人权不可脱离国家主权

16:11 |
在全球化的今天,人权成为世界各国极其关注的问题。利用这个问题、敌对力量促进破坏党和社会主义制度的活动。他们的论调是 “人权高于国家主权”。事实真如此吗?
在人权方面打击我国是敌对力量的核心手段。不过,我们要清醒地认出一个事实,敌对力量的数量不断增加其成分和对象不断变化。其包括受到外国的“接力”、政治、经济上的协助的国外非政府组织(NGOs),如:自由之家 (FH),国际特赦组织 (AI), 无国界记者组织(RFS), 保护记者委员会(CPJ) 人权观察组织 (HRW)等。此外,有些来自加拿大、德国、澳大利亚、欧洲议会的反共参议员,还有国外流亡反动组织、分子以及丰富多彩的机会主义者,非法网站、打击共产党脸书账户等等。他们的手段不外乎利用民主、人权等问题,通过所谓常年报告来曲解、歪曲事实。要提到一个事实,他们不断跟踪越南的情况,对越南刑法第88 “打击越南社会主义共和国的宣传” 被逮捕的罪名特别敏感,抗拒国家人员实施职责,捣乱治安秩序。通过这些行为,他们 “号召” 越南政府要释放所有“良心囚犯”,指责越南当局随便抓人。他们重复论调,说:“越南有独裁的制度,有着极权主义”; 越南国家“严重侵犯人权”,特别是言论自由、新闻自由、因特网等自由权利,因为这是人原有的权利”。
不仅如此,他们还故意错误地引用2013年越南宪法关于人权和公民权力与义务的第二章来为违反法律的行为做辩护。有不少这类的“政治家”, “学者”用一些不完整的文章做根据,说:“人权高于主权”,“人全是没有国界的” 等等。有上述的论点,他们鼓励不符合越南法律的行为,为外国组织提供干涉越南内部的理由,国内极端分子与国外反动组织紧密配合。列如,最近美国右翼势力对越南在政治上施加压力,要求对越南实施制裁。他们的理由是越南违反人权。这个法规是“马格尼茨基:对全球人权的责任”,2017年美国的 “国防预算”(NDAA)” S.2943条。
那么,上述的言行符合于国际社会对人权的普遍看法?这些论调政治含义的本质是什么?
首先,要提到国际社会对人权问题普遍看法是什么?从历史上看,基于最重要、最普遍的的文档,至今, 关于人权的专家、学者已经提及下列文件:英国《权利法案》(1689年); 美国《独立宣言》(1776年)和《权利法案》(1789年)”;法国《人权和公民权宣言》(1789年)。1945年联合国宪章; 1948年世界人权宣言,1948年联合国通过国际人权公约。其中,有两个基本的公约,是:1966年《公民权利和政治权利国际公约》和《经济、社会及文化权利国际公约》。上述两条公约和人权的际宣言被国际社会看做《国际人权法》。
据此,人权概念含有两个基本内容。在哲学-人文方面,人全是个价值,包括(1)人品:是物质方面的条件,如吃、住等 和请神生活,如按照法律法规人格受到尊重;(2 自由:可以理解为能够做法律不禁止。(3)平等:每个人都有平等的权利,不分性别,种族,社会地位,财产等的(4)人道主义精神、宽容。(5)每个人对社区的责任:可以理解为,享有各个权利的同时,每个人都应当受到一定的限制,目的是“维持社会安全、秩序、身体健康或保证其他人的基本自由权利”(1966年公民权利和政治权利国际公约中的第1819条第3款)。因此,绝对没有人权 (个人权利)高于主权的说法;更没有任何人可以做任何而“忘记”社会责任。换句话说,人权无论在哪里,在哪种社会模式也必须是遵守国家法律,不得损害社会其他人的权利,权益和利益。
作为一个法律价值,人权是法律规定(在国家法律和国际法),目的为保护和确保人的人格和尊严以及人在物质和精神上的需要, 同时每个人都要对社会有义务和责任。因此,这个观点指出:人民是“权利”的主体,国家要尊重“权利”。应该指出的是,按照联合国的基本文件,人权概念不仅是个人的权利,还是国家、民族和集体的,特别是属于弱势社会群体。关于国家和民族的权利,根据1966年公民权利和政治权利国际公约第1条(第一部分)所规定:“所有的民族都有自决权,出于该权利,各个民族都有自由决定其政治、经济、社会和文化制度和发展道路”。这一规定假设:任何国家都享有建立政权和法律制度的权利,任何人、任何一个国家甚至联合国也没有有进行干预的权利。关于自决的权利,在维也纳(奥地利)于1993年国际人权会议重申:“民族自决的拒绝是对人权的侵犯”。在这次会议上,各成员国首次同意作出的人权“专一”的概念。该文件说:“国际社会必须全面看待人权以公平的方式,...(和)必须永远记住的民族特征,地域特点的重要性以及历史、文化和宗教的不同情况;各国不论政治制度、经济、文化……。这是各国之间的人权分歧的哲学- 政治依据。这意味着,不应该按照一个特定国家的标准来评估其他国家的法律。
关于集体权利和弱势群体的权利,根据国际社会的普遍观念,人权还包括“开发权”。因此,每一个人,每一个民族都有贡献,并享受经济、社会、文化和政治发展之成果的权利,所有人权和自由需要得到充分实施。社会团体的权利弱势群体,包括:儿童(1989年儿童权利公约)、女性(1979年消除对女性一切歧视公约(CEDAW)、残疾人(2007年残疾人权利国际公约)。理论和实践上,确保这些人的权利必须根据国家的政策和法律。越南已经签署并批准上述三个公约。因此,“人权高于主权”、“人权无国界”的论点若不出于政治动机也是对人权的幼稚认识。
其次, “人权高于主权”,“人权无国界”等论证的政治性质是什么?敌对势力、机会主义者、思想蜕化者认为:(1)在国内,他们制造精神、法律和道义上的支持,鼓动个人和组织(包括网络上的虚拟组织)继续违反法律采取行动,破坏国家安全和扰乱公共秩序,条件具备时将制造暴乱颠覆推翻政权;同时,诬告我党的领导为“独裁,极权主义”、“非人权”等(2)。在海外,他们利用上述论点,鼓吹越南海外人群尤其是带有仇恨的背叛者破坏党和国家的团结政策。
第三,党和国家对国家主权和人权之间的关系看法如何?早在1930年党的第一纲领(简要纲领和简要策略)我党确定了越南革命的目标是为了争取民族独立,解放社会,给人民带来公民权利。革新时代,19927月,(第七届)越共中央书记处下达了12-CT/ TW号的指示:“人权是人类普遍的价值观。这是劳动人民对压迫和剥削长期斗争的成果。这也是民族解放、阶级解放的成果。只有在民族独立和社会主义的前提下,人权才能够得到最普遍、最全面、最充分的保证”。继承关于人权的纲领和观点,2011年的纲领已经把民主制度的价值和公民的权利与义务联合在一起。其中目标为建设一个 “民富、国强、民主、公平、文明”、由人民做主,人民能够享受一个温饱、自由、幸福生活,人民能够有机会全面发展,有一个由人民,为人民,由党领导的依法治国的社会主义国家,与世界各国有着友好合作关系的社会”。
与上述的观点一致,在党的领导下,我国早就参与签署关于人权的国际公约。1982年,越南签署了两个基本的国际公约:(1)“公民权利和政治权利国际公约”;(2)“经济、社会及文化权利国际公约”。至今,越南已经参与有关人权的所以国际公约。所以,对我们党来说,人权和社会制度紧密相连;民族独立是人权的前提。党十二大进一步肯定:把国家、民族的利益放在“至高无上”的地位。这一观点是越南与其他国家和包括联合国在内的国际组织建设关系的依据。至今,越南已与180多个国家和地区,包括联合国安理会常任理事国五个成员国建立外交关系。双边关系中,双方都确认一个原则:尊重联合国宪章和相互尊重政治制度;相互尊重各自国家政策、包括人权在内的法律。
可以肯定:对我党和国家来说,人权与民主制度一道而行,在建国卫国事业中,人权既是目标,又是动力。尊重和保障人权是我国家的责任同时也是权利。所以没有国内外敌对势力、机会主义者正在宣传的所谓“人权高于主权”,“无国界的人权”之类的说法。
Đọc thêm...

