日本和英国对东海和东中国海局势表示关切

07:52 |

 

日本和英国的外交部长和国防部长在23日举行的线上会议后发表的一份联合声明中表示,他们对东海和东中国海局势表示关切。

两国外长和国防部长在这份声明中对改变这些海域现状的所有单方面行为表示反对。

日本外务大臣茂木敏充(Toshimitsu Motegi)、防卫大臣岸史伸夫(Nobuo Kishi)和英国外交大臣多米尼克·拉布(Dominic Raab)、国防大臣本·华莱士(Ben Wallace)所发表的联合声明重申了维护东海航行与飞越自由的重要性,同时敦促有关各方保持克制,避免采取可能让紧张局势升级的行为。

英国防卫大臣在与日本外务大臣茂木敏充的会晤中表示,英国愿与日本加强防务与安全领域合作。希望今年派遣以皇家海军最新、也是其史上最大的军舰—“伊丽莎白女王”号航母(HMS Queen Elizabeth R08) 前往印度洋-太平洋海域。


Đọc thêm...

Nhật Bản, Anh cùng lên tiếng mạnh mẽ về Biển Đông

06:48 |

 

Bốn bộ trưởng Ngoại giao, Quốc phòng của Anh và Nhật Bản bày tỏ quan ngại sâu sắc về tình hình tại biển Đông và Hoa Đông, đồng thời phản đối mạnh mẽ bất kỳ nỗ lực đơn phương nào nhằm thay đổi hiện trạng tại hai vùng biển đó.

Anh và Nhật Bản đã đưa ra tuyên bố chung như trên sau cuộc hội đàm trực tuyến giữa Bộ trưởng Ngoại giao Toshimitsu Motegi và Bộ trưởng Quốc phòng Nobuo Kishi của Nhật Bản, cùng những người đồng cấp Anh Dominic Raab và Ben Wallace vào ngày 3-2.

Tuyên bố nhấn mạnh: "Bốn bộ trưởng tái khẳng định tầm quan trọng của việc duy trì tự do hàng hải và hàng không trên biển Đông, đồng thời kêu gọi tất cả các bên thực hiện tự kiềm chế và kiềm chế các hoạt động có thể làm gia tăng căng thẳng".

Các bộ trưởng ngoại giao và quốc phòng Nhật Bản cũng nhất trí tăng cường quan hệ an ninh và thúc đẩy một khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương tự do và cởi mở khi Trung Quốc ngày càng trở nên lấn lướt ở biển Đông và Hoa Đông.

Bộ trưởng Quốc phòng Nobuo Kishi khẳng định tuyên bố chung nói trên sẽ "không chỉ tăng cường hợp tác quốc phòng song phương mà còn giúp thúc đẩy một Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương tự do và rộng mở".

Bộ trưởng Ngoại giao Nhật Bản Toshimitsu Motegi cho biết sau cuộc hội đàm trực tuyến rằng Tokyo hoan nghênh việc Anh dự kiến cử nhóm tác chiến tàu sân bay HMS Queen Elizabeth, tàu chiến lớn nhất của Hải quân Hoàng gia Anh, tới Tây Thái Bình Dương vào cuối năm nay.

Theo Bộ Ngoại giao Nhật Bản, trong cuộc họp, Nhật Bản đồng ý phối hợp với Anh tổ chức tập trận chung giữa nhóm tàu tác chiến với Lực lượng Phòng vệ của nước này. Phát biểu khi bắt đầu cuộc họp, Bộ trưởng Quốc phòng Anh Ben Wallace mô tả nhóm tác chiến tàu sân bay "thể hiện sự kết hợp giữa khả năng chủ quyền của chúng tôi nhưng cũng là mong muốn hợp tác hơn nữa của chúng tôi".

Đề cập đến sự hung hăng của Trung Quốc ở biển Đông và Hoa Đông, trong một bài đăng trên Facebook, Bộ trưởng Ngoại giao Toshimitsu Motegi cho biết ông và các bộ trưởng Anh "chia sẻ những quan ngại nghiêm trọng" về tình hình và "nhất trí kiên quyết phản đối những nỗ lực đơn phương nhằm thay đổi hiện trạng bằng vũ lực tầm quan trọng của trật tự hàng hải tự do và cởi mở dựa trên pháp quyền".

Đọc thêm...

越南 独立、和平、繁荣的渴望及胜利的信念

08:57 |

 

2021辛丑春节,越南共产党走过了91年的历程。越南共产党第十三次全国代表大会(越共十三大)成功召开。大会重申,越南国家和民族从未有过像今天这般基业、实力、地位及威望。越南祖国致力于繁荣与强大的强劲发展时期已经开启。

开始进行争取民族独立斗争和国家发展时,阮爱国领袖——胡志明已对胜利和发展渴望抱有执著的信念。阮爱国1921年第一季度在巴黎会见法国殖民部长、1912年至1919年曾经担任印度支那总督阿尔贝特·萨罗(Albert-Pierre Sarraut)时指出:“若法国把独立归还我们,您会看到我们自己会治国”。在19226月的会见中,阮爱国坦率地要求法国把独立归还越南,否则我们将为争取独立而斗争。独立自由和建设强大富饶之国的渴望成为胡志明革命事业及由他老人家创立的革命党的贯穿理想和目标。

致力于上述神圣且崇高的目标,历代共产主义者、同志、同胞已英勇牺牲并对胜利抱有执著的信念。在由共产党领导的第一次(1930-1931年)革命运动中,珠文廉、阮峰色、阮德景等模范领导同志已为革命和民族牺牲。越共中央首位总书记陈富牺牲之前向各位同志嘱咐:“请保持战斗意志”。辛巳年(1941年)春节,阮爱国回国,同党中央以务必争取独立的意志和决心,补充发展和完善民族解放路线。1941-1942年,革命遭受严重损失,阮文渠、何辉集、武文秦、潘登刘、黎鸿峰、阮氏明开、冯志坚等许多党的一流领导同志牺牲。在法日敌军的残酷统治下,阮爱国依然抱着必胜的信念。他老人家预测,1945年越南取得独立。1944年,著名领导人黄文树被敌军射击。他向朋友同志嘱咐:“请始终保持诚意”,并在敌军面前重申:“只知道,最终,我们会胜利”。黄文树牺牲之日一年多后,由党和胡志明领袖领导的八月革命已取得胜利,越南国家获得独立。独立、自由和幸福以及把越南建设成为与五大洲强国并驾齐驱的国家是执政党和胡志明主席的巨大信念和渴望。

