Ấn Độ và Nhật Bản cùng cạnh tranh ảnh hưởng với Trung Quốc tại Myanmar

16:01 |
Myanmar, nơi từng được xem là "sân sau" của Trung Quốc đang ngày càng thoát dần tầm ảnh hưởng của TQ khi nước này tiến hành cải cách dân chủ sâu rộng, được Mỹ và phương Tây đánh giá cao. Các nước, kể cả những nước trước đây từng áp đặt lệnh trừng phạt với Myanmar, giờ đây sẵn sàng tăng cường quan hệ với Myanmar trên nhiều lĩnh vực. Nhật Bản và Ấn Độ cũng đang thúc đẩy quan hệ, gia tăng ảnh hưởng tại quốc gia được đánh giá là "ngôi sao mới nổi của châu Á" này. Tờ the Diplomat mới đây đã đăng bài viết bình luận về việc hai “ông lớn” của châu Á là Nhật Bản và Ấn Độ cùng bắt tay tăng cường "quyền lực mềm" tại Myanmar, thách thức vai trò, ảnh hưởng của TQ tại đất nước này. Sau đây là nội dung bài viết:
Sau khi quá trình cải kinh tế diễn ra và chính phủ mới được bầu từ năm 2010, Myanmar giờ đây được xem là "ngôi sao mới nổi của châu Á" trong bối cảnh viễn cảnh đầu tư và thương mại quốc tế tươi sáng. Các quốc gia từng áp đặt các lệnh trừng phạt với Myanmar trong quá khứ giờ đây sẵn sàng đầu tư và hợp tác với quốc gia Đông Nam Á, đất nước sở hữu nhiều tài nguyên và một nền kinh tế có tiềm năng phát triển to lớn.
Nhiều quốc gia đã tìm đường vào Myanmar, trong đó đứng đầu là Trung Quốc. Sự ảnh hưởng của Trung Quốc xuất hiện ở mọi nơi, dù là thương mại hay phát triển cơ sở hạ tầng. Tuy nhiên, Trung Quốc ngày càng bị xem là "ông chủ" và sự thành kiến đối với Bắc Kinh ngày càng gia tăng. Nhiều người Myanmar giờ đây tin rằng Trung Quốc tìm cách khai thác các tài nguyên thiên nhiên của Myanmar. Các cuộc xung đột gần đây tại khu vực Kokang dọc biên giới giữa hai nước đã khiến phức tạp quan hệ song phương ngày càng phức tạp.
Myanmar giờ đây mở cửa cho tất cả các doanh nghiệp, khuyến khích các quốc gia khắp thế giới xem nước này là một địa điểm đầu tư hấp dẫn. Singapore, Nhật Bản, Ấn Độ, cùng các quốc gia khác, giờ đây đang trong quá trình thiết lập quan hệ kinh tế tại quốc gia Đông Nam Á. Hai quốc gia đặc biệt quan trọng với Myanmar là Nhật Bản và Ấn Độ, đều là hai "ông lớn" tại châu Á.
Nhật Bản tiến sâu vào Myanmar
Dù Nhật Bản, do sức ép của Mỹ, từng áp đặt các lệnh trừng phạt đối với chính quyền quân sự tại Myanmar, cắt giảm viện trợ, nhưng Tokyo không cắt hoàn toàn quan hệ. Thông qua các mối quan hệ riêng tư và ngoại giao cá nhân, Tokyo vẫn duy trì mạng lưới các doanh nghiệp và giới chức tại Yangon và tại Naypyidaw, thủ đô mới của Myanmar. Nhật Bản đã nối lại viện trợ cho Myanmar khi chính quyền quân sự được thay thế bằng chính quyền dân sự.
Trên thực tế, Nhật Bản từ lâu đã là một nhà tài trợ cho Myanmar, nước đầu tiên tại Đông Nám Á nhận bồi thường thiệt hại chiến tranh vào năm 2005. Mối liên hệ viện trợ đó vẫn rất mạnh. Khi chính quyền dân sự lên nắm quyền tại Naypyidaw, Tokyo đã xóa khoản nợ gần 3 tỷ USD cho Myanmar và cam kết các khoản vay mới cho một loạt dự án hạ tầng. Một nguồn viện trợ lớn của Nhật đã được dùng để hỗ trợ việc phát triển hệ thống đường sắt, các cơ sở y tế và các công trình công cộng khác.
Trong khi đó, đầu tư trực tiếp của Nhật vào Myanmar đã tăng đáng kể trong những năm gần đây và thực tế Nhật Bản đang bắt kịp Trung Quốc. Ví dụ vào năm 2013, đầu tư của Nhật Bản tại Myanmar là 55,7 tỷ USD, xấp xỉ con số 56,9 tỷ USD của Trung Quốc. Ba ngân hàng của Nhật gần đây đã nhận được 3 trong số 9 giấy phép được cấp cho các ngân hàng nước ngoài để hoạt động tại Nhật. Ba ngân hàng này, cùng với Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA), sẽ phát triển Khu công nghiệp Thilawa ở ngoại ô Yangon. JICA cũng có sự hiện diện đáng kể tại Myanmar với 35 nhân viên. Viện trợ của Nhật cho Myanmar sẽ không chỉ tăng lên, mà các tập đoàn của Nhật tham gia vào các dự án phát triển cũng được hưởng lợi.
Sự hiện diện của Ấn Độ
Ấn Độ cũng gia tăng sự hiện diện tại Myanmar trong thập niên qua. Thương mại song phương, ở mức chỉ trên 1 tỷ USD vào năm 2009, đã tăng lên gần 2 tỷ USD trong năm 2013-2014. Ước tính, con số đó có thể tăng lên 3 tỷ USD trong năm 2015 và hai bên đang đạt mục tiêu đầy tham vọng là 10 tỷ USD vào năm 2020.
Một loạt các công ty của Ấn Độ đã thiết lập hoạt động tại Myanmar trong đó có các tập đoàn dầu mỏ và khí đốt lớn như ONGC Videsh và GAIL. Các ngân hàng như Ngân hàng quốc gia Ấn Độ, Ngân hàng Ấn Độ, Ngân hàng Exim Ấn Độ đều mở văn phòng tại quốc gia Đông Nam Á.
Giống Nhật Bản, Ấn Độ không giới hạn quan hệ với Mynamar. Ngoài lĩnh vực thương mại, New Delhi giờ đây đang trợ giúp Myanmar trong các lĩnh vực như công nghệ thông tin, nông nghiệp, cơ sở hạ tầng. Gần đây, Ấn Độ đã giúp đỡ Myanmar đẩy mạnh các viện đào tạo thương mại và đào tạo các quan chức thương mại Myanmar về các vấn đề liên quan tới WTO.
Mặc dù cả Ấn Độ và Nhật Bản có lợi ích kinh tế tại Myanmar nhưng quan trọng hơn là vị trí chiến lược của nước này. Chính sách hướng đông của Ấn Độ sẽ không thể thực hiện nếu không có quan hệ mạnh mẽ và sự kết nối lớn hơn với Myanmar. Vì lẽ đó, cựu Thủ tướng Ấn Độ Manmohan Singh đã tới thăm Myanmar vào năm 2012, trở thành thủ tướng đầu tiên của Ấn Độ thăm quốc gia Đông Nam Á kể từ năm 1987. Thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi đã tới thăm Myanmar để tham dự Thượng đỉnh Đông Á và một chuyến thăm song phương dự kiến sớm diễn ra.
 Hợp tác quyền lực mềm Ấn-Nhật
Trong khi đó, quan hệ Ấn Độ-Nhật Bản đã phát triển trong thập niên qua, và quy mô đã mở rộng ra cả hợp tác an ninh và quốc phòng. Chuyến thăm của Thủ tướng Ấn Độ Modi tới Nhật Bản hồi tháng 9/2014 và sự đón tiếp nồng ấm mà ông nhận được từ nước chủ nhà đã thêm minh chứng cho mối quan hệ ngày càng thân thiết giữa hai nước.
Cả hai nước đều có các lợi ích chiến lược tại Myanmar. Tất nhiên, bất kỳ hợp tác quân sự nào cũng có nguy cơ làm gia tăng căng thẳng với Trung Quốc. Nhưng có tiềm năng để Ấn Độ và Nhật Bản thúc đẩy các lĩnh vực hợp tác tại Myanmar.
JICA đang đầu tư 100 triệu USD vào việc phát triển cơ sở hạ tầng tại đông bắc Ấn Độ và điều này không chỉ trợ giúp sự phát triển của khu vực mà còn tăng cường kết nối với Myanmar.
Ngoài kinh tế, trợ giúp Myanmar, ví dụ như xây dựng các tổ chức đào tạo và các tài sản văn hóa - các lĩnh vực được xem là liên quan tới quyền lực mềm - có thể phục vụ lợi ích của cả Nhật Bản và Ấn Độ xét về lâu dài và tạo ra nền tảng hữu ích để phát triển cá dạng hợp tác khác.
Cả Ấn Độ và Nhật Bản đều có thể trợ giúp phát triển lĩnh vực kỹ thuật thông tin của Myanmar bằng cách thiết lập các tổ chức đào tào. Các lĩnh vực tiềm tàng khác là phát triển du lịch. Phật giáo cũng là một mối liên hệ quan trọng giữa 3 nước, và Nhật Bản đã tài trợ hào phóng để hồi sinh Đại học Nalanda tại Bihar. Hai nước cũng hợp tác để phát triển các trung tâm nghiên cứu đẳng cấp thế giới tại Myanmar, tập trung vào Phật giáo.

