越柬关系:夯基筑牢促发展
01:40 |
(VOVWORLD) - 柬埔寨首相洪森(Samdech Hun Sen)10月4日率领柬埔寨政府高级代表团对越南进行正式访问。洪森这次从10月4日至5日的访越行程是应越南政府总理阮春福邀请进行的。期间,越柬双方将举行多项重要活动,推动双边关系迈出新发展步伐。
正式建交50多年来,越南与柬埔寨特殊关系不断得到培育与发展。目前,两国正根据“睦邻友好、传统友谊,全面合作,长期稳定”方针大力推动双边关系发展。
越南与柬埔寨都奉行独立、自主、全方位、多样化国际关系的外交政策。两国同时也十分重视在互相尊重对方独立、主权和领土完整,互不干涉内政,平等、互惠合作,通过和平方式解决两国关系突发问题等原则基础上巩固和加强邻邦关系。
多年来,双方保持并良好发挥各项合作机制的作用,加强各级代表团互访及高层领导人接触,签署多项合作文件,为两国全面合作发展奠定基础。
值得注意的是,去年9月,柬埔寨第六届国会选举成功举行,及新政府成立以来,越柬双边关系取得了更多积极进展。两国高层互访特别是越共中央总书记、国家主席阮富仲今年2月对柬埔寨进行的国事访问,柬埔寨首相洪森去年12月对越南进行的正式访问,柬埔寨国会主席韩桑林今年5月对越南的访问,以及越南政府总理和柬埔寨首相经常在多边论坛上进行接触为两国关系注入了助推力。
此外,2019年初,越柬两国在越南联合举行了越柬边境地区各省第10次合作与发展会议,同时在两国多地举行了越南西南边境保卫战胜利暨同柬埔寨军民共同推翻种族灭绝制度40周年系列纪念活动。这些活动充分展现了越柬两个民族的友好团结情义。
在良好政治关系基础上,越柬各领域双边合作近些年来不断得到推动。其中,投资和贸易是给人留下印象最深刻的两个合作领域。1997至1999年阶段,两国双边贸易额每年只有1.3到1.5亿美元,而到2018年则已经达到47亿美元。而且,两国双边贸易额很大可能将于今年突破50亿美元大关,提前一年完成既定目标,并且今后将继续猛增。
投资方面,截止2018年底,越南对柬埔寨投资项目有200多个,注册资金30多亿美元,投资项目主要分布在农业、林业领域。这使越南成为柬埔寨十大外国直接投资来源国之一。越南企业在柬投资、经营活动受到柬埔寨首相洪森及其他高层领导人高度评价,同时也为柬埔寨社会民生与繁荣发展做出积极贡献。本次访越期间,越南政府总理阮春福与柬埔寨首相洪森将共同主持越柬投资与贸易促进会,这被期待将给两个企业带来诸多新的合作机会。
关于边界问题,两国职能部门互相配合良好管理边境地区。目前,两国陆地边界勘界立碑工作量已经完成84%,双方也决心尽快完成全部工作。按计划,阮春福与洪森将于10月5日共同主持2006至2019年越柬陆地边界勘界立碑工作总结会议。两位领导人也将出席确认勘界立碑工作目前结果的法律文件签字仪式,这标志着两国首次形成记录两国边界线的法律文件,为两国未来投资发展基础设施、经济社会,维护国防安全奠定重要基础。
越柬关系是特殊邻邦关系。两国高层领导人共同决心培育两国关系,使之不断发展将营造有利环境,让两国人民享有和平、稳定生活,力争成功实现各自国家经济社会发展目标。
Quan hệ Việt Nam – Campuchia: Củng cố để phát triển
01:29 |
(VOV5) - Quan hệ đặc
biệt giữa Việt Nam và Campuchia không ngừng được vun đắp, phát triển kể từ khi
chính thức được thiết lập cách đây hơn 50 năm.
Ngày 4/10, Thủ tướng Vương quốc Campuchia Samdech Techo Hun
Sen dẫn đầu Đoàn đại biểu cấp cao Chính phủ Vương quốc Campuchia thăm chính thức
Việt Nam. Chuyến thăm diễn ra từ ngày 4 đến 5-10 theo lời mời của Thủ tướng
Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc. Chuyến thăm có những hoạt động quan trọng, được kỳ
vọng sẽ tạo bước phát triển mới trong quan hệ song phương.
Quan hệ đặc biệt giữa Việt Nam và Campuchia không ngừng được
vun đắp, phát triển kể từ khi chính thức được thiết lập cách đây hơn 50 năm.
Hai nước đang đẩy mạnh quan hệ theo phương châm "láng giềng tốt đẹp, hữu
nghị truyền thống, hợp tác toàn diện, bền vững lâu dài".
Việt Nam và Campuchia đều thực hiện chính sách đối ngoại độc
lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế, song cả hai nước đều hết
sức coi trọng việc củng cố, tăng cường quan hệ láng giềng trên cơ sở các nguyên
tắc: Tôn trọng độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau; không can thiệp
vào công việc nội bộ của nhau; hợp tác bình đẳng cùng có lợi; giải quyết mọi vấn
đề nảy sinh giữa hai nước bằng các biện pháp hòa bình.
Trong những năm qua, hai bên tiếp tục duy trì và phát huy hiệu
quả các cơ chế hợp tác; tăng cường trao đổi các chuyến thăm, các cuộc gặp gỡ,
tiếp xúc giữa lãnh đạo cấp cao và các cấp, ký kết nhiều văn kiện làm cơ sở cho
việc phát triển hợp tác toàn diện giữa hai nước.