Nhân quyền nằm ngoài chủ quyền quốc gia - dân tộc?

16:08 |
Trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay, quyền con người đang là vấn đề được các nước hết sức quan tâm. Lợi dụng vấn đề này, các lực lượng thù địch với Việt Nam đẩy mạnh chống phá Đảng và chế độ ta. Chúng rêu rao rằng, “Quyền con người cao hơn chủ quyền quốc gia”. Sự thực có phải như vậy?
Chống phá nước ta về nhân quyền là một nội dung trọng tâm của các thế lực thù địch. Có điều, chúng ta cần thấy, lực lượng tham gia vào chiến dịch chống phá ta hiện nay có sự thay đổi theo hướng mở rộng về số lượng, thành phần, đối tượng. Đó là gồm các tổ chức phi chính phủ (“NGOS”) ở nước ngoài được các quốc gia “hà hơi tiếp sức”, hỗ trợ về chính trị, cung cấp tài chính,… như: tổ chức Nhà tự do (FH), Ân xá quốc tế (AI), Phóng viên không biên giới (RSF), Ủy ban bảo vệ nhà báo (CPJ), Tổ chức theo dõi nhân quyền (HRW),... ngoài ra, còn có một số nghị sĩ chống cộng ở Nghị viện châu Âu, Ca-na-đa, Cộng hòa liên bang Đức, Ô-xtrây-li-a, các tổ chức, phần tử phản động người Việt lưu vong ở nước ngoài và cả những kẻ cơ hội nhiều mầu sắc - chủ nhân nhiều trang mạng phi pháp, các tài khoản Facebook chống cộng, v.v. Thủ đoạn chính của họ vẫn là lợi dụng vấn đề dân chủ và quyền con người, thông qua cái gọi là các Báo cáo thường niên (hay “Phúc trình thường niên”) để xuyên tạc, vu cáo, bôi nhọ Nhà nước Việt Nam. Phải nói rằng, họ theo dõi rất sát tình hình Việt Nam và đặc biệt nhạy cảm đối với các vụ việc Nhà nước ta bắt giữ các đối tượng về tội “Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” (theo Điều 88 Bộ luật Hình sự), chống người thi hành công vụ, gây mất trật tự trị an. Qua đó, họ “kêu gọi” Việt Nam thả hết các “tù nhân lương tâm”, “lên án” cơ quan chức năng bắt người vô lối, sai quy định. Họ nhai đi nhai lại kiểu lập luận cũ rích, rằng: “Chế độ Việt Nam là chế độ độc tài, toàn trị”; Nhà nước “Việt Nam đã vi phạm nghiêm trọng các quyền con người”, nhất là quyền tự do ngôn luận, báo chí, tự do in-tơ-nét,… là quyền “vốn có” của tất cả mọi người”(!)?
Không những thế, họ còn viện dẫn một cách sai lệch các quy định tại Chương II - Quyền con người, quyền và nghĩa vụ công dân của Hiến pháp Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 để bao che, biện hộ cho những hành vi vi phạm pháp luật. Không ít nhà “chính trị”, “học giả” tự phong dựa trên một số câu chữ đã bị cắt xén, lập luận rằng: “Quyền con người cao hơn chủ quyền (quốc gia)”, “Quyền con người không biên giới”, v.v. Với lập luận đó, họ khuyến khích những hành động bất hợp pháp, tạo cớ cho các tổ chức nước ngoài can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam theo kiểu “kẻ tung, người hứng” giữa những lực lượng cực đoan, tổ chức phản động ở nước ngoài với những kẻ tự gọi là “người bất đồng chính kiến” trong nước. Chẳng hạn gần đây, lực lượng cực hữu ở Hoa Kỳ gây sức ép về chính trị, ra Luật áp đặt chế tài lên chính phủ nước họ, đồng thời áp đặt cho nước khác, trong đó có Việt Nam, với lý do vi phạm các quyền con người. Đó là Điều luật “Chịu trách nhiệm về nhân quyền toàn cầu Magnitsky Luật S.2943, trong “Luật Chuẩn chi ngân sách Quốc phòng năm 2017” của Hoa Kỳ (NDAA) 2017.
Vậy những việc làm và lập luận trên của họ có phù hợp với nhận thức chung của cộng đồng quốc tế về quyền con người không? Bản chất chính trị của những lập luận đó là gì?
Trước hết, nhận thức chung của cộng đồng quốc tế về quyền con người như thế nào? Về mặt lịch sử, dựa trên những văn kiện quan trọng, phổ cập nhất, đến nay các chuyên gia, học giả về quyền con người thường đề cập tới những văn kiện sau: “Bộ luật về quyền” (1689) của Anh; “Tuyên ngôn độc lập (1776) và Bộ luật về các quyền (1789) của Mỹ”, “Tuyên ngôn về “nhân quyền” (các quyền con người) và “dân quyền” (của công dân 1789) của Pháp; Hiến chương Liên hợp quốc, năm 1945; Tuyên ngôn thế giới về quyền con người, năm 1948 và các công ước quốc tế về quyền con người được Liên hợp quốc thông qua. Trong đó, có 2 công ước cơ bản, là: “Công ước quốc tế về các quyền Dân sự, Chính trị” và “Công ước quốc tế về các quyền Kinh tế, Xã hội và Văn hóa”, năm 1966. Hai công ước trên cùng với Tuyên ngôn thế giới về quyền con người được cộng đồng quốc tế xem là “Bộ luật nhân quyền quốc tế”.
Theo đó, khái niệm quyền con người có hai nội dung cơ bản. Với tư cách là một giá trị triết học - nhân văn, quyền con người là một giá trị, gồm: (1). Nhân phẩm: được hiểu là những điều kiện về vật chất (ăn, ở, …) và tinh thần (được thừa nhận tư cách là một con người có các quyền theo quy định pháp luật,…). (2). Tự do: được hiểu là mọi người có quyền làm mọi điều mà pháp luật không cấm,…). (3). Bình đẳng: là mọi người có quyền như nhau, không phân biệt về giới tính, chủng tộc, vị thế xã hội, tài sản, v.v. (4). Tinh thần nhân đạo, khoan dung. (5). Trách nhiệm xã hội của mỗi người với cộng đồng: được hiểu là trong khi hưởng thụ các quyền, tất cả mọi người đều phải chịu sự hạn chế nhất định, nhằm: “Bảo vệ an ninh, trật tự công cộng, sức khoẻ hoặc đạo đức xã hội, hoặc để bảo vệ các quyền và tự do cơ bản của người khác” (Khoản 3, Điều 18, 19 - Công ước quốc tế về các quyền Dân sự, Chính trị, năm 1966). Như vậy, hoàn toàn không có chuyện quyền con người (quyền cá nhân) cao hơn chủ quyền; không có chuyện cá nhân có thể làm bất cứ điều gì mà có thể “quên” đi trách nhiệm xã hội. Nói cách khác, quyền con người ở đâu, quốc gia nào, chế độ xã hội nào cũng phải nằm trong khuôn khổ của pháp luật quốc gia, không được xâm hại đến quyền của xã hội, quyền và lợi ích của người khác.