Mặc dù quan hệ đối tác Ấn Độ-Nhật Bản tại một nước thứ 3 chưa hình thành nhưng Myanmar là một địa điểm luận lợi để khởi động điều đó. Trên thực tế, điều đó hoàn toàn có lý vì sự tương đồng chiến lược ngày càng gia tăng giữa Ấn Độ và Nhật Bản, và cũng bởi một thực tế rằng bản chất viện trợ mà hai nước này cung cấp cho Myanmar rất tương đồng, dù quy mô khác nhau.
Đọc thêm...

美国与日本分担东海监视责任

15:58 |
日本"Nihon Keizai Shimbun" 49日报道称,在同日本首相Shinzo Abe和日本防长Gen Nakatani的会谈中,美国防长Ashton B. Carter表示希望日本与美国分担东海监视责任。
在同美国防长Ashton B. Carter的会谈中,日本首相Shinzo Abe强调称,希望通过旨在解禁集体自卫权的安保法制完善工作、以及规定自卫队和美军职责分工的《日美防卫合作方针》的修改工作来提高威慑力;同时表示日美两国共享普遍的价值观,强化日美同盟一定有益于亚太地区和平与繁荣。对此,Ashton B. Carter表示,“本次防卫方针的修改必将保障亚洲地区和世界的和平与稳定”。
在同美国防长Ashton B. Carter的会谈中,日本防长Gen Nakatani 表示将就《日美防卫合作方针》的修改进程加速协商。
关于东海问题,双方一致反对任何依靠武力手段改变东海县装的行为。在会谈结束后举行的新闻发布会上,美国防长Carter在会谈后的记者会上批评中国说:“坚决反对军事化。”
该文章认为,相比日本自卫队和美军紧密合作的华东海,“东海的菲律宾等国海上防卫力量薄弱,给中国提供了可乘之机”
由于美国削减了国防费,如果自卫队能够分担南海的监视任务,美国的负担将减轻。
有关上述动态,49日美国外交部发言人Jeff Rathke表示,“我们认为,中国填海造地正在该地区引发更大的不安。华盛顿担心中国“可能在东海争议岛礁上设立军事化据点。因此,我们正密切关注事态进展,并将继续向中国及该地区其它国家表达忧虑,并呼吁各方避免破坏稳定的行为。”
Đọc thêm...