Đáng chú ý, quan hệ song phương Việt Nam-Campuchia có nhiều
tiến triển tích cực kể từ sau bầu cử Quốc hội khóa VI của Campuchia và Chính phủ
mới được thành lập (9/2018). Những chuyến thăm cấp cao giữa hai nước nổi bật là
chuyến thăm cấp nhà nước tới Campuchia của Tổng bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn
Phú Trọng hồi tháng 2/2019, chuyến thăm chính thức Việt Nam của Thủ tướng Hun
Sen vào tháng 12/2018, cũng như chuyến thăm của Chủ tịch Quốc hội Heng Samrin tới
Việt Nam (5/2019)… hay việc Thủ tướng hai nước thường xuyên gặp gỡ tại các diễn
đàn đa phương đã tiếp thêm xung lực cho quan hệ hai nước.
Cũng vào đầu năm 2019, Việt Nam và Campuchia tổ chức Hội nghị
Hợp tác và Phát triển các tỉnh biên giới lần thứ 10 tại Việt Nam (1/2019); kỷ
niệm 40 năm Ngày chiến thắng chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam và cùng quân,
dân Campuchia chiến thắng chế độ diệt chủng (1/2019)... Những sự kiện này thể
hiện sâu đậm mối quan hệ đoàn kết chiến đấu tốt đẹp giữa hai dân tộc Việt Nam,
Campuchia.
Thúc đẩy hợp tác thực chất
Trên nền tảng quan hệ chính trị tốt đẹp, các lĩnh vực hợp tác
song phương Việt Nam – Campuchia những năm gần đây tiếp tục được đẩy mạnh. Đầu
tư và thương mại có những dấu ấn quan trọng. Nếu trong những năm từ 1997-1999,
kim ngạch thương mại hai chiều chỉ đạt khoảng 130-150 triệu USD/năm, thì năm
2018 đạt 4,7 tỷ USD. Và nhiều khả năng mục tiêu 5 tỷ USD mà 2 bên phấn đấu sẽ đạt
được ngay trong năm 2019, trước 1 năm so với dự kiến, thậm chí sẽ còn tiếp tục
tăng cao trong thời gian tới.
Về đầu tư, tính đến cuối năm 2018, Việt Nam có trên 200 dự án
đầu tư sang Campuchia, với tổng vốn đầu tư đăng ký đạt trên 3 tỷ USD, tập trung
chủ yếu trong lĩnh vực nông, lâm nghiệp, đưa Việt Nam nằm trong top 10 nước có
vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài nhiều nhất tại Campuchia. Các hoạt động đầu tư,
kinh doanh của doanh nghiệp Việt Nam tại Campuchia được Thủ tướng Hun Sen và
các nhà lãnh đạo Campuchia đánh giá cao, đóng góp tích cực vào an sinh xã hội
và sự phát triển thịnh vượng của quốc gia này. Trong chuyến thăm Việt Nam lần
này, việc Thủ tướng 2 nước đồng chủ trì Hội nghị xúc tiến Đầu tư và thương mại
Việt Nam - Campuchia sẽ mở ra nhiều cơ hội hợp tác mới cho doanh nghiệp 2 nước.
Về vấn đề biên giới, lực lượng chức năng hai nước đã phối hợp
quản lý chặt chẽ tốt đường biên giới. Đến nay đã hoàn thành 84% công tác phân
giới, cắm mốc biên giới trên bộ và cùng quyết tâm hoàn thành công tác này trong
thời gian sớm nhất. Và ngày 5/10, trong khuôn khổ chuyến thăm chính thức Việt
Nam, Thủ tướng Hunsen cùng Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc sẽ đồng chủ trì Hội nghị
tổng kết phân giới cắm mốc biên giới trên đất liền Việt Nam - Campuchia giai đoạn
2006 - 2019. Hai Thủ tướng cũng chứng kiến Lễ ký 2 văn kiện pháp lý ghi nhận
thành quả phân giới cắm mốc đạt được đến nay. Đây là sự kiện rất có ý nghĩa,
đánh dấu lần đầu tiên có văn kiện pháp lý để ghi nhận biên giới 2 nước, tạo nền
tảng quan trọng để 2 nước đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, kinh tế - xã hội
cũng như bảo đảm an ninh quốc phòng trong thời gian tới.
Quan hệ Việt Nam - Campuchia là mối quan hệ láng giềng đặc biệt.
Việc lãnh đạo cấp cao 2 nước cùng xác định quyết tâm vun đắp cho mối quan hệ
ngày càng phát triển sẽ tạo môi trường thuận lợi để nhân dân 2 nước có cuộc sống
hòa bình, ổn định, thực hiện thành công các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội
của mỗi nước.
