trì căn cứ quân sự ở Kyrgyzstan gần kề với Trung Quốc và “Cuộc cách mạng màu” từng nổ ra đã tác động không nhỏ tới Trung Quốc. Trước tình thế “sân trước” Biển Đông đang bất lợi, Trung Quốc buộc phải tăng cường củng cố “sân sau”. Trung Quốc lựa chọn bốn quốc gia Trung Á để thực hiện chuyến công du vì nhiều nguyên nhân:

Thứ nhất, về kinh tế, bốn nước này có nguồn dầu lửa phong phú có thể bổ sung cho nguồn dầu mỏ của Trung Quốc. Điều này hết sức có ý nghĩa trong bối cảnh khu vực Trung Đông chiếm tới 80% lượng nhập khẩu dầu mỏ của Trung Quốc đang đứng trước nguy cơ ngày một bất ổn.

Thứ hai, về chính trị, thông qua ngoại giao để ngăn chặn Phong trào ly khai ở Tân Cương. Khu tự trị Tân Cương liên tục nổ ra các cuộc nổi dậy đòi độc lập, tách Tân Cương ra khỏi Trung Quốc. Phong trào ly khai ở đây có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ với các phần tử Hồi giáo cực đoan ở Trung Á. Trong bối cảnh Mỹ chuyển trọng tâm chiến lược sang khu vực châu Á – Thái Bình Dương và trong nước chưa ổn định sau khi thế hệ lãnh đạo mới lên cầm quyền, Trung Quốc rất lo ngại về tình hình Tân Cương có thể tác động sâu vào nội địa Trung Quốc.

Thứ ba, Trung Quốc lo ngại tình hình bất ổn ngay “sân sau” của mình khi Mỹ rút quân khỏi Afghanistan vào năm 2014. Bởi vậy, duy trì tốt quan hệ với bốn nước Trung Á có thể giảm bớt các nguy cơ tác động vào Trung Quốc. Ngoài ra, nhân cơ hội Mỹ rút quân, Trung Quốc hi vọng có thể phát huy vai trò quan trọng thay thế Mỹ ở khu vực này.

Thứ tư, Trung Quốc muốn cố gắng thuyết phục các nước Trung Á không cho Mỹ lập căn cứ quân sự, tạo ra nguy cơ tiềm tàng ngay bên sườn và sau lưng Trung Quốc. Việc Mỹ tiếp tục duy trì căn cứ quân sự tại Kyrgyzstan khiến Trung Quốc lo ngại. Căn cứ này chi viện đắc lực cho quân Mỹ ở Afghanistan, vì vậy Trung Quốc muốn thuyết phục tháo gỡ các căn cứ quân sự ngay sau khi Mỹ rút quân.

Thứ năm, Trung Quốc muốn tranh thủ các chuyến công du này để “biểu dương lực lượng” của đội ngũ lãnh đạo sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 18 và giới thiệu chính sách đối nội, đối ngoại của Trung Quốc với các nước.

Với một loạt lý do trên, trong các chuyến công du tới bốn nước Trung Á, Chủ tịch Tập Cận Bình đã thúc đẩy mối quan hệ hợp tác chiến lược với các nước, tăng cường nhiều gói viện trợ và hợp đồng kinh tế nhằm đáp ứng nhu cầu an ninh, ổn định chung. Tuy nhiên, nhiều nhà nghiên cứu về Trung Quốc cho rằng, đây là một trong những bước đi chiến lược của Trung Quốc nhằm thực hiện những ý đồ sâu xa hơn. Bên cạnh việc hợp tác kinh tế, vị trí chiến lược của Trung Á còn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong chiến lược an ninh của Trung Quốc. Hiện, Trung Quốc không ngừng tăng cường vị thế trên Biển Đông song Trung Quốc lại bị quốc tế chỉ trích về sự hung hăng của mình do đó mà Trung Quốc muốn tìm kiếm ủng hộ ở nhiều “cửa”. Trung Quốc hi vọng rằng trong tương lai, các nước Trung Á sẽ hoàn toàn chịu ảnh hưởng của Bắc Kinh khi đầu tư Trung Quốc không ngừng lan rộng tại khu vực này. Mặt khác, Trung Quốc muốn giành ảnh hưởng và cân bằng quyền lực quốc tế trong cuộc cạnh tranh khốc liệt với các cường quốc như Mỹ, Nga, Ấn Độ. Tuy nhiên, trên bản đồ thế giới nói chung và tại bàn cờ Trung Á nói riêng, có thể mọi thứ sẽ không dễ dàng cho Trung Quốc như nước này nghĩ./.
Đọc thêm...