Mỹ và Nhật Bản chia sẻ nhiệm vụ tuần tra Biển Đông

15:57 |

Theo trang mạng "Nihon Keizai Shimbun" của Nhật Bản  ngày 9/4, trong các cuộc hội đàm với Thủ tướng Shinzo Abe và Bộ trưởng Quốc phòng Nhật Bản Gen Nakatani, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Ashton B. Carter đã thể hiện quan điểm muốn Nhật Bản có thể chia sẻ nhiệm vụ cảnh giới khu vực Biển Đông với Mỹ nhằm kiềm chế Trung Quốc.
Về phía Nhật Bản, Thủ tướng Shinzo Abe nhấn mạnh "hy vọng thông qua sửa đổi Chỉ nam hợp tác phòng vệ Nhật-Mỹ và pháp chế bảo đảm an ninh để nâng cao năng lực răn đe", đồng thời cho rằng "hai nước Nhật-Mỹ có quan niệm giá trị chung, tăng cường quan hệ đồng minh chắc chắn sẽ có lợi cho hòa bình và phồn vinh tại khu vực châu Á-Thái Bình Dương". Ông Ashton Carter cũng đưa ra nhận định rằng sửa đổi Chỉ nam "sẽ bảo đảm hòa bình và ổn định của khu vực châu Á và thế giới".
Trong khi đó, hội đàm với ông Ashton B. Carter về vấn đề sửa đổi Chỉ nam được bắt đầu trong tháng 4, Bộ trưởng Quốc phòng Nhật Bản Gen Nakatani xác nhận sẽ tích cực triển khai công việc. 
Về tình hình Biển Đông, hai bên đã đạt được nhất trí về việc phản đối các hành động có ý đồ dựa vào sức mạnh làm thay đổi hiện trạng. Tại cuộc họp báo sau khi kết thúc hội đàm, ông Carter đã phê phán Trung Quốc, cho rằng "kiên quyết phản đối các hành động quân sự hóa".
Theo bài báo trên, ở khu vực Biển Hoa Đông có sự phối hợp chặt chẽ giữa Lực lượng Phòng vệ Nhật Bản và Quân đội Mỹ. Trong khi đó, ở khu vực Biển Đông, do lực lượng phòng vệ trên biển của các nước như Philippines mỏng yếu, đã đem lại 'cơ hội' cho Trung Quốc lợi dụng. 
Mỹ đang cắt giảm chi tiêu quốc phòng, nếu Lực lượng Phòng vệ Nhật Bản có thể gánh vác nhiệm vụ như cảnh giới, sẽ giảm bớt gánh nặng cho Quân đội Mỹ. Đa số quan điểm nội bộ Chính phủ Nhật Bản cho rằng, sau khi sửa đổi Chỉ nam hợp tác phòng vệ Nhật-Mỹ, Mỹ sẽ yêu cầu ngày càng nhiều Lực lượng Phòng vệ tiến hành phối hợp vì trong Chỉ nam mới chuẩn bị đề xuất phương châm Lực lượng Phòng vệ và Quân đội Mỹ hợp tác triển khai thu thập thông tin và tuần tra cảnh giới trong thời bình.
Trong một động thái khác có liên quan tranh chấp Biển Đông, ngày 9/4, phát biểu với các phóng viên, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Mỹ Jeff Rathke cho biết: “Theo quan điểm của chúng tôi, hoạt động bồi đắp đất đai và hoạt động xây dựng của Trung Quốc đang gây thêm lo ngại trong khu vực. Do đó, chúng tôi đang theo dõi chặt chẽ những diễn biến này và tiếp tục nêu những quan ngại của chúng tôi với Trung Quốc cũng như các nước khác trong khu vực nhằm hối thúc tất cả các bên tránh các hoạt động gây mất ổn định”.
 Theo người phát ngôn Nhà Trắng, Mỹ quan ngại Trung Quốc "có thể quân sự hóa các tiền đồn trên các điểm có tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông”. Những hình ảnh thu được từ vệ tinh mới được công bố cho thấy Trung Quốc đang mở rộng một bãi đá ngầm tại vùng biển tranh chấp, nhiều khả năng là nhằm củng cố các tuyên bố về chủ quyền của nước này.
Đọc thêm...

美国开始亚太再平衡战略新阶段

15:54 |
美国国防部长Ash Carter 4月6日在美国亚利桑那大学发表演讲,表示美国将开始亚太再平衡战略新阶段,其中部署“高精尖”武器,加强同盟并发展伙伴关系,以及推动《跨太平洋战略经济伙伴协定》(TPP)是接下来的三大政策支柱。
  他在当天的演讲中称,到2050年,全球一半以上的人口将居住亚太地区,亚太地区就是美国的未来,奥巴马政府即将开启亚太再平衡战略的新阶段。“我认为奥巴马政府将开启亚太再平衡战略的新阶段,这将深化并且多样化美国在该地区的参与度。”
美国国防部长肯定称“亚洲快速发展的奇迹一部分得益于美国在该地区的长久存在和各种关系”。
 Carter表示,美国与日本正讨论新版《日美防卫合作指针》,将把美日安全合作水平提升到新高度;同时,美国将推动美日韩情报共享协议签署。此外,美国还将与越南等东南亚国家、印度和中国发展新的伙伴关系。
Carter也提及“跨太平洋战略经济伙伴关系》并认为就是“又一艘航空母舰”,是“再平衡”战略“最重要的组成部分之一”。尽早完成谈判并签署这一多边自由贸易协议,是“当务之急”,“没时间了”。

美国国防部长此次演讲是美国对推进亚太再平衡战略的肯定,同时也是美国就在亚太地区的存在向其盟友做出的承诺。
Đọc thêm...