回顾越南对黄沙、长沙群岛占有,行使主权历史(第四期)
06:52 |
BDN - 1975年4月,越南进入历史转折点:南越共和政权崩溃,越南民主共和国实现解放和统一国家事业。统一国家后,越南继续对黄沙和长沙群岛行使主权。
1975年4月13至28日,越南人民军接管由南越共和军队驻守的岛屿,同时部署力量驻守长沙群岛的一些岛礁。
1975年6月5日,越南南方共和革命政府外交部发言人重申越南对黄沙和长沙群岛的主权。1976年7月2日,越南第六届国会一次会议决把国号定改为《越南社会主义共和国》。越南社会主义共和国拥 有继续管辖和捍卫黄沙和长沙群岛主权的义务和权利。
1977年5月12日,越南社会主义共和国政府发表“越南海域和大陆架声明”,其中重申越南对黄沙和长沙群岛的主权。
1979年9月28日,越南社会主义共和国外交部公布“越南对黄沙和长沙群岛主权白皮书”,其中介绍19份越南对黄沙和长沙群岛主权的资料。
1981年12月,越南外交部公布“黄沙和长沙群岛:越南领土白皮书”。
1982年11月12日,越南社会主义共和国政府发表“测算越南陆地海岸领海宽度的基线系统”。
1982年12月9日,越南社会主义共和国政府签署成立同奈省长沙县的第193-H§B决定。1982年12月11日,签署成立广南岘港省黄沙县的第194-H§BT决定。
1982年12月28日,越南社会主义共和国第七届国会作出将长沙县并入富庆省的决议。
2007年4月11日,越南社会主义共和国政府签署成立三个直属长沙县的行政单位的第65-ND/CP号决定。它们是包括大长沙及附近实体在内的长沙镇,包括西双子(SONG TU)岛及附近实体在内的西双子乡,包括生存(SINH TON)岛及附近实体在内的生存乡。
1988年,中华人民共和国攻占长沙群岛西北边浅滩。越南社会主义共和国政府通报联合国知晓,发公函指控和抗议中华人民共和国攻占十字、珍珠、鸡滨、思义、嘎麻和渚碧等长沙群岛礁滩。
1988年4月,越南社会主义共和国外交部公布“黄沙和长沙群岛及国际法白皮书”。
1989年7月1日,富庆省分成两省:富安和庆和,长沙岛县属庆和省。
1994年6月23日,越南社会主义共和国国会通过决议,批准加入1982年《联合国海洋法公约》。
1997年1月1日,岘港脱离广南岘港省,成为中央直辖市,黄沙岛县属岘港市。
2009年4月25日,岘港市公布任命邓公语(Đặng Công Ngữ)先生为黄沙县人民委员会主席的决定。
至今,除了上述活动外,越南在长沙群岛设有 21个管理单位共33个驻军点。长沙岛县属庆和省。
以上事实证明越南是历史上第一个,至少是从十六世纪就占有黄沙和长沙群岛并对其行使主权的国家。这个占有和行使主权是真正的,明显的,持续和平的,符合现行国际法规则和国际惯例的。这数百年的做主是有目共睹的,而中国历代政府没有任何文献、任何举动说明他们像越南那么做了。在这期间,中国正忙于征服土地,发展“中原”帝制,闭关锁国,他哪有心思关心海洋及海洋里的地物呢。中国也没有声索“主权”的任何文献和证据,除了蒋介石政府1951年的“申诉”外,这个政府后来也没有做什么来证明其“主权”。直到1974年攻占越南的黄沙群岛后中国才召集大批学者疾呼和编撰巨著来证明黄沙和长沙群岛(中方称西沙和南沙群岛)属中国主权。1985年,这本所谓“我国南海诸岛史料汇编”完成了,1988年获东方出版社再版。这本书迅速成为中国关于东海、黄沙和长沙群岛的外交声明和政治决策的法理依据。贯穿该书的思想是竭力证明中国在距今约2000年的东汉就发现这两个群岛并为之命名。后历经唐、宋、元、明、清一直对其行使主权。该书众作者的统一编写方式是避开历史背景、断章取义、拼凑资料,让读者难以辨清历史背景、原作语气,然后对所援引资料按其所需随意注释。只要看看中国学者、中国海洋通信中心的李令和教授的一段话就能明白中国根本就没有历史上占有黄沙和长沙群岛并对其行使主权的证据。李令和教授说:“说到南海(东海)利益,我们喜欢说自古以来就这样就那样,兴起时还加上神圣两字。这就是所谓的历史凭据,不过,这种历史凭据在现实国际法中的意义归于零。真正具有说服力的凭据是实际控制。你说那里是你的,那么,你管辖它了吗?那里的人服从你的管理吗?这些问题的答案若都是肯定的话,那你胜卷在握。在南沙,我们没有这些东西”。
李令和教授讲这番有利于越南的话并不是他亲善越南或拿了越南的钱,只因为他是诚实的学者,只因为他搜遍中国史库也搜不出为中国主权辩护的资料痕迹。作为学者,他研读了越南史料。越南占有黄沙和长沙群岛并对其行使主权的史料很充分很显然,他便不“跟从”那些听命于北京当权者的学者那样在东海问题上“强词夺理”了。北京当权者也心知肚明,若将这本强词夺理的汇编递交联合国常设仲裁法院与越南的历史凭据对证将遭惨败无疑。所以,他们一味拒绝将东海主权问题递交国际法院仲裁。
时值纪念越南独立74周年,回顾越南占有黄沙和长沙群岛并对其行使主权的历程才知道越南历代先辈们所做的是多么的伟大和敏捷。上述历史凭据给予越南后辈们巨大鼓舞,让他们有足够的勇气和自信维护和捍卫先辈们遗留下来的成果。
Nhìn lại lịch sử Việt Nam chiếm hữu, làm chủ hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa (phần 4)
06:41 |
BDN - Tháng 4/1975, đất nước Việt Nam chuyển sang bước ngoặt lịch sử: Chính quyền VNCH sụp đổ, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa hoàn thành sự nghiệp giải phóng, thống nhất đất nước. Saukhigiảiphóngđấtnước, Việt Nam tiếp tục thực thi chủ quyền của mìnhđối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Từ 13 - 28/04/1975, các lực lượng Quân đội Nhân dân Việt Nam đã tiếp quản các đảo có quân đội VNCH đóng giữ, đồng thời triển khai lực lượng đóng giữ một số đảo khác trong quần đảo Trường Sa.