1947丁亥年春节,全国抗战的开端十分剧烈,因为法国殖民主义者想再次侵略越南。在艰苦和牺牲背景下,胡志明在新年贺词中表示相信:“长期抗战一定胜利。统一独立一定成功”。上述巨大信念和渴望已鼓励全民族力量走到胜利,即“煊赫五洲、震动地球”的奠边府大捷,北方获得解放并走上社会主义道路,南方继续解放事业以实现国家统一。历史性的同起运动于1960庚子年春节根据党的斗争路线进行,直接进攻由美帝国主义建设的西贡伪政府、伪军,开启南方革命的进攻时期。抗美救国战争在全国范围内日益剧烈。“我国人民的抗美救国战争尽管要经过更多艰苦和牺牲,但一定会取得完全胜利。那是肯定的”。胡伯伯的执著信念也是全党、全民及全军的信念和渴望。上述信念和渴望已促成1968戊申年春季、1972年春夏季进攻、197212月“河内-空中奠边府”及1975年春季取得胜利。在激烈的战争中,胡志明主席依然点燃信念之火,即取得胜利后,我们将把国家建设得更加堂皇、更加美丽,人民能够拥有快乐而幸福的生活。

尽管已完成独立和统一任务,但我们又要进行战争,保卫西南边界和北部边界,拯救柬埔寨人民摆脱种族灭绝制度并帮助该国复兴。那是痛苦且无法忘记的岁月。本着没有什么比独立自由更可贵的意志,许多同志和同胞尽管付出鲜血,但仍坚信民族向前迈进的道路。越南的血与花。各位英烈的热血染红了革命旗帜。鲜血是牺牲奉献,是革命英雄主义,是独立誓言,是党和民族的名誉。花是文化,是爱情,是越南无穷之美和姿态,是残酷胜利文明的象征。在前线拿着枪战斗的战士曾经说过:不怕艰苦和牺牲,只怕没有文化和爱情。无限的精神价值已创造越南力量。

越共六大(198612月)本着把国家走出经济社会危机和摆脱贫穷饥饿状况的意志和渴望开辟了国家全面革新的路线。那时,越南是世界上20个最贫穷的国家之一,人均收入仅为280美元。克服了国内种种困难,外国的包围禁运,多个国家社会主义制度的崩溃,越南在革新和社会主义建设道路中稳步前进,取得了赢得世界钦佩的巨大成就。1996年,国家走出经济社会危机。2008年成为中等收入国家。工业化、现代化事业使国家面貌发生深刻变化,朝着文明、进步及现代的方向大大提升人民的生活水平和质量。2020年,人均收入为2750美元,而人口较1986年增加一倍。贫困率由1993年的58%降至2020年的2.8%。越南提前十年完成联合国提出的消除贫困目标。

以长远视野,战略性思路,越共十三大(20211月)已提出各项重要决策,推动国家迅速且可持续发展,力争至2026年超过中低收入国家门槛。2030年——纪念党诞生100周年,越南成为迈向现代化的中高收入工业国。上述战略目标是在社会主义理论、越南走上社会主义道路的基础上既定的,是实施革新35周年后所取得的巨大成就的前提,符合国际形势特点,并反映祖国强大发展的渴望。

今天的国家发展愿望并非像实施革新之前那样不切实际和主观唯心主义的,而是在当今国家的实际情况及现有的实力和基业计算出来的,其拥有爱国情怀且团结的一亿人口,方方面面保持稳定,由党的正确领导,国家和政府的创新管理,因而具有现实性。迅速且可持续发展是克服经济落后和陷入中等收入陷阱的危机。建设充分具有市场经济特征和规律但仍确保社会主义定向的经济体制。制止和击退腐败是打破发展道路上的障碍。成为发达国家不光是经济发展水平高,而须完善政治体系;发展文化和人员;营造文明而幸福的社会,具备有关防务安全的必要力量。共产党和社会主义制度的本质是和平、友谊、平等、确保深广融入国际。

独立、自由、和平、统一、繁荣及幸福是越南民族在建国护国历史长河中的神圣渴望。在胡志明时代中,上述渴望获得越南共产党的培育并发展到顶峰,不断把之变成现实。在根据越共十三大提出的方向推动国家发展的新阶段,有理由坚信国家将迅速且可持续发展,致力于一个强大的国家,日益快乐而幸福的民众。相信整个民族、执政党及属于人民、来自人民、为人民的社会主义法治国家的智慧、本领及力量,相信世界上各国、各民族融入、团结及合作的趋势。


Đọc thêm...

Việt Nam, khát vọng độc lập, hòa bình, phồn vinh và niềm tin chiến thắng

08:23 |

 

Mùa xuân Tân Sửu (2021), Đảng Cộng sản Việt Nam đã trải qua 91 năm lịch sử. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng (Đại hội XIII) được tổ chức thành công. Đại hội khẳng định, đất nước và dân tộc Việt Nam chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Một thời kỳ phát triển mới mạnh mẽ vì sự phồn vinh và hùng cường của Tổ quốc Việt Nam đã mở ra.

Khởi đầu sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và phát triển đất nước, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã có niềm tin sâu sắc vào thắng lợi và khát vọng phát triển. Tại Pa-ri, Quý I/1921, trong cuộc gặp An-be Sa-rô, Bộ trưởng thuộc địa Pháp, từng là Toàn quyền Đông Dương (1912-1919), Nguyễn Ái Quốc nêu rõ: "Nếu nước Pháp trả lại nền độc lập cho chúng tôi, ông sẽ thấy chúng tôi biết cầm quyền cai trị lấy”. Tại cuộc gặp tháng 6/1922, Nguyễn Ái Quốc thẳng thắn yêu cầu nước Pháp phải trả lại nền độc lập cho Việt Nam, nếu không chúng tôi sẽ đấu tranh để giành lại độc lập, "Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi, đấy là tất cả những điều tôi muốn”. Khát vọng độc lập tự do và xây dựng đất nước giàu mạnh trở thành lý tưởng và mục tiêu xuyên suốt sự nghiệp cách mạng của Hồ Chí Minh và của Đảng cách mạng do Người sáng lập.