Mỹ bắt đầu giai đoạn mới trong chiến lược "tái cân bằng" tại châu Á-Thái Bình Dương

15:54 |
Trong bài phát biểu quan trọng tại Đại học Arizona ngày 6/4, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Ash Carter cho biết Chính quyền Obama đang mở một giai đoạn mới trong chiến lược "xoay trục" sang châu Á-Thái Bình Dương bằng việc đầu tư vào các vũ khí công nghệ cao như máy bay ném bom tàng hình tầm xa và tên lửa hành trình chống hạm mới, và mở rộng các quan hệ đối tác thương mại.
Ông Ash Carter nhấn mạnh tầm quan trọng của châu Á-Thái Bình Dương đối với Mỹ khi cho rằng khu vực này sẽ định hình cho tương lai của Mỹ, bất chấp các thách thức đang gia tăng tại Trung Đông và châu Âu, đồng thời nhấn mạnh các sự kiện của thế giới trong năm qua không làm ông sao nhãng về chính sách “tái cân bằng” tại châu Á.
Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ khẳng định “phép màu của sự phát triển nhanh chóng" trên khắp châu Á có được một phần là do sự hiện diện lâu dài và các mối quan hệ của Mỹ tại khu vực này.
Ông Carter cho biết Mỹ và Nhật Bản đang phác thảo các đường hướng mới để đưa sự hợp tác giữa hai nước "lên một cấp độ hoàn toàn mới", đồng thời ông cũng nhắc tới một thỏa thuận chia sẻ thông tin 3 bên giữa Nhật Bản - Hàn Quốc - Mỹ và các đồng minh truyền thống cũng như các quốc gia khác như Việt Nam.
Bài phát biểu của Bộ trưởng Quốc phòng Carter cũng nhấn mạnh tới Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) và cho rằng TPP là một phần quan trọng trong nỗ lực của Mỹ nhằm chuyển hướng sự chú ý sang khu vực châu Á-Thái Bình Dương sau một thập niên tập trung vào các cuộc chiến tại Iraq và Afghanistan.
Ông Carter khẳng định TPP cũng quan trọng như một tàu sân bay mới và là một ưu tiên cấp thiết của chính quyền Obama. Chính vì vậy, ông kêu gọi Quốc hội Mỹ trao quyền cho Tổng thống Barack Obama để hoàn tất đàm phán về TPP.

Bài phát biểu của Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ dường như một lần nữa muốn khẳng định với các đồng minh và đối tác của Mỹ tại khu vực châu Á – Thái Bình Dương về cam kết của Mỹ đối với chính sách “tái cân bằng” tại khu vực này, đồng thời cũng thể hiện quyết tâm của Mỹ về việc đẩy mạnh chính sách này thời gian tới.
Đọc thêm...

越中联合公报(全文)

16:42 |
一、应中国共产党中央委员会总书记、中华人民共和国主席习近平的邀请,越南共产党中央委员会总书记阮富仲于201547日至10日对中华人民共和国进行正式访问。

访问期间,中共中央总书记、国家主席习近平与阮富仲总书记举行会谈。中共中央政治局常委、国务院总理李克强,中共中央政治局常委、全国人大常委会委员长张德江,中共中央政治局常委、全国政协主席俞正声分别会见阮富仲总书记。在友好、坦诚的气氛中,双方相互通报了各自党和国家的情况,就新形势下进一步加强两党两国关系及共同关心的国际和地区问题深入交换了意见,达成广泛共识。除北京外,阮富仲总书记还前往云南省参观访问。

双方一致认为,访问取得了圆满成功,为推动中越关系稳定健康发展,维护两国人民根本利益作出了重要贡献,也对促进本地区和世界的和平、稳定、合作与发展产生了积极影响。

二、双方对各自国家的社会主义建设事业取得的历史性重大成就感到高兴,强调坚持共产党的领导和具有本国特色的社会主义发展道路,是符合两国人民根本利益的正确选择。双方将继续努力,相互借鉴,推动中国改革开放和越南革新事业向前发展,不断为社会主义建设事业注入新活力。

越方高度评价中共十八大以来中国各项事业取得的重大进展,衷心祝愿并相信中国人民在中国共产党坚强领导下,一定能协调推进全面建成小康社会、全面深化改革、全面依法治国、全面从严治党,胜利实现建成富强民主文明和谐的社会主义现代化国家目标。

中方高度评价越共十一大以来越南人民在越南共产党领导下全面推进革新事业取得的巨大成就,衷心祝愿并相信越南人民一定能实现越共十一大提出的各项目标任务,圆满完成现代化、工业化事业,胜利实现把越南建成民富、国强、民主、公平、文明的社会主义国家目标。

三、值此中越建交65周年之际,双方回顾了两国人民在争取民族解放时期和推进社会主义革命与建设事业进程中并肩携手、相互支持、相互帮助的优良传统。中越作为重要邻邦,一致认为两国政治制度相同、发展道路相近、前途命运相关,两国发展互为重要机遇。

双方总结了中越关系发展的重要经验和启示:中越传统友谊由毛泽东主席和胡志明主席等双方老一辈领导人亲手缔造,是两党两国和两国人民的宝贵财富,应珍惜、维护并发扬光大;中越两国拥有广泛共同利益,这是两国关系的大局所在,双方应始终坚持相互尊重、坦诚协商、求同存异、管控分歧;中越政治互信是双边关系健康稳定发展的基础,双方应加强高层交往与沟通,从战略高度引领双边关系向前发展;中越互利合作给两国人民带来实实在在的利益,有助于促进地区的和平、发展与繁荣,应予全面深化和加强。

四、双方重申,中越将继续坚持并努力落实好“长期稳定、面向未来、睦邻友好、全面合作”方针和“好邻居、好朋友、好同志、好伙伴”精神,始终牢牢把握中越关系发展方向,推动中越全面战略合作伙伴关系不断向前发展。

双方一致同意,重点在以下领域深化合作:

——通过灵活方式,继续保持两党两国高层密切接触的优良传统,就国际地区形势和双边关系重大问题及时交换意见,不断深化战略沟通,巩固政治互信,加强对中越关系发展的引领和指导。

——继续发挥好中越双边合作指导委员会等两党两国间交流合作机制的作用,统筹推进合作,协调解决问题,服务于两国人民利益。实施好《落实中越全面战略合作伙伴关系行动计划》,推动两国各领域务实合作取得新进展。

——落实好两党合作计划,继续办好理论研讨会,推进两党对口部门交流合作,就党的建设、经济社会发展、国家治理等加强经验交流,深化党政干部培训合作。积极推动中国全国人大和越南国会、中国全国政协和越南祖国阵线之间的友好交流合作。