Ngày 05/06/1975, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tuyên bố khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Ngày 02/07/1976, tại kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa 6 (1976-1981), Quốc hội của nước Việt Nam thống nhất (được bầu vào ngày 25/04/1976) đã quyết định đổi tên nước là Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa (CHXHCN) Việt Nam. Nhà nước CHXHCN Việt Nam hoàn toàn có nghĩa vụ, quyền hạn tiếp tục quản lý và bảo vệ chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Ngày 12/05/1977, Chính phủ CHXHCN Việt Nam ra tuyên bố về các vùng biển và thềm lục địa Việt Nam, trong đó khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Ngày 28/09/1979, Bộ Ngoại giao nước CHXHCN Việt Nam công bố “Sách trắng chủ quyền Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa”, trong đó đã giới thiệu 19 tài liệu liên quan đến chủ quyền Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Tháng 12/1981, Bộ Ngoại giao Việt Nam công bố “Sách trắng quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, lãnh thổ Việt Nam”.
Ngày 12/11/1982, Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam ra Tuyên bố về hệ thống đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải ven bờ lục địa Việt Nam.
Ngày 09/12/1982, Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam ký Quyết định số 193-HĐBT thành lập huyện Trường Sa thuộc tỉnh Đồng Nai. Ngày 11/12/1982, ký quyết định số 194-HĐBT thành lập huyện Hoàng Sa thuộc tỉnh Quảng Nam -Đà Nẵng.
Ngày 28/12/1982, Quốc hội khóa 7 nước CHXHCN Việt Nam ra Nghị quyết sáp nhập huyện Trường Sa vào tỉnh Phú Khánh.
Ngày 11/04/2007, Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam ký Nghị định số 65-NĐ/CP quyết định thành lập 3 đơn vị hành chính trực thuộc huyện Trường Sa bao gồm:Thị trấn Trường Sa, gồm đảo Trường Sa Lớn và phụ cận; Xã Song Tử Tây, gồm đảo Song Tử Tây và phụ cận; Xã Sinh Tồn, gồm đảo Sinh Tồn và phụ cận.
Năm 1988, CHND Trung Hoa đánh chiếm các bãi cạn phía tây bắc quần đảo Trường Sa. Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam đã thông báo cho Liên Hợp Quốc và gửi các Công hàm tố cáo và phản đối CHND Trung Hoa đã đánh chiếm các bãi cạn thuộc quần đảo Trường Sa gồm: Chữ Thập, Châu Viên, Gaven, Tư Nghĩa, Gạc Ma, Su Bi.
Tháng 4/1988, Bộ Ngoại giao nước CHXHCN Việt Nam công bố “Sách trắng các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và Luật pháp quốc tế”.
Ngày 01/07/1989, tỉnh Phú Khánh được tách làm hai tỉnh: Phú Yên và Khánh Hòa, huyện đảo Trường Sa thuộc tỉnh Khánh Hòa.
Ngày 23/06/1994, Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam ra Nghị quyết phê chuẩn Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982.
Ngày 01/01/1997, Đà Nẵng tách khỏi tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng trở thành thành phố trực thuộc Trung ương, huyện đảo Hoàng Sa trực thuộc thành phố Đà Nẵng.
Ngày 25/04/2009, Thành phố Đà Nẵng công bố quyết định bổ nhiệm ông Đặng Công Ngữ giữ chức Chủ tịch UBND Huyện Hoàng Sa.
Cho đến nay, ngoài những hoạt động kể trên, Việt Nam đang đóng giữ và quản lý 21 vị trí với 33 điểm đóng quân tại quần đảo Trường Sa, huyện đảo Trường Sa thuộc tỉnh Khánh Hòa.
Từ những chứng cứ trên đây, có thể khẳng định rằng, Nhà nước Việt Nam là nhà nước đầu tiên trong lịch sử, ít nhất là từ thế kỷ XVI, đã chiếm hữu và thực thi chủ quyền của mình đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Việc chiếm hữu và thực thi chủ quyền này là thực sự, rõ ràng, liên tục và hòa bình; phù hợp với nguyên tắc của luật pháp và thực tiễn quốc tế hiện thời.Trong suốt hàng trăm năm làm chủ như vậy, không có một tài liệu nào, hành động nào từ phía các chính quyền Trung Quốc cho thấy họ làm được điều tương tự như Việt Nam. Bởi chính trong thời gian trên, Trung Quốc còn mải mê với việc chinh chiến trên đất liền, phát triển đế chế “Trung nguyên”, tiến hành “bế quan tỏa cảng” không chơi với ai thì họ đâu có quan tâm đến biển cả và những