Với tư cách là một giá trị pháp lý, quyền con người là các quy định pháp luật (trong luật quốc gia và luật quốc tế) bảo vệ và bảo đảm nhân phẩm, các nhu cầu và lợi ích về vật chất, tinh thần của tất cả mọi người, đồng thời mỗi người phải có nghĩa vụ đối với nhà nước và xã hội. Như vậy, quan niệm này chỉ rõ: người dân là chủ thể của “quyền”, nhà nước là người tôn trọng và chịu trách nhiệm bảo vệ và bảo đảm “quyền”. Cần lưu ý rằng, theo các văn kiện cơ bản của Liên hợp quốc, khái niệm quyền con người không chỉ là quyền của cá nhân, mà còn là quyền của quốc gia, dân tộc và quyền của tập thể - quyền của nhóm, đặc biệt là những nhóm xã hội dễ bị tổn thương. Về quyền quốc gia dân tộc, Điều 1, (Phần I), Công ước quốc tế về các quyền Dân sự, Chính trị năm 1966, quy định rằng: “Mọi dân tộc đều có quyền tự quyết. Xuất phát từ quyền đó, các dân tộc tự do quyết định thể chế chính trị của mình và tự do phát triển kinh tế, xã hội và văn hoá,…”. Quy định này mặc định rằng: bất cứ một quốc gia, nhà nước nào, đều có quyền xây dựng chế độ chính trị, hệ thống pháp luật mà không có bất cứ ai, quốc gia nào, thậm chí cả Liên hợp quốc cũng không có quyền can thiệp. Về quyền dân tộc tự quyết, Hội nghị nhân quyền quốc tế ở Viên (Áo) năm 1993 đã tái khẳng định: “Việc khước từ quyền tự quyết dân tộc là sự vi phạm quyền con người”1. Tại Hội nghị này, lần đầu tiên các thành viên đã thống nhất đưa ra khái niệm “tính đặc thù” của quyền con người. Văn kiện viết: “Cộng đồng quốc tế phải đối xử với các quyền con người trên phạm vi toàn cầu một cách công bằng,...(và) phải luôn ghi nhớ tầm quan trọng của tính đặc thù về dân tộc, khu vực cũng như bối cảnh khác nhau về lịch sử, văn hoá và tôn giáo; các quốc gia, không phân biệt hệ thống chính trị, kinh tế, văn hoá,...”2. Đây là cơ sở triết học - chính trị về sự khác biệt về quyền con người giữa các quốc gia - dân tộc. Điều này có nghĩa, không một ai được xem pháp luật của một quốc gia nào đó làm chuẩn mực để đánh giá, phê phán pháp luật nước khác là “không phù hợp với chuẩn mực nhân quyền quốc tế”, là “vi phạm nhân quyền”(!)
Về quyền tập thể và quyền của “nhóm xã hội” dễ bị tổn thương, theo quan niệm chung của cộng đồng quốc tế, quyền con người còn bao gồm “Quyền phát triển”. Theo đó, mọi người và mọi dân tộc đều có quyền được tham gia đóng góp và hưởng thụ thành quả từ sự phát triển về kinh tế, xã hội, văn hóa và chính trị, trong đó mọi quyền con người và các tự do cơ bản cần phải được thực hiện một cách đầy đủ. Quyền của nhóm xã hội dễ bị tổn thương, gồm: Trẻ em (Công ước về quyền trẻ em, 1989); Nữ giới (Công ước Xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử đối với phụ nữ, 1979 (CEDAW); Người khuyết tật (Công ước về người khuyết tật, 2007). Về lý luận cũng như thực tiễn, việc bảo đảm quyền của những người trong nhóm xã hội này tất yếu phải tùy thuộc vào chính sách, pháp luật của nhà nước. Cả 3 công ước nói trên, Việt Nam đã ký kết và phê chuẩn. Như vậy, luận điểm “Quyền con người cao hơn chủ quyền”, “Quyền con người không có biên giới”, nếu như không xuất phát từ động cơ chính trị xấu thì cũng là những nhận thức ấu trĩ về quyền con người.
Thứ hai, bản chất chính trị của những lập luận “Nhân quyền cao hơn chủ quyền”, “Nhân quyền không biên giới” là gì ? Lập luận mà các thế lực thù địch, những kẻ cơ hội, thoái hóa về tư tưởng, chính trị đang rao giảng, tuyên truyền nhằm: (1). Ở trong nước, chúng tạo chỗ dựa tinh thần - lý luận, pháp lý,… để cổ vũ cho các cá nhân, tổ chức (kể cả tổ chức ảo trên mạng) tiếp tục những hành động trái pháp luật, phá hoại an ninh quốc gia, gây rối trật tự công cộng, nếu có điều kiện sẽ gây bạo loạn lật đổ chế độ; đồng thời, vu cáo sự lãnh đạo của Đảng ta là “chế độ độc tài, đảng trị”, “phi nhân quyền”. (2). Ở nước ngoài, chúng lợi dụng lập luận nói trên để cổ vũ cộng đồng người Việt, nhất là những kẻ phản bội Tổ quốc, hận thù với cách mạng, phá hoại chính sách đại đoàn kết của Đảng và Nhà nước ta. Điển hình là Nghị sĩ Hoa Kỳ gốc Việt (bang California) Janet Nguyễn đã “viết thư cho Tổng thống Hoa Kỳ” xuyên tạc cuộc kháng chiến của nhân dân ta chống thực dân, đế quốc xâm lược, hòng gây áp lực với Chính phủ Mỹ hạn chế quan hệ với Việt Nam vì lý do “nhân quyền”. Phát biểu trong cuộc họp của Thượng viện bang California (tháng 2-2017), bà nghị “ngoại nhập” này đã xúc phạm cố Thượng nghị sĩ Tom Hayden và bà Jane Fonda - diễn viên điện ảnh nổi tiếng Hoa Kỳ (hai người đã từng đến Hà Nội tham gia phản đối chiến tranh Việt Nam). Hình ảnh cho thấy, chủ tọa đã ngắt lời nhiều lần, cuối cùng yêu cầu nhân viên an ninh cưỡng chế bà nghị sĩ (nhiều trang mạng gọi là “lôi cổ”) ra khỏi phòng họp. Như vậy, bản chất chính trị của những lập luận “Nhân quyền cao hơn chủ quyền”, “Nhân quyền không biên giới” là từng bước, đi từ làm suy yếu về tư tưởng, chính trị, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân, cô lập Việt Nam đến gây mất ổn định chính trị, xã hội, cuối cùng là xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng ta.