——落实好《中越20122016年经贸合作五年发展规划》,推进落实重点合作项目清单和双方业已签署的各项经贸合作协议。促进双边贸易稳定、平衡、可持续增长,中方鼓励中国企业扩大进口越南有竞争力的商品,双方积极研究商签《中越边境贸易协定》(修订版)。尽快协商并确定跨境经济合作区建设共同总体方案,切实推进基础设施互联互通项目。推进农业、制造业、服务业等产业和科技、医疗、检验检疫等领域合作。中方支持中国企业赴越投资兴业,也愿为越南企业来华开拓市场创造更便利条件。越方将为中国企业在越投资经营提供必要的便利条件。

双方宣布正式成立基础设施合作工作组和金融与货币合作工作组。同意加强上述两个工作组同海上共同开发磋商工作组协调配合,共同推进各领域合作全面发展。

——加强在外交、国防、执法和安全等领域交流合作。继续做好年度外交磋商,拓展两国外交部间交流合作。保持两军高层接触和防务安全磋商,加强两军边防友好交往,妥善管控分歧,深化军队党务和政治工作经验交流,加强人员培训合作,继续举行海军北部湾联合巡逻和军舰互访活动。深化安全和执法领域合作,加强安全对话,有效落实双方业已签署的合作机制和合作协议,加强在反恐、禁毒、打击电信诈骗、出入境管理、边境管控、网络安全等领域合作,保护对方国家驻在本国的机构、企业和人员安全。

——扩大双方新闻、文化、教育、旅游等各领域及两国地方间的友好交流与合作,继续办好中越青年友好会见、人民论坛等民间交流活动,积极推进互设文化中心工作,加强两国媒体交流和记者互访,深化双方研究机构和专家学者间友好交流,切实加强中越友好宣传,不断增进两国民众之间的相互了解和友谊。

——继续发挥好中越陆地边界联委会作用,落实好两国陆地边界有关法律文件,尽早签署《合作保护和开发德天瀑布协定》和《北仑河口自由区航行协定》,共同维护边境地区稳定和发展。发挥好中越陆地边境口岸管理合作委员会作用,加强双方边境口岸基础设施建设和管理,提升两国边境口岸开放合作水平。加强双方边境省(区)合作,促进两国边境地区共同发展。

五、双方就海上问题坦诚交换意见,强调恪守两党两国领导人达成的重要共识,认真落实《关于指导解决中越海上问题基本原则协议》,用好中越政府边界谈判机制,坚持通过友好协商和谈判,寻求双方均能接受的基本和长久解决办法,积极探讨不影响各自立场主张的过渡性解决办法,包括积极研究和商谈共同开发问题。共同管控好海上分歧,全面有效落实《东海各方行为宣言》(DOC),并在协商一致的基础上早日达成“东海行为准则”(COC),不采取使争议复杂化、扩大化的行动,及时、妥善处理出现的问题,维护中越关系大局以及东海和平稳定。

双方一致同意,推进海上共同开发磋商工作组工作,加强低敏感领域合作,稳步推进北部湾湾口外海域划界谈判,积极推进该海域共同开发,年内尽早启动北部湾湾口外海域共同考察。

六、越方重申坚定奉行一个中国政策,支持两岸关系和平发展与中国统一大业,坚决反对任何形式的“台独”分裂活动。越南不同台湾发展任何官方关系。中方对越方上述立场表示赞赏。

七、双方同意继续加强在联合国、亚太经合组织、中国-东盟等多边框架内的协调与配合,共同维护和促进世界的和平、繁荣与发展。中方支持越方成功主办2017年亚太经合组织领导人非正式会议,越方祝贺中方成功主办2014年亚太经合组织领导人非正式会议。双方同意加强地区互联互通建设合作,促进地区共同发展。

八、访问期间,双方签署了《中国共产党和越南共产党合作计划(20162020年)》、《中华人民共和国和越南社会主义共和国引渡条约》、《中华人民共和国政府和越南社会主义共和国政府关于中越联合勘探北部湾海上油气资源税收问题的协议》、《中华人民共和国国防部与越南社会主义共和国国防部联合国维和领域合作备忘录》、《中华人民共和国国家发展和改革委员会和越南社会主义共和国计划投资部关于成立基础设施合作工作组的谅解备忘录》、《中国人民银行与越南国家银行金融与货币合作工作组工作大纲》、《中国中央电视台与越南电视台合作拍摄电视专题片谅解备忘录》等合作文件。

九、越共中央总书记阮富仲对中共中央总书记、国家主席习近平以及中国共产党、政府和人民所给予的隆重、热情和友好的接待表示衷心感谢,邀请中共中央总书记、国家主席习近平尽早对越南进行正式访问。中共中央总书记、国家主席习近平对此表示感谢并愉快地接受了邀请。


  201548日于北京
Đọc thêm...

Thông cáo chung Việt-Trung nhân chuyến thăm của Tổng Bí thư

16:41 |
1. Nhận lời mời của Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Chủ tịch nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa Tập Cận Bình, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng tiến hành thăm chính thức nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa từ ngày 7 đến ngày 10/4/2015.

Trong thời gian chuyến thăm, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã hội đàm với Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tập Cận Bình; hội kiến với Ủy viên thường vụ Bộ Chính trị Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Thủ tướng Quốc vụ viện Lý Khắc Cường; Ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Ủy viên trưởng Ủy ban Thường vụ Đại hội Đại biểu nhân dân toàn quốc Trương Đức Giang; Ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Chủ tịch Ủy ban toàn quốc Hội nghị Chính trị Hiệp thương Nhân dân Trung Quốc Du Chính Thanh.

Trong không khí hữu nghị, chân thành, hai bên đã thông báo cho nhau về tình hình mỗi Đảng, mỗi nước; đi sâu trao đổi ý kiến và đạt nhận thức chung rộng rãi về việc tăng cường quan hệ hai Đảng, hai nước trong tình hình mới và về các vấn đề quốc tế và khu vực cùng quan tâm. Ngoài Bắc Kinh, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng thăm tỉnh Vân Nam.