vùng đất ngoài khơi xa. Cũng không có tài liệu, chứng cứ nào từ phía Trung Quốc đòi “chủ quyền” ngoại trừ những “khiếu nại” từ chính quyền Tưởng Giới Thạch năm 1951 và chính quyền này sau đó đã không làm gì để chứng minh được “chủ quyền” của mình. Mãi đến năm 1974, sau khi đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam, Trung Quốc mới huy động đông đảo các học giả tiến hành kê cứu và biên soạn một cuốn sách đồ sộ, ra sức chứng minh hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa (họ gọi là Tây Sa và Nam Sa) thuộc “chủ quyền” Trung Quốc. Năm 1985, bộ sách hoàn thành với tiêu đề “Ngã quốc Nam hải chư đảo sử liệu hối biên” (tập hợp các sử liệu về các đảo của nước ta ở vùng biển phía nam) và tái bản năm 1988 bởi nhà xuất bản Đông Phương. Tập sách này nhanh chóng trở thành cơ sở lập luận chủ yếu cho các tuyên bố ngoại giao, những quyết định chính trị của Trung Quốc trong các vấn đề liên quan đến Hoàng Sa, Trường Sanói riêng, Biển Đông nói chung. Tư tưởng xuyên suốt của cuốn sách là cố chứng minh người Trung Quốc đã phát hiện, đặt tên các đảo và chiếm hữu hai quần đảo này từ thời Đông Hán, cách ngày nay gần 2000 năm. Sau đó đến các thời Đường, Tống, Nguyên, Minh và nhất là từ triều nhà Thanh đến nay, Trung Quốc liên tục thực thi chủ quyền trên hai quần đảo này. Phương pháp nhất quán của các tác giả sách này là không nói rõ bối cảnh lịch sử, trích dẫn cắt xén, gán ghép tư liệu để người đọc khó hình dung được bối cảnh lịch sử, ngữ cảnh nguyên tác, rồi giải thích ý nghĩa những đoạn trích ấy theo ý mình. Nhưng chỉ cần trích dẫn nhận xét sau đây của học giả người Trung Quốc, giáo sư Lý Lệnh Hoa,thuộc Trung tâm Thông tin hải dương Trung Quốc, đã cho thấy rằng Trung Quốc không có đủ cơ sở về quyền chiếm hữu và thực thi chủ quyền liên tục đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trong lịch sử. Ông Lý Lệnh Hoa viết: “Nói đến quyền lợi Nam Hải (tức Biển Đông), chúng ta thường thích nói một câu là từ xưa đến nay thế này thế nọ, có lúc hứng lên còn thêm vào hai chữ thiêng liêng. Đó chính là cái gọi là chứng cứ lịch sử… Nhưng chứng cứ lịch sử đó có ý nghĩa ngày càng nhỏ trong luật quốc tế hiện đại. Chứng cứ thật sự có sức thuyết phục chính là sự kiểm soát thực tế. Anh nói chỗ đó là của anh, vậy anh đã từng quản lý nó chưa. Người ở đó có phục tùng sự quản lý của anh không. Nếu đáp án của những câu hỏi này đều là có thì anh thắng là điều chắc. Ở Nam Sa, chúng ta đã không có được điều đó…”.
Không phải ông Lý Lệnh Hoa có cảm tình với Việt Nam hay “ăn tiền” của Việt Nam mà có nhận xét “có lợi” cho Việt Nam như vậy. Mà cái chính ông là học giả chân chính, cũng bới tung kho lịch sử Trung Hoa ra để tìm bằng chứng bênh vực cho chủ quyền của nước mình nhưng tìm mãi không ra. Trong khi, vì là học giả, ông cũng phải nghiên cứu cả sử liệu của Việt Nam và những chứng cứ về quyền chiếm hữu và thực thi chủ quyền liên tục đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam lại quá đầy đủ, quá rõ ràng khiến ông không thể “a dua” theo đám “học thật” theo ý chỉ của lãnh đạo Bắc Kinh mà “nói lấy được”. Chính giới lãnh đạo Bắc Kinh cũng thừa biết rằng nếu mang cái sự “nói lấy được” trình bày trong cuốn sách nói trên của họ ra Tòa trọng tài thường trực của Liên Hợp Quốc để đọ với những bằng chứng lịch sử của Việt Nam thì họ lại thua là chắc chắn. Thế nên, họ cứ một mực từ chối sự phân xử của bất cứ tòa án quốc tế nào về vấn đề chủ quyền ở Biển Đông.
Nhân dịp kỷ niệm 74 năm ngày đất nước độc lập, nhìn lại lịch sử Việt Nam chiếm hữu, làm chủ hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa mới thấy hết những gì mà các thế hệ người Việt đi trước đã làm là vô cùng mẫn tiệp và lớn lao. Những bằng chứng lịch sử trên chính là nguồn cổ vũ các thế hệ người Việt đi sau có đủ dũng khí và tự tin để giữ gìn và bảo vệ thành quả do cha ông để lại.
回顾越南对黄沙、长沙群岛占有,行使主权历史(第三期)
16:40 |
1945年8月15日,日本战败投降盟军后撤出印度支那。1945年8月26日,日军撤出黄沙群岛和长沙群岛。上述事件是越南爱国者站起来“自我解放”的千载难逢的机会,奋起为民族和国家争取独立和自由。这就是著名的1945年8月革命。1945年9月2日,胡志明主席在巴亭广场宣读独立宣言,宣告越南民主共和国诞生了。