Vì mục tiêu thiêng liêng, cao cả đó mà biết bao thế hệ những người cộng sản, đồng chí, đồng bào đã anh dũng hy sinh và vững tin vào thắng lợi. Ngay trong phong trào cách mạng đầu tiên (1930-1931) do Đảng lãnh đạo, các đồng chí lãnh đạo tiêu biểu như Châu Văn Liêm, Nguyễn Phong Sắc, Nguyễn Đức Cảnh… đã hy sinh vì cách mạng và dân tộc. Tổng Bí thư đầu tiên của Đảng Trần Phú trước lúc hy sinh đã nhắn lại các đồng chí: Hãy giữ vững chí khí chiến đấu. Mùa Xuân Tân Tỵ (1941), Nguyễn Ái Quốc trở về nước cùng Trung ương Đảng phát triển hoàn chỉnh đường lối giải phóng dân tộc với ý chí, quyết tâm giành cho được độc lập. Năm 1941-1942, cách mạng tổn thất nặng nề, nhiều đồng chí lãnh đạo hàng đầu của Đảng đã hy sinh: Nguyễn Văn Cừ, Hà Huy Tập, Võ Văn Tần, Phan Đăng Lưu, Lê Hồng Phong, Nguyễn Thị Minh Khai, Phùng Chí Kiên. Trong sự thống trị tàn bạo của giặc Pháp - Nhật, Nguyễn Ái Quốc vẫn vững tin ở thắng lợi. Người dự báo: Năm 1945 Việt Nam độc lập. Năm 1944, nhà lãnh đạo nổi tiếng Hoàng Văn Thụ bị địch xử bắn. Đồng chí nhắn lại bạn bè, đồng chí: "Trước sau xin giữ tấm lòng thành”, đồng thời khẳng định trước mặt kẻ thù: "Chỉ biết rằng, cuối cùng chúng tôi sẽ thắng”. Chỉ hơn một năm sau ngày Hoàng Văn Thụ hy sinh, Cách mạng Tháng Tám do Đảng và lãnh tụ Hồ Chí Minh lãnh đạo đã thắng lợi, nước Việt Nam được độc lập. ĐỘC LẬP - TỰ DO - HẠNH PHÚC và xây dựng nước Việt Nam "sánh vai với các cường quốc năm châu” là niềm tin và khát vọng lớn lao của Đảng cầm quyền và của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Tết Đinh Hợi 1947, khởi đầu cuộc toàn quốc kháng chiến vô cùng ác liệt vì thực dân Pháp muốn cướp nước ta một lần nữa. Trong gian khổ, hy sinh, với lời chúc năm mới, Hồ Chí Minh tin tưởng: "Trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi. Thống nhất độc lập nhất định thành công”. Niềm tin và khát vọng lớn lao đó đã động viên sức mạnh toàn dân tộc đi đến thắng lợi với chiến thắng Điện Biên Phủ "chấn động địa cầu”, miền Bắc được giải phóng đi lên CNXH, miền Nam tiếp tục sự nghiệp giải phóng để đi đến thống nhất đất nước. Mùa Xuân năm Canh Tý 1960 diễn ra cuộc Đồng khởi lịch sử ở miền Nam theo đường lối đấu tranh của Đảng, tiến công trực diện vào ngụy quyền, ngụy quân Sài Gòn do đế quốc Mỹ dựng lên, mở ra thời kỳ tiến công của cách mạng miền Nam. Bác Hồ gọi đó là mùa Xuân vĩ đại "Đồng bào miền Nam tin tưởng chắc chắn rằng "Bĩ cực thì thái lai”, mùa Xuân thống nhất và tự do nhất định sẽ đến”. Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước diễn ra ngày càng ác liệt trên cả nước. "Cuộc chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta dù phải kinh qua gian khổ, hy sinh nhiều hơn nữa, song nhất định thắng lợi hoàn toàn. Đó là một điều chắc chắn”. Niềm tin son sắt đó của Bác Hồ cũng là niềm tin, khát vọng của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân cả nước. Niềm tin và khát vọng đó đã làm nên chiến thắng Xuân Mậu Thân 1968, Xuân Hè 1972, Chiến dịch "Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không” tháng 12/1972 và mùa Xuân 1975 toàn thắng. Trong chiến tranh ác liệt, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn thắp sáng niềm tin đến ngày thắng lợi sẽ xây dựng lại đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn, nhân dân được sống sung sướng, hạnh phúc.