Thứ ba, quan điểm của Đảng, Nhà nước ta về mối quan hệ giữa chủ quyền quốc gia dân tộc với quyền con người như thế nào? Ngay từ Cương lĩnh đầu tiên (Chánh cương vắn tắt và Sách lược vắn tắt), năm 1930, Đảng ta đã xác định mục tiêu của cách mạng Việt Nam vừa nhằm giành độc lập dân tộc, vừa giải phóng xã hội, đem lại các quyền con người và quyền công dân cho mọi người. Bước vào thời kỳ đổi mới, tháng 7-1992, Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa VII) ra Chỉ thị 12-CT/TW, khẳng định “Quyền con người là giá trị chung của nhân loại. Đó là thành quả đấu tranh lâu dài của nhân dân lao động và các dân tộc trên thế giới chống lại mọi áp bức, bóc lột” và “giải phóng con người (trong đó có việc đảm bảo các quyền con người) gắn liền với giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội; chỉ có dưới tiền đề độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội thì quyền con người mới có điều kiện được đảm bảo rộng rãi, đầy đủ, trọn vẹn nhất”. Kế thừa các Cương lĩnh, đường lối, quan điểm về nhân quyền trước đó, Cương lĩnh năm 2011 của Đảng, tích hợp các giá trị của chế độ dân chủ với quyền con người, quyền và nghĩa vụ công dân. Trong đó, xác định mục tiêu là xây dựng một xã hội “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; … con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; … có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới”. Thể chế hóa Cương lĩnh 2011, Hiến pháp năm 2013 đã dành cả Chương II, quy định về “Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân” một cách đầy đủ và tương thích với các công ước quốc tế cơ bản về quyền con người.
Nhất quán với quan điểm trên, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước ta đã sớm gia nhập, ký kết các công ước quốc tế về quyền con người. Năm 1982, Việt Nam đã gia nhập hai công ước quốc tế cơ bản: (1) “Công ước quốc tế về các quyền Dân sự, Chính trị”; (2) “Công ước quốc tế về các quyền Kinh tế, Xã hội và Văn hóa”. Đến nay, Việt Nam đã tham gia đầy đủ các công ước quốc tế về quyền con người. Như vậy, với Đảng ta, quyền con người gắn liền với chế độ xã hội; độc lập dân tộc là tiền đề của quyền con người. Đại hội XII của Đảng tiếp tục khẳng định: đặt lợi ích Quốc gia, Dân tộc ở vị trí “tối cao” trong các mục tiêu của Đảng. Quan điểm này là cơ sở để Việt Nam quan hệ với các quốc gia và tổ chức quốc tế, kể cả Liên hợp quốc. Hiện nay, Việt Nam đã thiết lập quan hệ với trên 180 quốc gia, vùng lãnh thổ, trong đó có 05/05 nước Thường trực Hội đồng bảo an Liên hợp quốc. Trong quan hệ, hai bên đều khẳng định nguyên tắc: tôn trọng Hiến chương Liên hợp quốc, thể chế chính trị của nhau; tôn trọng chính sách, pháp luật của nhau, trong đó có quyền con người.
Có thể khẳng định: với Đảng, Nhà nước ta, cùng với chế độ dân chủ, quyền con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tôn trọng và bảo đảm quyền con người là trách nhiệm, đồng thời là chủ quyền của Nhà nước ta. Không thể có “Quyền con người cao hơn chủ quyền”, “Quyền con người không biên giới” tồn tại bên ngoài chế độ xã hội, nhà nước hiện hữu như các thế lực thù địch, những kẻ có hận thù với cách mạng, những kẻ phản bội, cơ hội,… trong và ngoài nước đang tuyên truyền.
Đọc thêm...

实行“三权分立”不是我们越南国家组织模型的选择

16:02 |
2013年宪法第二条规定:“国家一切权利都属于人民”,所以“国家权力是统一的、在实行立法、行法、司法等权力各国家机关互相分工、配合、监督”。因此越南的法治国家组织模型不是也不能是“三权分立”的。
这不是任何主体的主观意志,而是受来源于我国人民在越南共产党的领导下所建设的民主社会主义和社会主义法权国家的政治制度、经济制度的本质的必要客观规律的支配。30年革新的经验和实践以及通过学习、研究各国在融入世界进程的经验,党在制定革新路线、选取‘不是三权分立而是统一人民的权利、为人民服务’的越南社会主义法治国家组织模型的正确性和创造性。
法治国家的建设和完善是越南与共同趋势的支持、对应,以及在现当代世界社会发展和历史进步的普遍。其普遍性在越南通过特殊性而体现出来。明确世界的普遍性以便更加了解本民族在改革和发展、融入国际环境以及国家现代化事业的特殊性。这是一个在制定路线、政策,选取模型以及寻找发展道路需要预算的辩证影响。主动更新、吸收各国的经验和价值不让越南站在世界共同发展路程之外。另一方面,通过更新思维、发挥主动性和创造性的精神,要独立解决自己在发展过程中的问题,不要死板拷贝不符合于越南特点条件的模型。该观点是由实践(世界变化的实践以及民族和国家的实践)引导和照亮的。社会主义法治国家在实行立法、行法、司法……中,在国家各机关互相分工、配合、检查的基础上实行统一权力是正确、符合于我国政府组织模型的选择。
这是从我国30年政治体系的路程和改革政治实践总结所形成的理论答案。这是理论成果,标志着我党作为执政党在建设整体、领导国家和领导社会中的转折点。