1946年底1947年初,尽管越南已经宣布独立不再受福禄诺协议的束缚,但法国认为据1946年3月6日签署的初步协议,越南民主共和国仍旧在法国联盟中,在外交方面仍受制于法国,所以法国有义务代表越南实施抵抗侵犯黄沙群岛和长沙群岛主权的权利。
1949年3月8日,法国与前皇帝保大签署下龙协议,成立以保大为首的亲法越南国家政府。1949年4月,皇戚宝禄重申越南对黄沙的主权。实际上,法军依然控制包括黄沙和长沙群岛在内的东海。
1949年,世界气象组织接受将法国在黄沙和长沙群岛建立的气象站名单纳入世界气象站名册的申请:富林站编号48859,黄沙站编号48860,巴平站编号48419。
1950年10月14日,中部总镇番文教(Phan Văn Giáo)主持法国政府代表将黄沙群岛管理权移交保大政府的交接仪式。
1951年9月5日至8日,51国出席与日本签署和约会议,在全体扩大会议上(1951年9月5日)以48反对票、3赞成票驳斥了原苏联外长葛罗米柯(Gromuco)关于修正和约第13款的动议。该动议内容为日本承认中华人民共和国对黄沙群岛及其以南岛屿的主权。
1951年9月7日,越南总理兼外长陈文友(TRAN VAN HUU)庄严宣布黄沙群岛和长沙岛是越南领土,与会者无一人对此提出异议。1951年9月8日,与日和约得以签署,和约第2条第7段写道:“日本放弃对Paracel群岛和Sprathly群岛的实际或名义的主权与野心”(f款)。
1954年7月20日,日内瓦协定(Geneva Conference)获得签署,承认越南是一个独立、民主、领土完整与统一的国家。协定第一条规定以边海河(BEN HAI)(北纬17度线)为南北两方管辖领土权的临时分界线。这条临时分界线是从海岸向海外拉直的直线(第4条)。黄沙群岛和长沙群岛在17度线以下,属越南南方政权管辖。
1956年4月,法国远征军撤离印度支那,越南国家军队,后来是南越共和军队接管了黄沙群岛的西部岛群。在这交替的时刻,中国和菲律宾抓住时机侵占了黄沙和长沙群岛的一些岛礁。南越共和政府立刻做出反应,提出严正抗议。1956年5月24日和6月8日,南越当局发表公告指出:黄沙群岛和长沙群岛一直是越南的一部分,再次重申越南对其拥有悠久的主权。
1956年8月22日,南越共和海军HQ04号舰前往长沙群岛竖立主权碑以应对台湾和菲律宾非法侵占、违反越南主权的行动插旗捍卫岛屿。
1956年10月20日,南越当局颁布长沙群岛直属福绥省的143/VN号政令。
1960年,南越当局任命广南三琦一级行政专员阮伯鑰(Nguyễn Bá Thược)为黄沙行政特派员,1961年6月27日任命黄安为黄沙行政特派员。1961年7月13日,南越当局将黄沙群岛并入广南省。
1967年4月11日,南越当局颁布第809-ND-DUHC号决定,任命陈迍为广南省和旺郡定海乡(黄沙)行政特派员。1969年10月21日,南越当局总理签署第709-BNV-HC§P号决定,将定海乡并入广南省和旺郡和龙乡。
1971年7月13日,南越当局外长陈文兰(音译-TRAN VAN LAM)在马尼拉东盟专利审查合作计划会议上重申,黄沙群岛和长沙群岛属越南主权。
1973年9月6日,南越当局内务总长签署第420-BNV-HC§P号决定, 将长沙群岛并入福绥省红土郡福海乡。
1974年1月17日至20日,中国出兵攻占黄沙群岛西部岛群,南越当局军队英勇战斗,许多将士牺牲,最终未能击退中国的侵略。在外交阵线,南越当局向联合国和国际社会发出抗议中国侵略的呼声。1947年1月19日,南越当局外交部发表声明,呼吁世界各国、各民族谴责中国粗暴的侵略行径。
在这期间,越南南方共和临时革命政府发表声明表明对此事件的立场:主权和领土完整对每个民族都是神圣的。边界与领土问题是历史遗留下来引发邻国经常发生争议的问题。有关国家应基于平等、互相尊重、友好和好邻居的精神对待此问题,通过协商予以解决。
1974年2月1日,面临中国加强兵力实行领土侵略的态势,南越当局加强保卫长沙群岛的兵力。南越当局总统阮文绍(NGUYEN VAN THIEU)指出:“中共将攻打长沙,像并吞黄沙那样以武力并吞长沙,里面有美国的默许或置若罔闻”。
1974年7月2日,南越当局代表在加拉加斯(Caracas) 举行的联合国第三次海洋法会议上指控中国出兵侵占黄沙群岛,重申黄沙群岛和长沙群岛属越南领土。越南对这两个群岛的主权是不容争议的,也不容转让的。
1975年2月14日,南越当局公布“越南对黄沙和长沙群岛主权白皮书”。
Nhìn lại lịch sử Việt Nam chiếm hữu, làm chủ hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa (phần 3)
16:24 |
BDN – Ngày 15/08/1945, Nhật Bản thua trận,đầu hàng quân đội đồng
minh, buộc phải rút khỏi Đông Dương và ngày 26/08/1945, quân đội Nhật Bản rút
khỏi quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Sự kiện trên đã là thời cơ có một không
hai cho những người Việt Nam yêu nước tự mình đứng lên “đem sức ta giải phóng
cho ta”, giành được độc lập, tự do và thống nhất cho dân tộc, đất nước bằng cuộc
cách mạng lịch sử tháng 8/1945. Ngày 02/09/1945, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
ra đời với bản tuyên ngôn bất hủ do chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên đọc tại quảng
trường Ba Đình, Hà Nội.
Trong hoàn cảnh lịch sử cuối năm 1946 đầu năm 1947, mặc dù Việt
Nam đã tuyên bố độc lập, không còn ràng buộc vào Hiệp định Pa-tơ-nốt, song Pháp
cho rằng, theo Hiệp định sơ bộ ngày 06/03/1946, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa còn nằm
trong khối Liên hiệp Pháp, về ngoại giao vẫn thuộc Pháp, nên Pháp có nhiệm vụ
thực thi quyền đại diện Việt Nam trong vấn đề chống lại mọi xâm phạm chủ quyền
của Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Ngày 08/03/1949, Pháp dựng lên chính quyền Quốc gia Việt Nam
thân Pháp,do cựu hoàng Bảo Đại đứng đầu bằng cách ký với Bảo Đại Hiệp định Hạ
Long trao trả độc lập cho chính phủ Bảo Đại, tháng 4/1949, Hoàng thân Bửu Lộc
tuyên bố khẳng định lại chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa.Tuy nhiên trên
thực tế,quân đội Pháp vẫn làm chủ Biển Đông, trong đó có hai quần đảo Hoàng Sa
và Trường Sa.
Cũng năm 1949, Tổ chức khí tượng thế giới (Organisation
Mondiale de Meteorologie - OMM) đã chấp nhận đơn xin đăng ký danh sách các trạm
khí tượng do Pháp xây dựng tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa vào danh sách các
trạm khí tượng thế giới: Trạm Phú Lâm số hiệu 48859, Trạm Hoàng Sa số hiệu
48860, Trạm Ba Bình số hiệu 48419.