Độc lập, thống nhất đã hoàn thành nhưng lại phải tiến hành chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở biên giới Tây - Nam và biên giới phía Bắc, cứu dân tộc Cam-pu-chia thoát khỏi họa diệt chủng và giúp bạn hồi sinh đất nước. Đó là những năm tháng đau thương không thể nào quên "Lụt bắc, lụt nam. Máu đầm biên giới/Tay chống trời. Tay giữ nước. Căng gân” (Tố Hữu). Ý chí không có gì quý hơn độc lập, tự do thật sự, biết bao đồng chí, đồng bào dù phải đổ máu vẫn vững niềm tin vào con đường đi tới của dân tộc. Việt Nam - máu và hoa. Máu đào của các liệt sĩ tô thắm ngọn cờ cách mạng. Máu là sự hy sinh, là chủ nghĩa anh hùng cách mạng, là lời thề độc lập, là danh dự của Đảng và dân tộc. Hoa là văn hóa, là tình yêu, là cái đẹp bất tận và thế đứng Việt Nam, là biểu tượng của văn minh chiến thắng bạo tàn. Các chiến sĩ cầm súng chiến đấu ngoài mặt trận đã từng nói: Không sợ gian khổ, hy sinh, chỉ lo thiếu văn hóa và tình yêu. Giá trị tinh thần bất tận đó đã làm nên sức mạnh Việt Nam.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (12/1986) mở ra con đường đổi mới toàn diện đất nước với ý chí và khát vọng đưa đất nước ra khỏi khủng hoảng KT-XH, thoát khỏi cảnh đói nghèo. Khi đó, Việt Nam là một trong 20 nước nghèo nhất thế giới với thu nhập bình quân đầu người chỉ có 280 USD. Vượt qua biết bao khó khăn trong nước, sự bao vây cấm vận của nước ngoài, sự sụp đổ của chế độ XHCN ở nhiều nước,           Việt Nam vững bước trên con đường đổi mới, xây dựng CNXH với những thành tựu to lớn được thế giới khâm phục. Năm 1996, đất nước ra khỏi khủng hoảng KT-XH. Năm 2008 trở thành nước có thu nhập trung bình. Sự nghiệp CNH, HĐH làm biến đổi sâu sắc diện mạo đất nước, nâng cao đáng kể mức sống và chất lượng cuộc sống của người dân theo hướng văn minh, tiến bộ và hiện đại. Năm 2020, thu nhập bình quân đầu người là 2.750 USD khi số dân tăng gấp hai lần năm 1986. Năm 1993, tỷ lệ hộ nghèo là 58%, năm 2020 còn 2,8%. Cuộc chiến chống đói nghèo do Liên hợp quốc đề ra, Việt Nam về đích trước 10 năm. Đi lên bằng ý chí, niềm tin và tự lực, tự cường của cả dân tộc. Năm 1986, câu nói của Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh được nhiều người nhắc lại: hãy tự cứu lấy mình trước khi trời cứu. Khi đó lại nhắc nhau lời căn dặn của Bác Hồ: "muốn người ta giúp cho, thì trước mình phải tự giúp lấy mình đã”.

Đại hội XIII của Đảng (1/2021) với tầm nhìn xa, tư duy chiến lược đã có những quyết sách quan trọng đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững. Đến năm 2026, vượt qua ngưỡng thu nhập trung bình thấp. Năm 2030, tròn 100 năm thành lập Đảng, Việt Nam trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại có thu nhập trung bình cao (Cương lĩnh 2011 xác định đến giữa thế kỷ XXI Việt Nam trở thành một nước công nghiệp hiện đại theo định hướng XHCN). Những mục tiêu chiến lược đó được đề ra trên nền tảng lý luận về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam và tiền đề là những thành tựu to lớn của 35 năm đổi mới, phù hợp với đặc điểm của tình hình quốc tế và phản ánh khát vọng phát triển vì sự hùng cường của Tổ quốc.

Khát vọng phát triển đất nước hôm nay không phải viển vông, chủ quan duy ý chí như đã từng diễn ra trước đổi mới, mà được tính toán từ thực tiễn của đất nước với tiềm lực, cơ đồ đã có được ở một đất nước 100 triệu dân yêu nước và đoàn kết, ổn định về mọi mặt, có sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, sự quản lý, kiến tạo năng động của Nhà nước, Chính phủ, vì thế mang tính hiện thực. Phát triển nhanh, bền vững là khắc phục nguy cơ tụt hậu về kinh tế và sa vào bẫy thu nhập trung bình. Xây dựng nền kinh tế với đầy đủ đặc trưng, quy luật của kinh tế thị trường nhưng vẫn bảo đảm định hướng XHCN. Ngăn chặn và đẩy lùi tham nhũng là phá bỏ vật cản trên con đường phát triển. Trở thành nước phát triển không chỉ phát triển cao về kinh tế mà phải hoàn thiện hệ thống chính trị; phát triển văn hóa, con người; tạo dựng xã hội văn minh, hạnh phúc; có sức mạnh cần thiết về QP-AN. Bản chất của Đảng Cộng sản và chế độ XHCN là hòa bình, hữu nghị, bình đẳng, bảo đảm hội nhập quốc tế sâu rộng.

Độc lập, tự do, hòa bình, thống nhất, phồn vinh và hạnh phúc là khát vọng thiêng liêng của dân tộc Việt Nam suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước. Khát vọng đó được Đảng Cộng sản Việt Nam bồi đắp, phát triển đến đỉnh cao trong thời đại Hồ Chí Minh và không ngừng hiện thực hóa. Trong thời kỳ phát triển mới của đất nước theo đường hướng Đại hội XIII đã đề ra, có cơ sở để vững tin đất nước sẽ phát triển nhanh, bền vững, vì một Việt Nam hùng cường và Nhân dân ngày càng sung sướng, hạnh phúc. Tin ở trí tuệ, bản lĩnh và sức mạnh đoàn kết của cả dân tộc, của Đảng cầm quyền và Nhà nước pháp quyền XHCN thật sự của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân và tin ở xu thế hội nhập, đoàn kết, hợp tác giữa các quốc gia, dân tộc trên toàn thế giới...


Đọc thêm...

建立独立自主经济体系并提高融入国际经济体系效率

07:16 |

 

建立独立自主经济体系并提高提高融入国际经济体系效率是适合我国国情和时代发展趋势的正确主张。这是我党和政府一直关注的问题并载明在提交越共十三大的各文件草案中。

独立自主是指国家在牢固保卫主权、对内对外自决权和保卫国家利益,不受外来统治、干涉和强制性控制之中的能力。独立自主国家是指有权决定自己路线、发展模式、政治制度之选择以及经济、政治、文化、社会、国防安全、对外上独立自主的国家,其中经济上独立自主是牢固维护政治上独立自主并增强国独立自主的基本物质基础,依靠经济就不能拥有政治上独立自主。但是,建立独立自主经济体系并不意味闭关锁国的,与地区和世界分开出来,而反过来通过发挥内力与外力相结合的力量且符合每个特定历史时期的要求去实现。

建立独立自主和国际经济一体化的经济体系是我党的一贯观点,体现我党在新条件下创造性运用建立独立自主经济体系的主张。在领导经济发展过程中,尤其是落实全面革新路线,我党始终如一地创造性运用,符合坚持独立自主与扩大国际合作和对外关系多边化多元化相结合的主张。以依靠内力为主,与最大争取外力相结合,建立开放且融入地区和世界的经济体系。