法治国家的诞生是一个长足,标志着在国家历史中从理论学说到政治实践政府组织模型的发展水平。社会得以组织成为国家,特征化为经济、政治两个最重要以及最基本的政治社会。法治国家确定现代社会的发展水平之一。这是人类在资产革命时期作为资产阶级的历史作用已经达到的政治文明社会的先兆。谈到法治国家是谈到法律对社会生活、国家的组织和运行的作用。国家和法律之间、法律和权力之间的关系在长久和复杂的历史进程得以认识和解决,贯穿各种阶级斗争,因利益和权力各阶级之间互相对抗冲突、矛盾,国家从经济到政治都带着阶级的本质,是实施利益和权力的工具。统治阶级掌握国家的权力,通过国家权力的力量代表着整个社会的意志和权力。国家的阶级本质成为在任何政府、时代和政治制度原有的普遍特性。就在社会主义里面,虽然新型政府具有工人阶级的本质,代表着人民的意志和权力,究竟还是与阶级特性紧密相连的。工人阶级本质政府的新点和不同点在于工人阶级没有私有的利益。该阶级只能找到属于自己的利益当他找到社会的利益。因此,当工人阶级成为政府的统治阶级的时候其历史使命就是实行人民的权力。具有工人阶级本质的政府是一切权力、统一权力都属于人民的政府。具有供热阶级本质的政府是一个所有权利都属于人民,把权力统一在人民手中的政府。
烈宁强调:在社会主义,冲突会消失但矛盾还存在着。权力统一但人民群众的差异仍然存在。法治国家虽然在政府权力组织形式、管理方式、建设体制的技术和方法、尤其是法律、公职队伍的专门性等方面已达到现代水平,但究竟还是具有阶级本质、属于唯一阶级的政府。在马克思关于政府的学说,阶级性一直是突出、典型的特性。尽管各个统治阶级的、立场、观点、意识体系不同的思想家承认与否,政府的事实还是客观的存在。
强调但不绝对化政府的阶级本质特性,不将它视为唯一、静止、不变的特性。因为,政府在社会里面,是社会历史的、在实际环境中,尤其在全球化的趋势、融入国际环境的背景下,各个国家-民族之间关系的变化、具有历史性的产品。
在现代法理-政治思维的发展中,法权国家问题不仅在法律作用、国家和法律、法律和国家权力之间的关系经常与统治阶级直接联系的方面上得以认识和解决,而且是民主、人权以及公民权,是生活实践中个人和群体之间的自由、公平、平等等准则和原则的实施和法理保证。
法权国家思想是一个进步的政治-法理思想。根据法权、实行民主、实行和保卫人民、公民的基本权利等原则,寻找国家权力组织模型的工作是头等重要的目标,以实现法权国家思想。
因此,为了防抗专制、集权独断、专权的国家,越权、弄权的行为康德和十七-十八世纪进步思想家所提出关于法权国家的观念在政治、法理、和人文的方面上有着解放意义和价值。法权国家思想的深度体现为民主、自由以及民主、自由和人权(包括民权在内)的关系、确定能够同时实行控制权力以及遏止、防止因专权、弄权以及掌权人的非法行为而造成权力变坏情况的体制和机制。因此法权国家的建设要基于尊重法律和法制至上的原则。“上尊法律”不仅要宣布而且在国家生活、社会、公职公民的生活方式和行为、意识中都要实现。
可以提到Locc(十八世纪的英国思想家)和孟德斯鸠(十八世纪的法国律师)等法权国家思想家的学术中体现法权国家的实践和理论价值的重要公设。即:(1)允许实施任何法律不禁止人民和掌权人(各机关、组织、公职机关职员)做的事情。(2)每个人在社会生活和法律上都是自由和平等。(3)要检查、控制权力以遏制弄权行为。为了实现该要求,孟德斯鸠主张在立法、行法、司法三种权力中进行分权。即他学术中的主要、核心内容的“三权分立”,该内容让我们可以看出他思想中关于民主-法权的“核心合理”,而三权分立不是唯一的政府组织模型,更不是上述所说的越南法治国家建设的选择。
孟德斯鸠的“三权分立”学术,在某种程度上,可以说是有着启蒙理论思想的意义,在实际上,甚至在资本主义中的资产政府,其实践性也不高。问题是在社会和政府之中如何保证法律而首先是宪法-国家的基本、根本法律的位置。本身政府-生产出法律的主题也需要被监督,是社会、人民监督的对象。马克思曾经强调:在法理方面上所承认的自由只在政府中存于法律的形式。
回归孟德斯鸠的“三权分立”以及在法治国家模型中分权、以全力监督权力、以权力影响控制权力理论的问题,可以说,在上升的阶段资本阶级进行资产革命,攻击专制独裁封建阶级的权力,“干脆地吹灰传统秩序”为资本主义发展开道,就像马克斯所说的:它非常需要建设法权体制的理论。该理论满足解放的要求、实现资产阶级需要的自有理想以解放资本主义的生产力、肯定其统治地位。这还是资产集中社会力量推翻专制封建和君主制度、确定自唱功和体系的理论思想的后盾。不过,在掌握权力的时候,资产阶级当然要掌握所有政府的权力。分权和权力分立在实际上只像法理宣布一样地停留,被正在执政的资产阶级的权力欲望形式化。划分权力、监督权力、以权力控制、影响权力等事情不容易实现;况且,由于利益冲突和经济利益的猛烈竞争,资产阶级要加强集中力量来巩固权力。资产阶级中的权力斗争以及利益集团冲突是资产法治国家中资产阶级本质的实际证明。
关于法权和法治国家、自由、民主、公平和平等思想经常在资产阶级和权力的镜子之下被折射出来,为资本主义和资产阶级的统治服务。民主和人权、公民权本来是崇高的社会价值,为个人和群体的发展服务,是衡量历史进步的标准,但在资产社会环境-不公平和极性依然存在的地方也不能充实和充分地实现。何况,在资本主义和帝国主义国家,这些崇高的理想和价值经常被资产统治势力利用作为干涉其他国家内部工作、侵犯主权的手段。总的来说,“三权分立”在现代社会对建设发全体指、法治国家、实现民主和人权带来重大意义的理论探索。然而,其矛盾和限制在于资产法治国家的本质、多元并存的多党政治、各资产政治党派争取操纵国家权力优势的斗争。因此、三权分立不是我国组织国家权力的模型。
越南社会主义法权国家正处在建设和完善过程中,这是越南主义社会的特征,同时也是我国建设社会主义方向之一,并在世界全球化的情况下是越南融入国际环境的保证条件。党第十二届代表大会已经确定:“在党的领导下继续建设与完善社会主义法权国家是政治体系改革的重任”. “在国家的组织和运行过程中,要实施民主,遵守法权原则,营造积极转变,取得更好的结果”。
这与规定在2013年宪法“国家的权力是统一的因为所有的国家权力属于人民”的国家法权组织原则是一致的。因此,我国法权国家的深渊、重要问题就是保证民主、发挥人民做主的权利,发展人民做主能力,并将人民视为国家和社会的主人,实施人民做主的权权利。
在立法权、行法权和司法权之间的分工、配合与监督的基础上,不把权力分开但要明确地划分、区分各种权力。
从国会(立法)、政府(行法)到法院和检察院(司法)同步改革,“并与朝着精炼、成效、有效的方向的政治体系改革同步进行”。这就是精炼化的组织机构与公职和干部队伍的质量同行。
这是解决越南社会主义法权国家运行的质量、效力和效果问题的办法。
另外一个问题就是要“继续完善保卫宪法和法律机制”。拥有良好的保卫宪法机制才可以猛烈促进对违反宪法的行为公开、明白、平等地处理。没有禁地,国家处在社会和人民里面,而不站在社会之上或之外;在各级政府进行权利监督。促进与司法改革同步的行政改革,明确在国家机构以及政治体系中的各机关、组织之间的权限和责任。增加制裁以便对人民紧缩纪律、纪纲、法制与责任。“加强防治贪污、浪费、官僚、依靠权力作威作福等毛病;在国家机关以及公职、干部队伍里面实行节省”。保证公职队伍拥有高度的专业性和专门化, 强调公职道德与公务纪律以便有效地服务人民,增强人民对国家和公职的信心与崇奉。
为了营造上述的转变,需要党、国家、祖国阵线、各个团体组织在民主、团结、一致的精神上的努力,为了革新事业的胜利与发展,而深长的意味就是发展人-人民-法权国家和民主社会的主人。
Đọc thêm...

“Tam quyền phân lập” không phải là sự lựa chọn của Việt Nam

15:56 |
Điều 2, Hiến pháp năm 2013 khẳng định: “tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân” nên “Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”. Do đó, mô hình tổ chức nhà nước pháp quyền ở Việt Nam không phải và không thể “tam quyền phân lập”.
Điều đó không phải do ý chí chủ quan của bất kỳ một chủ thể nào mà do những quy định tất yếu khách quan chi phối, bắt nguồn từ bản chất của chế độ chính trị, chế độ kinh tế của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nền dân chủ xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Thực tiễn và kinh nghiệm 30 năm đổi mới đã qua cũng như việc học hỏi, tham khảo kinh nghiệm của các nước trong tiến trình hội nhập quốc tế đã cho thấy, tính đúng đắn và sáng tạo của Đảng trong hoạch định đường lối đổi mới, lựa chọn mô hình tổ chức nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam không tam quyền phân lập mà thống nhất quyền lực của nhân dân, bởi nhân dân, vì nhân dân.
Xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền là sự đồng thuận, phù hợp của Việt Nam với xu thế chung, phổ biến của tiến bộ lịch sử và sự phát triển xã hội trong thế giới hiện đại và đương đại. Tính phổ biến đó được thể hiện ở Việt Nam thông qua tính đặc thù. Nhận rõ tính phổ biến của thế giới để hiểu đầy đủ hơn tính đặc thù của dân tộc trong đổi mới và phát triển, hội nhập quốc tế và hiện đại hóa đất nước. Đây là một tương tác biện chứng cần phải tính đến trong xác định đường lối, chính sách, lựa chọn mô hình và tìm kiếm các giải pháp phát triển. Chủ động hội nhập và tiếp thu có chọn lọc những giá trị và kinh nghiệm của các nước để Việt Nam không ở bên ngoài tiến trình phát triển chung của thế giới. Mặt khác, với tư duy đổi mới, phát huy tinh thần chủ động, sáng tạo, cần phải độc lập giải quyết những vấn đề của chính mình trong phát triển, không sao chép máy móc giáo điều mô hình bên ngoài không phù hợp với đặc điểm, điều kiện của Việt Nam. Quan điểm đó được chính thực tiễn (từ thực tiễn biến đổi của thế giới và thời đại đến thực tiễn đất nước và dân tộc) soi sáng, chỉ dẫn. Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thực hiện thống nhất quyền lực trên cơ sở phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp,... là sự lựa chọn đúng đắn, hợp lý mô hình tổ chức nhà nước ở nước ta.
Đây là câu trả lời lý luận được hình thành từ tổng kết thực tiễn đổi mới chính trị và hệ thống chính trị ở nước ta qua chặng đường 30 năm. Có thể xem đó là một thành quả lý luận đánh dấu bước trưởng thành tư duy lý luận của Đảng về xây dựng chính thể, về lãnh đạo Nhà nước và lãnh đạo xã hội với tư cách Đảng cầm quyền.
Nhà nước pháp quyền ra đời là một bước tiến lớn, đánh dấu trình độ phát triển trong lịch sử nhà nước từ học thuyết lý luận đến các mô hình tổ chức nhà nước trong thực tiễn chính trị. Xã hội khi được tổ chức thành nhà nước, được đặc trưng thành xã hội chính trị với hai lĩnh vực cơ bản và quan trọng nhất: kinh tế và chính trị. Một trong những trình độ phát triển của xã hội hiện đại là được xác định bởi nhà nước pháp quyền. Đây là một chỉ báo về xã hội văn minh chính trị mà loài người đã đạt được trong thời đại cách mạng tư sản với vai trò lịch sử của giai cấp tư sản. Nói tới nhà nước pháp quyền là nói tới vai trò của pháp luật trong đời sống xã hội, trong tổ chức và hoạt động của nhà nước. Quan hệ giữa nhà nước và pháp luật, giữa pháp luật và quyền lực được nhận thức và giải quyết trong quá trình lịch sử hết sức lâu dài và phức tạp, đi xuyên qua các cuộc đấu tranh giai cấp với những xung đột, mâu thuẫn đối kháng giữa các giai cấp vì lợi ích và quyền lực, từ kinh tế đến chính trị, nhà nước mang bản chất giai cấp, là công cụ để thực hiện lợi ích và quyền lực, từ kinh tế đến chính trị. Giai cấp thống trị nắm lấy quyền lực nhà nước, thông qua sức mạnh của quyền lực nhà nước để nhân danh đại diện cho ý chí và quyền lực của cả xã hội. Bản chất giai cấp của nhà nước trở thành một thuộc tính phổ biến, vốn có ở mọi nhà nước, mọi thời đại, mọi chế độ chính trị. Ngay trong chủ nghĩa xã hội, dù nhà nước kiểu mới mang bản chất giai cấp công nhân, đại biểu cho ý chí và quyền lực của toàn thể nhân dân nhưng vẫn là nhà nước gắn liền với thuộc tính giai cấp. Điểm mới và khác của nhà nước mang bản chất giai cấp công nhân là ở chỗ, giai cấp công nhân không có lợi ích riêng với nghĩa là tư hữu. Nó chỉ tìm thấy lợi ích của mình khi thực hiện được lợi ích xã hội. Do đó, giai cấp công nhân một khi trở thành giai cấp thống trị trong nhà nước thì sứ mệnh lịch sử của nó là thực hiện quyền lực của nhân dân. Nhà nước mang bản chất giai cấp công nhân là nhà nước mà tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, thống nhất quyền lực vào nhân dân.
V.I. Lê-nin nhấn mạnh: trong chủ nghĩa xã hội, đối kháng sẽ mất đi nhưng mâu thuẫn thì còn lại. Thống nhất quyền lực nhưng vẫn có những khác biệt trong cộng đồng nhân dân. Nhà nước pháp quyền tuy đạt đến trình độ hiện đại về hình thức tổ chức quyền lực nhà nước, phương thức quản lý, kỹ thuật và công nghệ xây dựng thể chế, nhất là luật pháp, về tính chuyên nghiệp của đội ngũ công chức,... nhưng vẫn là nhà nước mang bản chất giai cấp, thuộc về một giai cấp. Tính giai cấp luôn luôn là thuộc tính nổi bật, điển hình của nhà nước, trở thành một nguyên lý kinh điển trong học thuyết mác-xít về nhà nước. Sự thật ấy về nhà nước tồn tại một cách khách quan, cho dù các nhà tư tưởng của giai cấp thống trị này hay giai cấp thống trị khác từ lập trường, quan điểm, ý thức hệ khác nhau mà thừa nhận hay không thừa nhận.
Nhấn mạnh thuộc tính bản chất giai cấp của nhà nước nhưng không tuyệt đối hóa nó, không xem đó là thuộc tính duy nhất, tĩnh tại, bất biến. Bởi, nhà nước nằm trong xã hội, là sản phẩm có tính lịch sử của lịch sử xã hội, của những biến đổi các mối quan hệ giữa các quốc gia - dân tộc trong cộng đồng thế giới, nhất là trong xu thế toàn cầu hóa, trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày nay.
Trong sự phát triển của tư duy chính trị - pháp lý hiện đại, vấn đề nhà nước pháp quyền không chỉ nhận thức và giải quyết trên bình diện vai trò của pháp luật, quan hệ giữa nhà nước và pháp luật, giữa pháp luật và quyền lực nhà nước thường gắn trực tiếp với chủ thể là giai cấp thống trị mà còn là dân chủ, quyền con người và quyền công dân, là những bảo đảm pháp lý và thực hiện trong thực tế đời sống các nguyên tắc, các chuẩn mực tự do, công bằng, bình đẳng giữa cá nhân với cộng đồng.
Tư tưởng về nhà nước pháp quyền là một tư tưởng chính trị - pháp lý tiến bộ. Việc tìm kiếm mô hình tổ chức quyền lực nhà nước theo nguyên tắc pháp quyền, thực hiện dân chủ, thực hiện và bảo vệ những quyền cơ bản của con người, của công dân là hướng đích quan trọng bậc nhất nhằm hiện thực hóa tư tưởng về nhà nước pháp quyền.
Theo đó, quan niệm về nhà nước pháp quyền của I. Kant và các nhà tư tưởng tiến bộ thế kỷ XVII - XVIII đưa ra nhằm chống lại nhà nước chuyên chế, cực quyền và sự độc đoán, chuyên quyền, các hành vi lạm quyền, lộng quyền có giá trị và ý nghĩa giải phóng trên các bình diện chính trị, pháp lý và nhân văn. Chiều sâu của tư tưởng nhà nước pháp quyền được nhận biết bởi dân chủ, tự do và mối tương quan giữa dân chủ, tự do với nhân quyền (bao hàm cả dân quyền), xác lập những thể chế và cơ chế để thực hiện quyền đồng thời kiểm soát quyền lực, ngăn chặn và phòng ngừa tình trạng quyền lực bị tha hóa bởi chuyên quyền và lạm quyền, bởi những hành vi phi pháp của những người nắm quyền. Xây dựng nhà nước pháp quyền do đó phải dựa trên những nguyên tắc tôn trọng tính tối cao của pháp luật và pháp chế. “Thượng tôn pháp luật” không chỉ được tuyên bố mà còn phải được thực hiện trong đời sống nhà nước, trong xã hội, trong ý thức, hành vi và lối sống của các công chức và công dân.