Hai bên nhất trí cho rằng chuyến thăm đã thành công tốt đẹp, góp phần quan trọng thúc đẩy quan hệ Việt-Trung phát triển ổn định, lành mạnh vì lợi ích căn bản của nhân dân hai nước, đồng thời góp phần thúc đẩy hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển của khu vực và thế giới.

2. Hai bên bày tỏ vui mừng trước những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của mỗi nước trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, nhấn mạnh kiên trì sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản và con đường phát triển xã hội chủ nghĩa đặc trưng của mỗi nước là sự lựa chọn đúng đắn, phù hợp với lợi ích căn bản của nhân dân hai nước. Hai bên sẽ tiếp tục nỗ lực, học hỏi lẫn nhau, thúc đẩy sự nghiệp đổi mới của Việt Nam và sự nghiệp cải cách, mở cửa của Trung Quốc phát triển về phía trước, không ngừng tạo sức sống mới cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Phía Trung Quốc đánh giá cao những thành tựu to lớn mà nhân dân Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đã giành được trong việc thúc đẩy toàn diện sự nghiệp đổi mới từ Đại hội XI Đảng Cộng sản Việt Nam đến nay, chân thành chúc và tin tưởng rằng nhân dân Việt Nam sẽ thực hiện được những nhiệm vụ mục tiêu mà Đại hội XI Đảng Cộng sản Việt Nam đề ra, hoàn thành sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, thực hiện thắng lợi mục tiêu xây dựng Việt Nam trở thành nước xã hội chủ nghĩa, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Phía Việt Nam đánh giá cao những tiến triển to lớn trong các lĩnh vực mà Trung Quốc đạt được từ Đại hội Đảng Cộng sản Trung Quốc lần thứ XVIII đến nay, chân thành chúc và tin tưởng rằng dưới sự lãnh đạo kiên định của Đảng Cộng sản Trung Quốc, nhân dân Trung Quốc nhất định sẽ thúc đẩy hài hòa xây dựng toàn diện xã hội khá giả, đi sâu cải cách toàn diện, quản lý đất nước theo pháp luật toàn diện, quản lý Đảng nghiêm minh toàn diện, thực hiện thắng lợi mục tiêu xây dựng thành công nhà nước hiện đại xã hội chủ nghĩa giàu mạnh, dân chủ, văn minh, hài hòa.

3. Nhân dịp 65 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam-Trung Quốc, hai bên nhìn lại truyền thống tốt đẹp kề vai sát cánh, ủng hộ lẫn nhau, giúp đỡ lẫn nhau của nhân dân hai nước trong thời kỳ đấu tranh giải phóng dân tộc và trong tiến trình thúc đẩy sự nghiệp cách mạng và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Việt Nam và Trung Quốc là láng giềng quan trọng của nhau, nhất trí cho rằng hai nước có chế độ chính trị tương đồng, có con đường phát triển gần gũi, có tiền đồ vận mệnh tương quan, sự phát triển của nước này là cơ hội quan trọng cho nước kia.

Hai bên đã tổng kết những kinh nghiệm và gợi mở quan trọng về sự phát triển của quan hệ Việt-Trung: tình hữu nghị truyền thống Việt-Trung do Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chủ tịch Mao Trạch Đông cùng các nhà lãnh đạo tiền bối hai nước đích thân vun đắp là tài sản quý báu của hai Đảng, hai nước và nhân dân hai nước, cần được quý trọng, gìn giữ và phát huy; hai nước Việt Nam-Trung Quốc có lợi ích chung rộng rãi làm cơ sở cho đại cục quan hệ hai nước, hai bên cần luôn kiên trì tôn trọng lẫn nhau, hiệp thương chân thành, cầu đồng tồn dị, kiểm soát bất đồng; tin cậy chính trị Việt-Trung là cơ sở cho quan hệ song phương phát triển lành mạnh, ổn định, hai bên cần tăng cường thăm viếng và trao đổi cấp cao, từ tầm cao chiến lược, đưa quan hệ song phương phát triển về phía trước; hợp tác cùng có lợi giữa Việt Nam và Trung Quốc mang lại lợi ích thiết thực cho nhân dân hai nước, góp phần thúc đẩy hòa bình, phát triển và phồn vinh của khu vực, cần tăng cường và làm sâu sắc toàn diện.

4. Hai bên nhấn mạnh, Việt Nam và Trung Quốc sẽ tiếp tục kiên trì nỗ lực thực hiện tốt phương châm “láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai” và tinh thần “láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt,” luôn nắm vững phương hướng phát triển của quan hệ Việt-Trung, thúc đẩy quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt-Trung không ngừng phát triển lên phía trước.

Hai bên nhất trí chú trọng đi sâu hợp tác trong các lĩnh vực sau đây:

- Tiếp tục duy trì truyền thống tốt đẹp tiếp xúc mật thiết cấp cao giữa hai Đảng, hai nước bằng các hình thức linh hoạt, kịp thời trao đổi ý kiến về tình hình quốc tế, khu vực và những vấn đề quan trọng trong quan hệ song phương, không ngừng đi sâu trao đổi chiến lược, củng cố tin cậy chính trị, tăng cường sự lãnh đạo và chỉ đạo đối với sự phát triển của quan hệ Việt-Trung.

- Tiếp tục phát huy tốt vai trò của các cơ chế giao lưu, hợp tác giữa hai Đảng, hai nước như Ủy ban chỉ đạo hợp tác song phương Việt-Trung; thúc đẩy tổng thể hợp tác, điều phối giải quyết các vấn đề, phục vụ cho lợi ích của nhân dân hai nước. Thực hiện tốt “Chương trình hành động triển khai quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt Nam-Trung Quốc,” thúc đẩy hợp tác thực chất trên các lĩnh vực giữa hai nước đạt tiến triển mới.