《社会主义过渡时期的国家建设纲领》(2011年补充、发展案)已明确:“在国际融入日益深广的背景下建立越来越高的独立自主经济体系”12011-2020年阶段经济社会发展战略指出:“发挥内力和民族力量是决定要素的,同时争取外力和时代力量是关键要素的,以便可持续快速发展并建立独立自主经济体系”。处理好建立独立自主经济体系与积极主动融入国际之间的关系,以便凝聚成民族力量,其中,内力起着决定性作用,借助外力和时代因素起着重要作用。中央政治局于2013401日作出关于国际融入的22-NQ/TW号决议,其主张:以融入国际经济体系为重心,其他领域融入要为经济融入创造有利条件,同时为经济发展作出积极贡献。

2016年召开的越共十二大强调:“主动积极融入国际经济体系,国际经济关系多元化和多边化,将内力与外力有效结合,将融入国际经济体系与建立独立自主经济体系结合起来”2。越共十二届中央委员会于20161105日作出关于在越南参加新自由贸易协定背景下有效实现国际经济融入进程,维护政治社会稳定的06-NQ/TW号决议确定:增强经济体系的自主能力,扩大市场,争取更多资金、工艺、知识和管理经验,确保可持续快速发展。评估越共十二大决议关于融入国际经济体系的落实结果,提交越共十三大的政治报告草案中明确指出:融入国际经济体系在许多程度上有了更深广的发展,形式上多元化,签署了许多新双边、多边贸易协定,吸收外资金额不断增长,为经济增长作出积极贡献。“商品进出口总额增加3.6倍,从2010年的1,571亿美元增加到2019年的5,170亿美元,2020年受到新冠肺炎疫情的严重影响,全国商品进出口总额约达5,270亿美元,相当于国内生产总值(GDP)190%。出口额快速增长,从2010年的722亿美元增加到2020年的2670亿美元,年均增速约达14%,是经济增长的关键动力”3。这就是肯定我党关于建立独立自主经济体系并提高融入国际经济体系效率的正确、创造地一贯主张的有力证明。

预计在不久将来,全球化和国际一体化的趋势将继续发展下去,但要面对着民族主义的崛起,国际法律以及全球多边体制正面临着大挑战,世界经济因受新冠肺炎疫病的影响而陷入危机、严重衰退并很可能会延长,地区和世界各大国家对外政策的调整及其对外关系的变化错综复杂、难以预料。经过35年的革新开放,我国已取得了具有历史性意义的丰硕成就。但是经济体系仍存在着局限并有落伍危机,经济开放度高,对外来影响的抵抗力、适应力还不够强。在此背景下,提交越共十三大的政治报告草案确定:“建立独立自主经济体系,提高融入国际经济体系效率”4体现了我党新形势下建立独立自主经济体系的主张的一贯性、继承性、发展性和创造性运用。

建立独立自主和国际经济一体化的经济体系是把握和妥善处理“独立自主与国际融入之间”5关系中经济问题的重要内容之一的具体化。这是两个不同但有辩证关系的范畴,其中建立我国的独立自主经济体系及融入国际经济体系的最终目标都是一致的——都是为了国家和民族的利益。融入国际经济体系的目标就是为了发展国家经济,提高人民生活水平并在全球化、国际经济一体化的背景下建立独立自主经济体系;同时,建立独立自主经济体系是提高融入国际经济体系效率的保障基础条件。借此理论,我党已把“建立独立自主经济体系”、“提高融入国际经济体系效率”内容同一列入提交越共十三大的政治报告草案的“全面、同步完善体制,发展社会主义市场经济”第IV项中,此事是正确适合的,体现了我党在把握和妥善处理各大关系的一贯。为了做得好,未来一些年要继续贯彻并同步落实以下若干要求和措施:

一、在确定国家经济发展主张、路线和战略中坚持独立自主。这是头等重要问题,是革新开放35年多所积累的经验,是建立独立自主经济体系并提高融入国际经济体系效率的保证。

二、把越南各家企业强大发展成为国家经济的核心,保持各大平衡,重视经济安全保障,不断加强国家经济潜力,提高经济体系对外来负面影响的抵抗力。目前,“许多国有企业的生产经营效率较低,债务、亏本、浪费等状况仍较严重,大多数私人企业规模属小型的,工艺水平低,金融和治理能力差”6。因此,必须促进企业强大发展,保障好经济安全并不断加强国家经济潜力以及对外来负面影响的抵抗力。

三、国际经济关系多变化多元化,通过此事一边开掘各类市场的优势潜能,一边避免依赖一个市场、一个合作伙伴,尤其是该市场或该合作伙伴发生变化的情况下。

四、完善符合越南所签订的国际条约和国际承诺的法律体系。过去些年,实现革新开放和国际融入的政策,越南已签订并深广且全面地加入国际条约、承诺和新自由贸易协定。因此,为了提高融入国际经济体系效率,有利于建立独立自主经济体系,必须完善越南所签订的国际条约和国际承诺的法律体系。

五、通过适合我国每个阶段的条件和目标的灵活行程,以多种形式实现融入国际经济体系。融入国际经济体系包括不同程度和要求的多种形式,如优惠贸易协定、自由贸易区、关税同盟、共同市场、经济同盟等。因此,必须通过适合我国每个阶段的条件、能力和目标的灵活行程,以多种形式实现融入国际经济体系,为建立独立自主经济体系作出积极贡献。

六、加大干部培训培养工作力度,首先为直接从事融入国际经济体系工作的干部,使其能通晓法律、贸易、投资、文化、外语等,满足在国际环境中工作的要求,解决各种争端,维护国家民族利益。


Đọc thêm...

Xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ và nâng cao hiệu quả hội nhập kinh tế quốc tế

06:04 |

 

Xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ và nâng cao hiệu quả hội nhập kinh tế quốc tế là chủ trương đúng, phù hợp với thực tiễn đất nước và xu thế phát triển của thời đại. Đây là vấn đề luôn được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước ta và được xác định đầy đủ trong Dự thảo các Văn kiện trình Đại hội XIII của Đảng.