Có thể nói tới những định đề quan trọng thể hiện giá trị lý luận và thực tiễn của nhà nước pháp quyền trong học thuyết của Locc (nhà tư tưởng người Anh ở thế kỷ XVII) và Montesquieu (luật gia người Pháp, thế kỷ XVIII) cũng như các nhà tư tưởng về nhà nước pháp quyền. Đó là: (1) Cho phép làm tất cả những gì mà luật không cấm đối với công dân và cấm làm những gì mà luật không cho phép đối với những người nắm quyền (các quan chức, công chức, viên chức trong các cơ quan công quyền). (2) Sự bình đẳng và tự do của mọi người trong đời sống xã hội, trước pháp luật. (3) Quyền lực phải được kiểm soát và kiềm chế để ngăn chặn lạm quyền. Để thực hiện yêu cầu này, Montesquieu chủ trương, phân quyền giữa ba loại quyền: lập pháp, hành pháp, tư pháp. Ba quyền đó cần nằm trong tay ba cơ quan khác nhau, kiềm chế lẫn nhau. Đó chính là “tam quyền phân lập”, nội dung cốt yếu, chủ đạo trong học thuyết của Ông mà chúng ta có thể nhận rõ “hạt nhân hợp lý” trong tư tưởng của Ông về dân chủ - pháp quyền, còn tam quyền phân lập không phải là cái duy nhất của mô hình tổ chức nhà nước, càng không phải là sự lựa chọn để xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam như đã nói.
Học thuyết “tam quyền phân lập” của Montesquieu, ở một mức độ nào đó, có thể nói mang ý nghĩa khai sáng về tư tưởng lý luận, còn trong thực tế, tính khả thi của nó là không nhiều, ngay cả trong nhà nước tư sản, trong chủ nghĩa tư bản. Vấn đề đặt ra là bảo đảm sự ngự trị của luật, pháp luật, trước hết là hiến pháp - luật gốc, luật cơ bản của nhà nước trong nhà nước và xã hội. Bản thân nhà nước, chủ thể sản xuất ra luật pháp cũng phải được kiểm soát, cũng là đối tượng kiểm soát của xã hội, của người dân. C. Mác đã nhấn mạnh: sự tự do được thừa nhận về mặt pháp lý chỉ tồn tại trong nhà nước và dưới hình thức luật.
Trở lại vấn đề “tam quyền phân lập” và lý thuyết phân quyền, dùng quyền lực kiểm soát quyền lực, dùng quyền lực đối trọng, kiềm chế quyền lực trong mô hình nhà nước pháp quyền của Montesquieu, có thể nói, khi còn là một giai cấp đang lên, giai cấp tư sản tiến hành cách mạng tư sản, tấn công vào quyền lực của giai cấp phong kiến chuyên chế độc tài, “phá hủy không thương tiếc trật tự cổ truyền” để mở đường cho sự phát triển của chủ nghĩa tư bản, như C. Mác nói: nó rất cần tới lý luận về xây dựng thể chế pháp quyền. Lý luận đó đáp ứng được yêu cầu giải phóng, thực hiện lý tưởng tự do mà giai cấp tư sản cần để giải phóng sức sản xuất tư bản chủ nghĩa, khẳng định địa vị thống trị của nó. Đó còn là hậu thuẫn về tư tưởng lý luận cho giai cấp tư sản tập hợp lực lượng trong xã hội chống phong kiến chuyên chế và chế độ quân chủ, xác lập nền cộng hòa tư sản. Song, khi đã nắm được quyền lực, giai cấp tư sản tất yếu phải nắm lấy toàn bộ quyền lực nhà nước. Phân quyền và phân lập các quyền trên thực tế chỉ dừng lại như một tuyên bố pháp lý, bị hình thức hóa bởi chính tham vọng quyền lực của giai cấp tư sản đang nắm quyền thống trị. Phân chia quyền lực, kiểm soát quyền lực, dùng quyền lực để đối trọng và kiềm chế quyền lực không dễ gì thực hiện được; hơn nữa, do những mâu thuẫn về lợi ích và cạnh tranh quyết liệt về lợi ích kinh tế mà giai cấp tư sản càng phải tập trung sức mạnh để củng cố quyền lực. Đấu tranh quyền lực với những xung đột giữa các nhóm lợi ích trong giai cấp tư sản là minh chứng thực tế về bản chất giai cấp tư sản trong nhà nước pháp quyền tư sản.
Những tư tưởng về pháp quyền và nhà nước pháp quyền, về tự do, dân chủ, công bằng và bình đẳng thường bị khúc xạ dưới lăng kính lợi ích và quyền lực tư sản, chỉ nhằm phục vụ cho chủ nghĩa tư bản và giai cấp tư sản thống trị. Dân chủ và quyền con người, quyền công dân vốn là những giá trị xã hội cao quý, phục vụ sự phát triển của cá nhân và cộng đồng, là những thước đo của tiến bộ lịch sử cũng không thể thực hiện đầy đủ và thực chất trong môi trường xã hội tư sản - nơi mà những bất công và phân cực còn ngự trị. Đó là chưa nói tới, ở các nước tư bản và đế quốc chủ nghĩa, những giá trị và lý tưởng cao quý này thường bị các thế lực tư sản thống trị lợi dụng như một chiêu bài để can thiệp vào công việc nội bộ, xâm phạm chủ quyền của các nước khác.
Nói tóm lại, “tam quyền phân lập” là một tìm tòi lý luận, đem lại những gợi mở có ý nghĩa để xây dựng thể chế pháp quyền, nhà nước pháp quyền, thực hiện dân chủ và quyền con người trong xã hội hiện đại. Song, những mâu thuẫn và hạn chế của nó nằm ngay trong bản chất của nhà nước pháp quyền tư sản, ngay cả trong thuyết đa nguyên chính trị và đa đảng, trong đấu tranh quyền lực của các đảng phái chính trị tư sản nhằm giành ưu thế thao túng quyền lực nhà nước. Vì vậy, tam quyền phân lập không phải là mô hình tổ chức quyền lực nhà nước ở nước ta.
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đang trong quá trình xây dựng và hoàn thiện, là một trong những đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời là một trong những phương hướng xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta và là điều kiện bảo đảm cho Việt Nam hội nhập quốc tế trong một thế giới toàn cầu hóa. Đại hội XII của Đảng đã xác định: “Tiếp tục xây dựng, hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa do Đảng lãnh đạo là nhiệm vụ trọng tâm của đổi mới hệ thống chính trị”1. “Trong tổ chức và hoạt động của nhà nước, phải thực hiện dân chủ, tuân thủ các nguyên tắc pháp quyền và phải tạo ra sự chuyển biến tích cực, đạt kết quả cao hơn”2.