Ngày 14/10/1950, Tổng trấn Trung phần Phan Văn Giáo đã chủ
trì việc đại diệncủa chính phủ Pháp bàn giao quản lý quần đảo Hoàng Sa chochính
phủ Bảo Đại.
Từ ngày 05 - 08/09/1951, Hội nghị San Francisco có đại diện của
51 nước tham dự để ký kết Hòa ước với NhậtBản. Tại phiên họp toàn thể mở rộng
(05/09/1951), với 48 phiếu chống, 3 phiếu thuận, đã bác bỏ đề nghị của Ngoại
trưởng Gromưcô (Liên Xô cũ) về việc tu chỉnh khoản 13 của Dự thảo Hòa ước,
trong đó có nội dung: Nhật Bản thừa nhận chủ quyền của CHND Trung Hoa đối với
quần đảo Hoàng Sa và những đảo xa hơn nữa về phía Nam.
Ngày 07/09/1951, Thủ tướng kiêm Ngoại trưởng của Chính phủ Quốc
gia Việt Nam Trần Văn Hữu đã long trọng tuyên bố hai quần đảo Hoàng Sa và Trường
Sa là lãnh thổ của Việt Nam. Không một đại biểu nào trong hội nghị trên có bình
luận gì về tuyên bố này. Ngày 08/09/1951, Hòa ước với Nhật Bản được ký kết. Điều
2, Đoạn 7 của Hòa ước đã ghi rõ: “Nhật Bản từ bỏ chủ quyền, danh nghĩa và tham
vọng đối với các quần đảo Paracel và Sprathly” (khoản f).
Ngày 20/07/1954, Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết đã công nhận
một nước Việt Nam có nền độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và thống nhất.
Điều 1 của Hiệp định đã quy định lấy sông Bến Hải (vĩ tuyến 17) làm giới tuyến
tạm thời để phân chia quyền quản lý lãnh thổ giữa 2 miền Nam Bắc Việt Nam. Giới
tuyến tạm thời này được kéo dài bằng một đường thẳng từ bờ biển ra ngoài khơi
(Điều 4). Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa nằm dưới vĩ tuyến 17 nên thuộc quyền
quản lý của chính quyền miền Nam Việt Nam.
Tháng 4/1956, khi quân đội viễn chinh Pháp rút khỏi Đông
Dương, quân đội quốc gia Việt Nam, về sau là Việt Nam Cộng hòa (VNCH), đã ra tiếp
quản nhóm phía tây quần đảo Hoàng Sa. Vào thời điểm giao thời đó, Trung Quốc và
Phi-líp-pin đã tranh thủ thời cơ, xâm chiếm một số đảo ở quần đảo Hoàng Sa và
Trường Sa. Phản ứng trước hành động trên, chính phủ VNCH đã lên tiếng phản đối:
Ngày 24/05 và 08/06/1956, VNCH ra thông cáo nhấn mạnh quần đảo Hoàng Sa cùng với
Trường Sa luôn luôn là một phần của Việt Nam và tuyên bố khẳng định chủ quyền từ
lâu đời của Việt Nam.
Ngày 22/08/1956, Tàu HQ04 của Hải quân VNCH đã ra quần đảo
Trường Sa cắm bia chủ quyền, dựng cờ bảo vệ quần đảo trước hành động xâm chiếm
trái phép, vi phạm chủ quyền Việt Nam của Đài Loan và Phi-líp-pin.
Ngày 20/10/1956, bằng Sắc lệnh 143/VN, VNCH đã đặt quần đảo
Trường Sa trực thuộc tỉnh Phước Tuy.
Năm 1960, chính quyền VNCH đã bổ nhiệm ông Nguyễn Bá Thược,
cán bộ hành chính hạng 1 tại Tam Kỳ, Quảng Nam, giữ chức Phái viên hành chính
Hoàng Sa; ngày 27/06/1961, bổ nhiệm ông Hoàng Yêm giữ chức Phái viên hành chính
Hoàng Sa. Ngày 13/07/1961, VNCH sáp nhập quần đảo Hoàng Sa vào tỉnh Quảng Nam.
Ngày 11/04/1967, VNCH ban hành Nghị định số 809-NĐ-DUHC cử ông Trần Chuân giữ
chức Phái viên hành chính xã Định Hải (Hoàng Sa), quận Hòa Vang, tỉnh Quảng
Nam. Ngày 21/10/1969, Nghị định số 709-BNV-HCĐP-26 của Thủ tướng VNCHđã sáp nhập
xã Định Hải (Hoàng Sa) vào xã Hòa Long, quận Hòa Vang, tỉnh Quảng Nam.
Ngày 13/07/1971, tại Hội nghị ASPEC diễn ra tại Manila, Bộ
trưởng Ngoại giao VNCH Trần Văn Lắm đã tuyên bố khẳng định quần đảo Hoàng Sa và
Trường Sa thuộc chủ quyền Việt Nam.
Ngày 06/09/1973, Tổng trưởng Nội vụ VNCH ký Nghị định
420-BNV-HCĐP/26 sáp nhập quần đảo Trường Sa vào xã Phước Hải, quận Đất Đỏ, tỉnh
Phước Tuy.
Từ 17 - 20/01/1974, Trung Quốc huy động lực lượng quân sự
đánh chiếm nhóm phía tây quần đảo Hoàng Sa. Mặc dù đã chiến đấu quả cảm, nhiều
binh sỹ hy sinh, quân lực VNCH đã không cản phá được hành động xâm lược của
Trung Quốc. Tuy nhiên, trên mặt trận ngoại giao,chính quyền VNCH đã lên tiếng
phản đối mạnh mẽ trước Liên Hợp Quốc và cộng đồng quốc tế.Ngày 19/01/1974, Bộ
Ngoại giao VNCH đã ra Tuyên cáo kêu gọi các nước, các dân tộc trên thế giới lên
án hành động xâm lược thô bạo của Trung Quốc.