Độc lập, tự chủ là năng lực của quốc gia trong giữ vững chủ quyền và sự tự quyết về đối nội, đối ngoại, bảo vệ lợi ích quốc gia, không bị sự thống trị, lệ thuộc, chi phối mang tính cưỡng bức, áp đặt từ bên ngoài. Quốc gia độc lập, tự chủ là quốc gia có quyền quyết định việc lựa chọn con đường, mô hình phát triển, chế độ chính trị, độc lập, tự chủ cả về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại; trong đó, độc lập, tự chủ về kinh tế là nền tảng vật chất cơ bản để giữ vững độc lập, tự chủ về chính trị và tăng cường độc lập, tự chủ của quốc gia; không thể có độc lập, tự chủ về chính trị trong khi lệ thuộc về kinh tế. Tuy nhiên, xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ không có nghĩa là khép kín, tách bạch với khu vực và thế giới mà được thực hiện thông qua việc phát huy sức mạnh nội lực kết hợp với ngoại lực, phù hợp với yêu cầu trong mỗi giai đoạn lịch sử nhất định.

Xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ và hội nhập kinh tế quốc tế là quan điểm nhất quán, thể hiện sự vận dụng sáng tạo chủ trương xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ của Đảng trong điều kiện mới. Quá trình lãnh đạo phát triển kinh tế, nhất là từ khi thực hiện đường lối đổi mới toàn diện đất nước, Đảng ta luôn nhất quán, vận dụng sáng tạo, phù hợp chủ trương: giữ vững độc lập, tự chủ đi đôi với mở rộng hợp tác quốc tế, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại. Dựa vào nguồn lực trong nước là chính đi đôi với tranh thủ tối đa nguồn lực bên ngoài; xây dựng nền kinh tế mở, hội nhập với khu vực và thế giới.

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), xác định: “xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ ngày càng cao trong điều kiện hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng”1. Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020, nêu rõ: “Phát huy nội lực và sức mạnh dân tộc là yếu tố quyết định, đồng thời tranh thủ ngoại lực và sức mạnh thời đại là yếu tố quan trọng để phát triển nhanh, bền vững và xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ”. Giải quyết mối quan hệ giữa xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ và tích cực, chủ động hội nhập nhằm tạo dựng sức mạnh dân tộc; trong đó, nội lực là quyết định; tranh thủ yếu tố ngoại lực và thời đại có vai trò quan trọng. Nghị quyết số 22-NQ/TW, ngày 01/4/2013 của Bộ Chính trị (khóa XI) về hội nhập quốc tế, chủ trương: hội nhập kinh tế quốc tế là trọng tâm, hội nhập trong các lĩnh vực khác phải tạo thuận lợi cho hội nhập kinh tế và góp phần tích cực vào phát triển kinh tế.

Đại hội XII (năm 2016), xác định: “chủ động, tích cực hội nhập kinh tế quốc tế; đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ kinh tế quốc tế,… kết hợp hiệu quả ngoại lực và nội lực, gắn hội nhập kinh tế quốc tế với xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ”2. Nghị quyết số 06-NQ/TW, ngày 05/11/2016 của Ban Chấp hành Trung ương (khóa XII) về thực hiện có hiệu quả tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, giữ vững ổn định chính trị - xã hội trong bối cảnh nước ta tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, chủ trương: tăng cường khả năng tự chủ của nền kinh tế, mở rộng thị trường, tranh thủ thêm vốn, công nghệ, tri thức, kinh nghiệm quản lý, bảo đảm phát triển nhanh và bền vững. Đánh giá kết quả thực hiện Nghị quyết Đại hội XII về hội nhập kinh tế quốc tế, Dự thảo Báo cáo Chính trị trình Đại hội XIII của Đảng chỉ rõ: hội nhập kinh tế quốc tế phát triển sâu, rộng trên nhiều cấp độ, đa dạng về hình thức, ký kết nhiều hiệp định thương mại song phương, đa phương thế hệ mới; xuất, nhập khẩu, thu hút vốn đầu tư nước ngoài tăng mạnh, đóng góp tích cực vào tăng trưởng kinh tế. “Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa tăng 3,6 lần, từ 157,1 tỷ USD năm 2010 lên 517 tỷ USD năm 2019, năm 2020 do ảnh hưởng nặng nề của dịch Covid-19 đạt khoảng 527 tỷ USD, tương đương trên 190% GDP. Xuất khẩu tăng nhanh, từ 72,2 tỷ USD năm 2010 lên khoảng 267 tỷ USD năm 2020, tăng bình quân khoảng 14% năm, là động lực quan trọng cho tăng trưởng kinh tế”3, v.v. Đó là minh chứng khẳng định chủ trương nhất quán, đúng đắn, sáng tạo của Đảng về xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với nâng cao hiệu quả hội nhập kinh tế quốc tế.

Thời gian tới, dự báo toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế tiếp tục tiến triển, nhưng đang phải đối mặt với sự trỗi dậy của chủ nghĩa dân tộc; luật pháp quốc tế và các thể chế đa phương toàn cầu đứng trước những thách thức lớn; kinh tế thế giới lâm vào khủng hoảng, suy thoái nghiêm trọng và có thể còn kéo dài do tác động của đại dịch Covid-19; sự điều chỉnh chính sách, quan hệ đối ngoại của các nước lớn trong khu vực và trên thế giới diễn biến khó đoán định. Sau 35 năm đổi mới, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Tuy nhiên, nền kinh tế vẫn còn những hạn chế và nguy cơ tụt hậu; độ mở cửa nền kinh tế cao, khả năng chống chịu, thích ứng với tác động bên ngoài còn mức độ, v.v. Trong bối cảnh đó, Dự thảo Báo cáo Chính trị trình Đại hội XIII của Đảng, xác định: “Xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ; nâng cao hiệu quả hội nhập kinh tế quốc tế”4, thể hiện sự nhất quán, kế thừa, phát triển, vận dụng sáng tạo chủ trương xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ của Đảng, phù hợp với tình hình mới.

Xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ và hội nhập kinh tế quốc tế là sự cụ thể hóa việc nắm vững và xử lý một trong những nội dung quan trọng là kinh tế trong mối quan hệ “giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế”5. Đây là hai phạm trù khác nhau, nhưng có mối quan hệ biện chứng; trong đó, xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ và hội nhập kinh tế quốc tế của đất nước đều thống nhất với nhau ở mục tiêu cuối cùng là vì lợi ích của quốc gia - dân tộc. Mục tiêu của hội nhập kinh tế quốc tế là nhằm phát triển kinh tế đất nước, nâng cao đời sống nhân dân và để xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế; đồng thời, xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ là cơ sở, điều kiện bảo đảm cho nâng cao hiệu quả hội nhập kinh tế quốc tế. Với lẽ đó, Đảng ta đã đưa nội dung “Xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ”; “nâng cao hiệu quả hội nhập kinh tế quốc tế” trong cùng Mục IV: “Hoàn thiện toàn diện, đồng bộ thể chế, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” của Dự thảo Báo cáo Chính trị trình Đại hội XIII là đúng đắn, phù hợp, thể hiện sự nhất quán của Đảng trong nắm vững và xử lý các quan hệ lớn. Để thực hiện tốt, trong những năm tới, cần tiếp tục quán triệt và thực hiện đồng bộ một số yêu cầu và giải pháp trọng tâm sau:

1. Giữ vững độc lập, tự chủ trong việc xác định chủ trương, đường lối, chiến lược phát triển kinh tế đất nước. Đây là vấn đề quan trọng hàng đầu, bài học kinh nghiệm qua hơn 35 năm đổi mới, bảo đảm cho xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ và nâng cao hiệu quả hội nhập kinh tế quốc tế.

2. Phát triển doanh nghiệp Việt Nam lớn mạnh trở thành nòng cốt của kinh tế đất nước; giữ vững các cân đối lớn, chú trọng bảo đảm an ninh kinh tế; không ngừng tăng cường tiềm lực kinh tế quốc gia; nâng cao khả năng chống chịu của nền kinh tế trước tác động tiêu cực từ những biến động của bên ngoài. Hiện nay, “Nhiều doanh nghiệp nhà nước… hiệu quả sản xuất, kinh doanh còn thấp; tình trạng nợ, thua lỗ, lãng phí còn lớn… Phần lớn doanh nghiệp tư nhân có quy mô nhỏ, trình độ công nghệ thấp, năng lực tài chính và quản trị yếu”6. Vì vậy, cần phải thúc đẩy doanh nghiệp phát triển lớn mạnh, bảo đảm tốt an ninh kinh tế và không ngừng tăng cường tiềm lực kinh tế quốc gia, khả năng chống chịu trước tác động tiêu cực từ bên ngoài.

3. Đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ kinh tế quốc tế, qua đó, vừa khai thác tiềm năng, lợi thế của các thị trường, vừa tránh lệ thuộc vào một thị trường, một đối tác, nhất là khi thị trường hay đối tác đó có sự biến động.

4. Hoàn thiện hệ thống pháp luật phù hợp với những điều ước quốc tế và cam kết quốc tế mà Việt Nam đã ký kết. Những năm qua, thực hiện chính sách đổi mới, mở cửa và hội nhập quốc tế, Việt Nam đã ký kết, tham gia nhiều điều ước, cam kết quốc tế và các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới với những cam kết sâu rộng, toàn diện. Bởi vậy, để nâng cao hiệu quả hội nhập kinh tế quốc tế, góp phần xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, cần phải hoàn thiện hệ thống pháp luật phù hợp với những điều ước quốc tế và cam kết quốc tế mà Việt Nam đã ký kết.

5. Thực hiện nhiều hình thức hội nhập kinh tế quốc tế với các lộ trình linh hoạt, phù hợp với điều kiện, mục tiêu của đất nước từng giai đoạn. Hội nhập kinh tế quốc tế bao gồm nhiều hình thức với mức độ và yêu cầu khác nhau, như: thỏa thuận thương mại ưu đãi, khu vực thương mại tự do, liên minh thuế quan, thị trường chung, liên minh kinh tế, v.v. Vì vậy, cần phải thực hiện nhiều hình thức với các lộ trình linh hoạt, phù hợp với điều kiện, khả năng và mục tiêu của đất nước từng giai đoạn, góp phần tích cực xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ.

6. Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, trước hết là cán bộ trực tiếp làm công tác hội nhập kinh tế quốc tế, am hiểu sâu về luật pháp, thương mại, đầu tư, văn hóa, ngoại ngữ,… đáp ứng yêu cầu làm việc trong môi trường quốc tế, giải quyết các tranh chấp, bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc.


Đọc thêm...

推动国家繁荣幸福发展

01:12 |

 

越南共产党第十三次全国代表大会在我国拥有前所未有的当前宏图、潜力、国际地位及信威的背景下召开。

越共十三大的重要亮点之一就是进一步明确推动国家繁荣和幸福发展的目标,力争到二十一世纪中叶将越南建设成为社会主义定向发达国家。具体是,到2025年发展成为现代工业的发展中国家,超过中等偏下收入国家水平;2030年成为现代工业的发展中国家,达到中等偏上收入国家水平;2045年成为高收入发达国家。

鉴于对每个征程所提出的具体任务目标,大会的各项文件草案为2021-2030年国家发展战略以及各项核心任务、主要措施指明方向,旨在将我国步入新发展阶段。其中,值得注意的是继续大力革新思维,建设及同步完善有关经济、政治、文化、社会、环保的可持续发展体制;完善全面、同步的社会主义定向市场经济发展体制;大力革新增长模式,促进经济结构重组,促进国家工业化现代化;注重革新创新,加大国家数字化转型,促进数字经济、数字社会发展等。

经济专家称,为落实上述目标,要继续进一步明确遵循市场规律运行和保障社会主义定向之间的关系;国家、市场与社会之间的关系。那就是以改革、提升社会主义定向市场经济体制质量、有效执法等为推动国家发展的重要动力。市场在有效调动、分配和使用各种生产资源,特别是土地资源起着主导作用。从而出台具体措施:继续充分、同步、现代、融入、稳定、具体和透明地完善和提升法律制度质量。增强执法机构的效率和效力,保障严格执法。充分同步发展生产要素市场,特别是土地使用权、科学、技术市场。充分保障经营活动中的自由权和安全;根据市场的原则有效调集和使用各种资源。强烈有效实施行政改革,取消限制经营自由权的壁垒,改善和提升营商环境质量,保障健康、平等、透明竞争。