- Thực hiện tốt Kế hoạch hợp tác giữa hai Đảng, tiếp tục tổ chức tốt các hội thảo lý luận, thúc đẩy giao lưu hợp tác giữa các cơ quan tương ứng của hai Đảng, tăng cường trao đổi kinh nghiệm về xây dựng Đảng, phát triển kinh tế-xã hội, quản lý đất nước..., đi sâu hợp tác về bồi dưỡng, đào tạo cán bộ Đảng và chính quyền. Tích cực thúc đẩy giao lưu hợp tác hữu nghị giữa Quốc hội Việt Nam với Đại hội Đại biểu nhân dân toàn quốc Trung Quốc, giữa Mặt trận Tổ quốc Việt Nam với Hội nghị Chính trị Hiệp thương Nhân dân Trung Quốc.

- Thực hiện tốt “Quy hoạch phát triển 5 năm hợp tác kinh tế-thương mại Việt-Trung giai đoạn 2012-2016,” thúc đẩy thực hiện Danh mục các dự án hợp tác trọng điểm và các thỏa thuận hợp tác kinh tế thương mại mà hai bên đã ký kết. Thúc đẩy thương mại song phương tăng trưởng ổn định, cân bằng, bền vững; phía Trung Quốc khuyến khích doanh nghiệp Trung Quốc mở rộng nhập khẩu các mặt hàng có sức cạnh tranh của Việt Nam; hai bên tích cực nghiên cứu việc đàm phán, ký kết Hiệp định sửa đổi về thương mại biên giới Việt-Trung.

Sớm bàn bạc và xác định phương án tổng thể chung về xây dựng khu hợp tác kinh tế qua biên giới; thiết thực thúc đẩy các dự án kết nối cơ sở hạ tầng. Thúc đẩy hợp tác trong các ngành nghề nông nghiệp, chế tạo, dịch vụ và các lĩnh vực khoa học công nghệ, y tế, kiểm nghiệm, kiểm dịch,...

Phía Trung Quốc ủng hộ doanh nghiệp Trung Quốc sang Việt Nam đầu tư phát triển và sẵn sàng tạo điều kiện hơn nữa cho các doanh nghiệp Việt Nam đến Trung Quốc khai thác mở rộng thị trường. Phía Việt Nam sẽ tạo điều kiện thuận lợi cần thiết cho các doanh nghiệp Trung Quốc sang đầu tư kinh doanh tại Việt Nam.

Hai bên tuyên bố chính thức thành lập Nhóm công tác hợp tác về cơ sở hạ tầng và Nhóm Công tác về hợp tác tiền tệ, đồng ý tăng cường điều hành, phối hợp giữa các nhóm này và Nhóm Công tác bàn bạc về hợp tác cùng phát triển trên biển, cùng nhau thúc đẩy hợp tác trên các lĩnh vực phát triển toàn diện.

- Tăng cường giao lưu, hợp tác trong các lĩnh vực ngoại giao, quốc phòng, thực thi pháp luật và an ninh. Tiếp tục tổ chức tốt tham vấn ngoại giao thường niên, mở rộng giao lưu hợp tác giữa bộ Ngoại giao hai nước. Duy trì tiếp xúc cấp cao giữa quân đội hai nước và đối thoại quốc phòng, an ninh, đẩy mạnh giao lưu hữu nghị giữa hai lực lượng biên phòng, quản lý thỏa đáng bất đồng, đi sâu trao đổi kinh nghiệm về công tác Đảng và công tác chính trị trong quân đội; tăng cường hợp tác bồi dưỡng, đào tạo cán bộ; tiếp tục tổ chức tuần tra chung trong vịnh Bắc Bộ và tàu hải quân hai bên thăm nhau. Đi sâu hợp tác trong lĩnh vực an ninh và thực thi pháp luật, tăng cường đối thoại an ninh, triển khai có hiệu quả các cơ chế hợp tác và thỏa thuận hợp tác đã ký kết; tăng cường hợp tác về chống khủng bố, phòng chống tội phạm ma túy, tội phạm lừa đảo viễn thông, quản lý xuất nhập cảnh, quản lý biên giới, an ninh mạng...; bảo đảm an toàn cho các cơ quan, doanh nghiệp và công dân nước này tại nước kia.

- Mở rộng giao lưu và hợp tác hữu nghị giữa hai bên trong các lĩnh vực báo chí, văn hóa, giáo dục, du lịch và giữa các địa phương hai nước; tiếp tục tổ chức tốt các hoạt động giao lưu nhân dân như Gặp gỡ hữu nghị thanh niên Việt-Trung, diễn đàn nhân dân Việt-Trung; tích cực thúc đẩy công tác thành lập trung tâm văn hóa nước này tại nước kia, tăng cường giao lưu báo chí và thăm viếng lẫn nhau giữa phóng viên hai nước; đi sâu giao lưu hữu nghị giữa các cơ quan nghiên cứu và học giả; thiết thực đẩy mạnh tuyên truyền về tình hữu nghị Việt-Trung, không ngừng tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau và tình hữu nghị giữa nhân dân hai nước.

- Tiếp tục phát huy tốt vai trò của Ủy ban liên hợp biên giới trên đất liền Việt-Trung, thực hiện tốt các văn kiện về biên giới trên đất liền giữa hai nước; sớm ký "Hiệp định hợp tác bảo vệ và khai thác nguồn tài nguyên du lịch khu vực Thác Bản Giốc" và "Hiệp định về quy chế tàu thuyền tự do đi lại tại khu vực cửa sông Bắc Luân;" cùng duy trì bảo vệ sự ổn định và phát triển của khu vực biên giới. Phát huy tốt vai trò của Ủy ban hợp tác quản lý cửa khẩu biên giới đất liền Việt-Trung; tăng cường xây dựng và quản lý cơ sở hạ tầng cửa khẩu biên giới hai bên, nâng cao mức độ mở cửa hợp tác của các cửa khẩu biên giới hai nước. Tăng cường hợp tác giữa các tỉnh/khu biên giới hai bên, thúc đẩy cùng phát triển khu vực biên giới hai nước.