国际社会指责中国的华东海防空识别区

19:09 |
在因实行独占东海意图而受到国际社会的强烈指责之后,中国再次因单方面在华东海宣布设立防空识别区(ADIZ)而使国际社会深表担忧。中国的华东海防空识别区包括了目前在日本管辖下的钓鱼岛/Senkaku。中国的这一举动已受到日本、美国、韩国、台湾、澳大利亚、印度等国家和地区的强烈反对。
日本是第一个表示强烈反对的国家。日本宣布不承认中国在华东海的防空识别区,认为中国正意图单方面改变华东海的现状,同时强调中国的该动作将使两国关于海洋海岛争议的紧张局势进一步升级。日本也强硬宣布将对任何侵犯日本领空的国家实行回击行动。同时日本战机在没有事先知会中国的情况下飞入了中国所划定的华东海防空识别区;指示日本民航公司在经过该地区时不遵守中国所做出的规定;正式宣布成立国家安全委员会(NSC);日本下议院通过了要求中国撤销华东海防空识别区的提案等。日本也表示该国将与美国密切合作,对付中国单方面设立防空识别区的行为。
美国政府对中国设立防空识别区的决定表示担忧,认为该行为将使地区局势越发紧张,影响到美国以及盟友国家的利益。美国两架B-52战略轰炸机在没有事先知会中国的情况下飞越了中国设立的华东海防空识别区,同时强调将继续实行飞越该“国际空域”的权益。123日在访问日本期间,美国副总统拜登宣布美国将遵守与日本签署的安全协议的各项条款,其中标明美国将保护在日本管辖下的岛屿。为了对付中国,美 - 日联盟准备于20143月在新潟和群马两县进行海空军联合演习。
韩国对中国所划定的华东海防空识别区也表示强烈的反对,因为中国的防空识别区包括了韩 - 中正存在领土争议的Ieodo/苏岩礁,同时与韩国之前宣布的防空识别区有所重叠。韩国认为中国的该行为将使东北亚局势恶化,并将越发难以解决。韩国国防部已召见中国驻韩大使馆武官,就中国单方面划设东海防空识别区一事表示了遗憾。值得注意的是,为了回应中国的动作,韩国也派军机在在没有事先知会中国的情况下飞越了中国设立的华东海防空识别区,同时正式公布扩大“韩国防空识别区”的计划。
因为担心中国的行为将对地区的安全、和平与稳定造成威胁,澳大利亚外交部已经召见中国驻澳大利亚大使就中国划设东海防空识别区表示关切,并对中国这一举动的目的表示质疑。澳大利亚反对所有单方面使地区局势恶化的行为,强调中国设立华东海防空识别区并不利于确保该地区的安全、和平与稳定。
由于中国的华东海防空识别区与台湾防空识别区有所重叠,台湾安全委员会已召开紧急会议,讨论对中国宣布设立防空识别区的对策,同时台湾也派军机往华东海防空识别区飞越30次左右而并未受到任何阻止。
另外,印度宣布中国成立华东海防空识别区将严重影响到印度国家民航公司(Air India)飞往日本的航班。
也许在公布设立华东海防空识别区之前,中国没想到会受到国际社会如此强烈的反对。那么,在受到如此强烈反对的背景下,中国是否会在其他海域重复这样的行为呢?这也是国际社会非常关注的问题。
Đọc thêm...

Cộng đồng quốc tế chỉ trích ADIZ của Trung Quốc ở Biển Hoa Đông

18:45 |


Sau những động thái nhằm thực hiện ý đồ độc chiếm Biến Đông khiến cộng đồng quốc tế chỉ trích mạnh mẽ, Trung Quốc một lần nữa khiến dư luận quốc tế quan ngại khi đơn phương tuyên bố thiết lập “Vùng nhận dạng phòng không” (ADIZ) ở Biển Hoa Đông, trong đó bao trùm không phận của quần đảo Senkaku/Điếu Ngư hiện do Nhật Bản kiểm soát. Quyết định này của Trung Quốc đã gặp phải sự phản đối từ nhiều nước và vùng lãnh thổ như Nhật Bản, Mỹ, Hàn Quốc, Đài Loan, Australia, Ấn Độ…