经济专家相信,明确各要求和提出全面、同步完善社会主义定向市场经济发展制度的措施对越南今后发展阶段具有重要意义,因为这一过程将会通过有效分配资源机制等促进和提升增长质量。

面对由第四次工业革命带来的巨大机会,越共十三大文件草案特别强调力推科学技术进步与革新创新研究、转让和应用任务,让科学技术真正成为经济增长的主要动力。强有力促进国家数字化转型,发展数字经济和数字社会,旨在提升经济体的生产率、质量、效益和竞争力。这就是思维上的巨大变化,为越南新的增长动力奠定基础,有助于缩小与本地区和世界各国的发展差距。

实行革新35周年,我国取得了富有历史意义的巨大成就。我国的“势”与“力”更加强大;经济体的规模、潜力和竞争力得以提升;经济体的自主性得到改善。为完成既定目标,越南要为2021-2030年阶段建立坚实基础和激发推动国家繁荣幸福发展的精神、意志和决心。越共十三大标志着开辟全党、全民、全军不仅未来五年乃至国家和民族的长期愿景的新发展阶段的重要里程碑。越共十三大的成功将会进一步巩固人民对党和国家的信心,是越南走向繁荣昌盛的最重要动力。

Đọc thêm...

Khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc

00:30 |

Một trong những điểm nhấn quan trọng của Đại hội XIII là xác định rõ hơn mục tiêu phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc với tầm nhìn: Đến giữa thế kỷ XXI, phấn đấu đưa Việt Nam trở thành nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Cụ thể, đến năm 2025 là nước đang phát triển có công nghiệp theo hướng hiện đại, vượt qua mức thu nhập trung bình thấp. Đến năm 2030 là nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao và trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045.

Từ mục tiêu và nhiệm vụ cụ thể đặt ra cho mỗi chặng đường, các dự thảo văn kiện Đại hội cụ thể hóa các định hướng chiến lược phát triển đất nước trong thời kỳ 2021 - 2030 cùng các nhiệm vụ trọng tâm và giải pháp chủ yếu nhằm đưa đất nước ta bước vào một giai đoạn phát triển mới. Trong đó đáng chú ý là tiếp tục đổi mới mạnh mẽ tư duy, xây dựng, hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển bền vững về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, môi trường...; hoàn thiện toàn diện, đồng bộ thể chế phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; đổi mới mạnh mẽ mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; chú trọng đổi mới sáng tạo, đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia, phát triển nền kinh tế số, xã hội số...

Theo các chuyên gia kinh tế, để thực hiện các định hướng nêu trên, cần tiếp tục xác định rõ, chuẩn xác hơn mối quan hệ giữa tuân theo các quy luật thị trường và bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa; giữa Nhà nước, thị trường và xã hội. Đó là: Lấy cải cách, nâng cao chất lượng thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đầy đủ, đồng bộ, hiện đại, hội nhập và thực thi pháp luật hiệu lực, hiệu quả là điều kiện tiên quyết để thúc đẩy phát triển đất nước. Thị trường đóng vai trò chủ yếu trong huy động, phân bổ và sử dụng hiệu quả các nguồn lực sản xuất, nhất là đất đai. Từ đó đề ra giải pháp cụ thể: Tiếp tục hoàn thiện và nâng cao chất lượng thể chế, pháp luật đầy đủ, đồng bộ, hiện đại, hội nhập, ổn định, cụ thể và minh bạch. Tăng cường hiệu lực, hiệu quả các thiết chế thi hành pháp luật, bảo đảm chấp hành pháp luật nghiêm minh. Phát triển đầy đủ và đồng bộ thị trường các yếu tố sản xuất, nhất là các thị trường quyền sử dụng đất, khoa học, công nghệ. Bảo đảm đầy đủ quyền tự do, an toàn trong hoạt động kinh doanh; huy động, phân bổ, sử dụng hiệu quả các nguồn lực theo nguyên tắc thị trường. Cải cách quyết liệt, hiệu quả thủ tục hành chính, bãi bỏ các rào cản hạn chế quyền tự do kinh doanh, cải thiện và nâng cao chất lượng môi trường kinh doanh, bảo đảm cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng, minh bạch…

Các chuyên gia kinh tế tin tưởng, việc xác định rõ yêu cầu và đề ra các giải pháp hoàn thiện toàn diện, đồng bộ thể chế phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với Việt Nam trong giai đoạn phát triển tiếp theo, bởi quá trình này sẽ thúc đẩy và nâng cao chất lượng tăng trưởng qua cơ chế phân bổ nguồn lực hiệu quả.

Trước những cơ hội lớn do cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư đem lại, các dự thảo văn kiện Đại hội XIII đặc biệt nhấn mạnh đến nhiệm vụ đẩy mạnh nghiên cứu, chuyển giao, ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo, để khoa học và công nghệ thật sự là động lực chính của tăng trưởng kinh tế. Thúc đẩy mạnh mẽ chuyển đổi số quốc gia, phát triển kinh tế số, xã hội số nhằm tạo bứt phá về nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế. Đây chính là sự thay đổi lớn về tư duy, tạo cú huých cho Việt Nam có động lực tăng trưởng mới, góp phần thu hẹp khoảng cách với các nước trong khu vực và trên thế giới.

Sau 35 năm đổi mới, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Thế và lực của nước ta đã lớn mạnh hơn nhiều; quy mô, tiềm lực, sức cạnh tranh của nền kinh tế được nâng lên; tính tự chủ của nền kinh tế được cải thiện... Để đạt được những mục tiêu to lớn đề ra, Việt Nam cần xây dựng được nền tảng vững chắc trong giai đoạn 2021-2030 và khơi dậy tinh thần, ý chí, quyết tâm phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng ghi dấu mốc quan trọng, mở ra thời kỳ phát triển mới của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta không chỉ trong nhiệm kỳ 5 năm tới mà còn cho tầm nhìn dài hạn của đất nước, của dân tộc. Thành công của Đại hội sẽ càng củng cố hơn nữa niềm tin của nhân dân vào Đảng và Nhà nước, là động lực quan trọng nhất để Việt Nam đi tới thịnh vượng.

Đọc thêm...

Hot (焦点)