5. Hai bên trao đổi ý kiến chân thành, thẳng thắn về vấn đề trên biển, nhấn mạnh tuân thủ nhận thức chung quan trọng đạt được giữa lãnh đạo cấp cao hai Đảng, hai nước, nghiêm túc thực hiện “Thỏa thuận về những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển Việt Nam-Trung Quốc;” sử dụng tốt cơ chế đàm phán cấp chính phủ về biên giới lãnh thổ Việt-Trung, kiên trì thông qua hiệp thương và đàm phán hữu nghị, tìm kiếm giải pháp cơ bản và lâu dài mà hai bên đều có thể chấp nhận được, tích cực nghiên cứu giải pháp mang tính quá độ không ảnh hưởng đến lập trường và chủ trương của mỗi bên, bao gồm tích cực nghiên cứu và bàn bạc về vấn đề hợp tác cùng phát triển. Cùng kiểm soát tốt bất đồng trên biển, thực hiện đầy đủ có hiệu quả Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) và sớm đạt được Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC) trên cơ sở hiệp thương thống nhất, không có hành động làm phức tạp, mở rộng tranh chấp; xử lý kịp thời, thỏa đáng vấn đề nảy sinh, duy trì đại cục quan hệ Việt-Trung và hòa bình, ổn định ở Biển Đông.

Hai bên nhất trí thúc đẩy hoạt động của Nhóm bàn bạc về hợp tác cùng phát triển trên biển, tăng cường hợp tác trong các lĩnh vực ít nhạy cảm, vững bước thúc đẩy đàm phán phân định khu vực ngoài cửa vịnh Bắc Bộ, tích cực thúc đẩy hợp tác cùng phát triển tại vùng biển này, sớm khởi động khảo sát chung tại vùng biển ngoài cửa vịnh Bắc Bộ trong năm nay.

6. Phía Việt Nam khẳng định kiên trì chính sách một nước Trung Quốc, ủng hộ quan hệ hai bờ eo biển Đài Loan phát triển hòa bình và sự nghiệp lớn thống nhất Trung Quốc, kiên quyết phản đối hành động chia rẽ Đài Loan độc lập dưới mọi hình thức. Việt Nam không phát triển bất cứ quan hệ chính thức nào với Đài Loan. Phía Trung Quốc bày tỏ hoan nghênh lập trường trên của Việt Nam.

7. Hai bên đồng ý tiếp tục tăng cường phối hợp trong khuôn khổ đa phương như Liên hợp quốc, Diễn đàn Kinh tế châu Á-Thái Bình Dương (APEC), Hiệp hội Các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN)-Trung Quốc; cùng duy trì, bảo vệ và thúc đẩy hòa bình, phồn vinh và phát triển của thế giới. Phía Trung Quốc ủng hộ Việt Nam tổ chức thành công Hội nghị Cấp cao APEC 2017, Việt Nam chúc mừng Trung Quốc tổ chức thành công Hội nghị Cấp cao APEC 2014. Hai bên đồng ý tăng cường hợp tác xây dựng kết nối khu vực, thúc đẩy cùng phát triển trong khu vực.

8. Trong thời gian chuyến thăm, hai bên đã ký kết “Kế hoạch hợp tác giữa Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Cộng sản Trung Quốc giai đoạn 2016-2020'” “Hiệp định về hợp tác dẫn độ giữa Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam và Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa;”“Thỏa thuận về các vấn đề về thuế đối với Dự án thăm dò chung tài nguyên dầu khí tại vịnh Bắc Bộ giữa Việt Nam và Trung Quốc” giữa Bộ Tài chính nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam và Bộ Tài chính nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa; “Bản ghi nhớ giữa Bộ Quốc phòng nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam và Bộ Quốc phòng nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa về hợp tác trong lĩnh vực gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc;” “Bản ghi nhớ về việc thành lập Nhóm công tác hợp tác về cơ sở hạ tầng trên bộ” (MOU) giữa Bộ Kế hoạch và Đầu tư Việt Nam và Ủy ban Cải cách và Phát triển Quốc gia Trung Quốc; “Điều khoản Tham chiếu Nhóm công tác hợp tác tài chính tiền tệ giữa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc;” và “Bản ghi nhớ về hợp tác làm phim truyền hình chuyên đề giữa Đài Truyền hình Việt Nam và Đài Truyền hình Trung ương Trung Quốc.”

9. Tổng Bí thư Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng chân thành cảm ơn Tổng Bí thư Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Chủ tịch nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa Tập Cận Bình và Đảng, Chính phủ và nhân dân Trung Quốc về sự đón tiếp trọng thị, chân tình và hữu nghị, trân trọng mời Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tập Cận Bình sớm sang thăm chính thức Việt Nam; Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tập Cận Bình chân thành cảm ơn và vui vẻ nhận lời./.


Bắc Kinh, ngày 8 tháng 4 năm 2015
Đọc thêm...

美国将往太平洋地区转移隐形驱逐舰

16:50 |
美国华尔街日报报道,在331日在澳大利亚举行的海军会议上,美国太平洋舰队副司令员、海军少将Christopher J. Paul向澳大利亚这个盟友做出安抚,他说美国通过移动更多军舰前往太平洋地区,决心维持在该地区的强大存在,其中包括功能强大的“朱姆沃尔特级”驱逐舰。
Christopher J. Pau少将说,“区域动态在不断变化,世界变得更不安全了”。“总有那些人希望减少自由航行,并试图限制通过国际水域,在什么都没有的地方造陆,邻国都知道一个庞大的军事和经济力量正在扩大”。华尔街日报评论称,Christopher J. Pau少将的言论感觉好像在抨击中国。
他强调说,美国一直将澳大利亚视为其亚太地区主要的盟友,同时敦促澳大利亚海军考虑在美国主导的“猎潜艇”巡逻组部署新战舰。Christopher J. Pau少将在会议上说, “转向进攻是必要的,为在有需要的地方投射力量创造更多的有利条件。”他还表示,新一代澳大利亚战舰,其中包括导弹驱逐舰和能够携带1000名部队和直升机的大型两栖战舰,可能会更融入美国海军最近公布的海军学说“分布式杀伤力”。

造价达34.5亿美元的Zumwalt驱逐舰是美国海军目前最先进的战舰。该舰场180米,最快速度达每小时56公里,配备最先进的雷达系统,另外还佩带直升机。
Đọc thêm...

Hot (焦点)