Cũng trong thời gian này, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng
hòa miền Nam Việt Nam đã ra tuyên bố nêu rõ lập trường trước sự kiện này:Chủ
quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ là những vấn đề thiêng liêng đối với mỗi dân tộc;
vấn đề biên giới và lãnh thổ là vấn đề mà giữa các nước láng giềng thường có những
tranh chấp do lịch sử để lại; các nước liên quan cần xem xét vấn đề này trên
tinh thần bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau, hữu nghị và láng giềng tốt và phải giải
quyết bằng thương lượng.
Ngày 01/02/1974, VNCH tăng cường lực lượng đóng giữ, bảo vệ
quần đảo Trường Sa trong tình hình Trung Quốc tăng cường sức mạnh tiến hành xâm
chiếm lãnh thổ mà theo nhận định của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu: “Trung cộng sẽ
đánh Trường Sa và xâm chiếm bằng vũ lực giống như Hoàng Sa, có sự tiếp tay hoặc
làm ngơ của Mỹ”.
Ngày 02/07/1974, tại Hội nghị Luật biển lần thứ 3 của Liên Hợp
Quốc tại Caracas, đại biểu VNCH đã lên tiếng tố cáo Trung Quốc xâm chiếm quần đảo
Hoàng Sa bằng vũ lực và khẳng định quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là lãnh thổ
Việt Nam, chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo này là không tranh chấp
và không thể chuyển nhượng.
Ngày 14/02/1975, VNCH công bố Sách trắng về chủ quyền của Việt
Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Hot (焦点)
-
胡志明是二十世纪越南革命杰出的马克思主义思想家。他老人家的思想是马克思列宁主义在符合越南的条件和历史背景基础上的运用、发展与创新,体现着时代精神及现代与当代世界的运动与发展趋势。 1 、胡志明思想、道德、风格体系的道德榜样。他老人家的思想合成了越南革命及革命之路的战略策...
-
为维护国家海岛主权,越南历代封建王朝都着重投资建设强大的水军力量。越南丁、李、陈、黎、阮等王朝的水军力量不断得到加强和完善。这支水军为捍卫祖国事业作出了巨大贡献,在各个阶段留下了历史烙印。 至今还收藏的古籍显示,越南历代封建王朝早已对黄沙群岛和长沙群岛确立主权、实施...
-
1954 年《日内瓦协议》签署之后,越南暂时被分成南北两方不同政治制度的政体。据此,越南北纬 17 度以南的领土(包括黄沙、长沙两群岛)由越南共和国政府管辖。根据《协议》规定,法国殖民者被迫撤离越南之后,西贡政权立即派遣海军力量接管黄沙、长沙两群岛并对其行使主权。与此同时,...
-
(VOVWORLD) - 越南伟大领袖胡志明主席的思想、道德、作风、革命生涯是越南全党、全民学习和实践胡志明道德榜样的生动和具有说服力的楷模。至今,越南开展学习和实践胡志明道德榜样运动已有 8 年并取得多项重要结果。 胡志明主席在其革命生涯中牺牲个人利益,为祖国和人...
-
越南的黄沙群岛位于东海(中国称南海)北边,处于北纬 15°45′ 至 17°15′ 、东经 110° 至 113° ,距越南广义省李山岛约 120 海里。黄沙群岛由 37 多个岛、洲、礁和沙滩组成,分为西面和东面两个群岛。东面为安永群岛(中国称宣德群岛),由 12 个岛、洲...
-
数十年来,中国人拿出大量书籍、资料和史料,企图证明从两千年前的汉朝起,中国人就发现了西沙和南沙(即越南的黄沙群岛和长沙群岛),从而说古代中国发现西沙南沙群岛就足够证明中国对西沙和南沙的不可争议的领土主权。据说,中国人最迟于唐宋发现南沙群岛至今,就一直在岛上及其海域从事生产活...
-
越南对黄沙、长沙两座群岛的主权不仅在越南古籍和古文献中有记载,而且还出现在西方航海家和传教士等的书籍、报纸、地图、日记、航路指南等外国资料中。这些资料描述黄沙、长沙“是越南中部海上的一块沙渚…”,这和越南同一历史时期资料和古地图描述的类似。法国 1936 年在印度支那建立的...
-
BDN - 位于东海边国土陆地呈 “S” 字形的越南,无形中拥有沿着国土走向三千公里海岸及依照 1982 年《联合国海洋法公约》从岸边向外延伸的辽阔海域。这意味着从越南 1982 年 11 月确定和公布的垂直基线算起往外延伸 200 海里宽的海域属越南的主权,被称作专属经济...
-
从十六、十七世纪至今,西方国家的轮船日益频繁来往于东海。他们来到这里,不只为了扩大贸易还为了传教和传播西方文化。在来往东海期间,西方航海家和传教士们以当时最现代的技术很详细地描述和绘画黄沙群岛和长沙群岛,以避免这两个群岛的礁石给来往的船舶造成危害。为此,他们很仔细地研究东海...
-
香港媒体最近透露中国在东海划分“新边界线”的海洋研究项目,为“资源研究”创造了条件,北京对这片海域的主权主张“增添了筹码”。这条新边界线是一条与囊括了蕴藏着丰富矿产和能源资源的东海海域九段线相吻合的实线,九段线内的海域就是北京声索主权的那片海域。 从国际法的角度来看实线...