Nước đầu tiên phản đối quyết liệt đương nhiên là Nhật Bản. Nhật Bản tuyên bố Tokyo không công nhận Khu vực ADIZ của Trung Quốc ở Biển Hoa Đông, cho rằng Trung Quốc đang đơn phương nhằm thay đổi hiện trạng ở Biển Hoa Đông, khẳng định hành động này của Bắc Kinh có thể làm gia tăng căng thẳng về vấn đề tranh chấp biển đảo giữa hai nước, Tokyo sẽ hành động chống lại bất kỳ nước nào vi phạm không phận Nhật Bản. Đồng thời Nhật Bản đã triển khai máy bay quân sự bay vào vùng ADIZ nói trên mà không thông báo với phía Trung Quốc; chỉ đạo các hãng hàng không Nhật Bản không tuân thủ các yêu cầu do Trung Quốc đưa ra khi đi qua khu vực này; chính thức thành lập Hội đồng an ninh quốc gia (NSC); Hạ viện Nhật Bản thông qua nghị quyết yêu cầu Bắc Kinh hủy bỏ ADIZ trên Biển Hoa Đông… Nhật Bản cho biết nước này sẽ hợp tác với Mỹ để đối phó với việc Trung Quốc đơn phương thiết lập ADIZ.

Chính giới Mỹ bày tỏ quan ngại quyết định của Trung Quốc sẽ làm gia tăng căng thẳng trong khu vực, gây ảnh hưởng tới các quyền lợi của Mỹ và các đồng minh. Mỹ đã điều 2 máy bay B52 bay qua khu vực ADIZ nói trên mà không thông báo với TQ đồng thời khẳng định sẽ tiếp tục thực hiện quyền bay qua khu vực “không phận quốc tế”. Trong chuyến thăm NB ngày 3/12, Phó Tổng thống Mỹ Biden tuyên bố về việc Mỹ sẽ thực hiện đúng các quy định của Hiệp ước an ninh đã ký với NB, trong đó nêu rõ Mỹ sẽ bảo vệ những quần đảo mà NB đang nắm quyền kiểm soát. Để đối phó với Trung Quốc, Liên minh Mỹ - Nhật dự kiến sẽ tổ chức cuộc tập trận chung Hải quân - Không quân ở các tỉnh Niigata và Gunma vào tháng 3/2014.

Hàn Quốc cũng có phản ứng mạnh mẽ đối với ADIZ của Trung Quốc trên Biển Hoa Đông vì ADIZ bao gồm cả không phận trên bãi đá ngầm Ieodo/Tô Nham Tiêu đang tranh chấp giữa hai bên và chồng lấn với ADIZ của Hàn Quốc; cho rằng, quyết định này của TQ có thể làm tình hình tại khu vực Đông Bắc Á ngày càng xấu đi và khó giải quyết hơn. Bộ Quốc phòng HQ đã triệu tập tùy viên quân sự Trung Quốc tại Seoul để bày tỏ quan ngại về hành động của Trung Quốc. Đáng chú ý, để đáp trả, Hàn Quốc đã điều máy bay quân sự bay vào khu vực ADIZ nói trên mà không thông báo cho phía Trung Quốc, đồng thời chính thức công bố kế hoạch mở rộng “Khu vực nhận dạng phòng không Hàn Quốc” (KADIZ).

Lo ngại hành động của Trung Quốc đe dọa an ninh, hòa bình, ổn định ở khu vực, Bộ Ngoại giao Australia đã triệu tập Đại sứ TQ để bày tỏ quan ngại và chất vấn về mục đích TQ thiết lập ADIZ. Australia phản đối mọi hành động đơn phương gây bất ổn và khẳng định việc TQ thiết lập ADIZ sẽ không giúp đảm bảo ổn định an ninh khu vực.

Do ADIZ của Trung Quốc ở Biển Hoa Đông chồng lấn với ADIZ của Đài Loan, Ủy ban An ninh Đài Loan đã triệu tập phiên họp khẩn cấp bàn cách đối phó với tuyên bố thành lập ADIZ của TQ, đồng thời nước này đã điều máy bay quân sự tiến hành khoảng 30 chuyến bay vào vùng chồng lấn không phận với TQ mà không gặp trở ngại nào.

Ngoài ra,  Ấn Độ tuyên bố việc TQ thiết lập ADIZ trên Biển Hoa Đông sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến các chuyến bay của Hãng hàng không quốc gia Ấn Độ (Air India) tới Nhật Bản.

Có lẽ trước khi công bố việc thiết lập ADIZ ở Biển Hoa Đông, Trung Quốc không nghĩ sẽ gặp phải phản ứng quyết liệt như vậy từ các nước. Liệu Trung Quốc có lặp lại hành động tương tự ở những vùng biển khác hay không?
Đọc thêm...

Hot (焦点)