Điều này nhất quán với nguyên tắc tổ chức quyền lực nhà nước đã được hiến định trong Hiến pháp năm 2013 “Quyền lực nhà nước là thống nhất” bởi “tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân”. Do đó, vấn đề sâu xa, cốt yếu của nhà nước pháp quyền ở nước ta là đảm bảo dân chủ, phát huy quyền làm chủ của người dân, phát triển năng lực làm chủ và thực hành dân chủ của nhân dân trên tư cách người chủ của nhà nước và xã hội. Không phân chia quyền lực nhưng phải đặc biệt phân định, phân biệt rõ các quyền, trên cơ sở phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Đổi mới đồng bộ từ Quốc hội (lập pháp) đến Chính phủ (hành pháp) và Tòa án, Viện Kiểm sát (tư pháp) “và được tiến hành đồng bộ với đổi mới hệ thống chính trị theo hướng tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả”3, đó là tinh gọn tổ chức bộ máy đi liền với chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức. Đây là chìa khóa để giải quyết vấn đề chất lượng, hiệu lực, hiệu quả hoạt động của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Một vấn đề quan trọng khác là phải “Tiếp tục hoàn thiện cơ chế bảo vệ Hiến pháp và pháp luật”4. Có cơ chế bảo hiến tốt mới có thể đẩy mạnh xử lý các hành vi vi hiến một cách công khai, minh bạch, bình đẳng. Không có vùng cấm, nhà nước ở trong xã hội và của người dân chứ không đứng trên, không ở bên ngoài xã hội; kiểm soát quyền lực ở các cấp chính quyền. Đẩy mạnh cải cách hành chính đồng bộ với cải cách tư pháp, làm rõ thẩm quyền và trách nhiệm giữa các cơ quan, tổ chức trong cơ cấu nhà nước cũng như trong hệ thống chính trị. Tăng cường các chế tài để xiết chặt kỷ luật, kỷ cương, pháp chế và trách nhiệm đối với người dân. “Đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu, hách dịch, cửa quyền; thực hành tiết kiệm trong các cơ quan nhà nước và trong đội ngũ cán bộ, công chức”5. Đảm bảo tính chuyên nghiệp, chuyên môn hóa cao của đội ngũ công chức, đề cao đạo đức công chức và kỷ luật công vụ để phục vụ dân có hiệu quả, tăng trưởng niềm tin và mức độ hài lòng của người dân đối với Nhà nước và công chức.
Để tạo ra những chuyển biến đó, đòi hỏi sự nỗ lực và trách nhiệm của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức, đoàn thể trên tinh thần dân chủ, đoàn kết, đồng thuận vì thắng lợi của đổi mới và phát triển mà sâu xa là phát triển con người - người dân, những người chủ của xã hội dân chủ, của nhà nước pháp quyền.
Đọc thêm...

阮朝在管辖东海中的作用

15:56 |
为维护国家海岛主权,越南历代封建王朝都着重投资建设强大的水军力量。越南丁、李、陈、黎、阮等王朝的水军力量不断得到加强和完善。这支水军为捍卫祖国事业作出了巨大贡献,在各个阶段留下了历史烙印。 
至今还收藏的古籍显示,越南历代封建王朝早已对黄沙群岛和长沙群岛确立主权、实施管辖权,同时以主人翁的姿态在东海从事开发活动。据阮朝《大南一统志》记载:“东海东部有一个横着的长长岛屿(黄沙岛)作屏障;西部有一条重叠的礁石稳稳地控制着山蛮地区;南邻平定省,有本达山横截;北部与广南省接壤并有沙滩做界线”。
值得一提的是,担任保卫海界任务的阮朝水军规模相当大,因为当时西方不断扩大海上丝绸之路,而越南身处其中。
1802年,阮映(即嘉龙皇帝)击败西山阮朝(农民起义军),建立阮氏王朝,实现了国家的一统。嘉龙皇帝加强水军建设,制造帆船,制造兵船,派遣船舶驶往其他国家。甚至命令工部编撰《沿海录》,记录沿海海潮深度及海岸线长度。嘉龙皇帝时代最突出的一点是对黄沙群岛和长沙群岛积极实施主权。
据《大南实录正编》记载,1803年,即阮朝成立不久后,嘉龙皇帝“封武文富为沙旗海口守御,招募外乡人建立黄沙队。他不仅成立黄沙队,还重建北海队。1805年他又将黄沙队和北海队纳入负责开发和管辖从广平省到平定省的东海海域的长拓队编制。特别是在1815- 1816期间,嘉龙皇帝派黄沙队头目范光影前往黄沙群岛探测海路,坚决和全面地展开行使主权的活动。
嘉龙皇帝对黄沙群岛和长沙群岛行使主权的活动,不仅在正史中有记载,而且还得到西方人士的证实和赞赏。十九世纪初曾多年在中圻和南圻传教的法国传教士让 路易-塔贝德在《亚洲社会》杂志刊登的《Cochinchina地理资料》一文中写道:“1816年,嘉龙皇帝下令在黄沙群岛插旗指在肯定越南的主权,当时没有任何人与他争夺。”  
嘉龙皇帝的水军被描述为“每个舰队是由一些配备16 - 22门大炮的兵船组成的。大船有50-70支桨,小船有40-44支桨”。
嘉龙皇帝末期,黄沙队和北海队军事化、正规化的趋势朝着并入水军编制的方向迅猛发展。嘉龙皇帝时代的黄沙队和北海队所进行的活动相当活跃有效,到十九世纪二十年代初则被并入明命皇帝水军编制。水军为国家的正规军,可在全国招募水手,但在黄沙群岛和长沙群岛负责专门工作的人员则主要从安荣、沙旗、李山岛等地招募。水军的活动范围包括黄沙群岛和长沙群岛内所有岛屿和海域以及其它属于大越主权的岛屿和海域。
明命皇帝时代,阮朝水军组织得较为紧密、规范。除负责测量海潮、绘制阮朝水军图外,还担任在黄沙,长沙等群岛竖立石标、主权碑的重要任务。
明命皇帝还对阮朝水军进行改革,确定各种兵船的尺寸、形状然后交给造船厂制造。他还仿造西方蒸汽机船,购买西方蒸汽机船以加强海上防卫力量,尤其是在要冲海域的防卫力量。
1822年,明命皇帝购买一艘法国铜皮船,命名“电阳”并交给造船厂研究、仿造。
《大南实录〉一书记载:“当年六月,皇帝命水师统制潘文长督促仿造西方船一事”。第一艘铜皮船命名瑞龙,此后制造了大批铜皮船,主要是战船,其中一部分则用于东海巡航工作。
1836年,明命皇帝颁旨命工部铸造九个大铜鼎,并将这九鼎置于供奉列祖列宗的世庙前。九鼎上刻有全国153处名胜古迹的图案。其中“高鼎”刻的是波浪滚滚的东海,“仁鼎”刻有南海,“章鼎”刻有西海。这三大铜鼎代表阮朝三代皇帝的视线都指向东海。九鼎上的海岛图案强调了当年阮朝控制东海和维护自己领海主权等行动。 
从阮主到阮氏王朝的400多年历史长河中充满着悲壮的事迹,阮朝京都设在沿海地区,经历桑海苍田的变故,京都顺化现已成为古都,但仍然完整地留下阮朝显赫一时的烙印。关于当时号称雄兵的黄沙队、北海队、水军士兵们奉朝廷圣旨,冲破惊涛骇浪,镇守黄沙群岛、长沙群岛的故事仍然深刻地留在生活在这片一度曾为越南京都的土地上的人们心中。
绍治皇帝时代(1841 1846),18411845期间由于要对付暹罗发动的战争,阮朝无法集中全部水军开发东海,派人前往黄沙群岛、长沙群岛的事宜一再拖延,但维护海岛主权的活动仍然得到保持。这时候,申请赴黄沙群岛和长沙群岛的 “申请书”很多,且全部都由皇帝亲自御批,绍治皇帝由于工作繁忙或受风暴影响,所以没有派人前往黄沙群岛和长沙群岛。
绪德皇帝时代处于历史的困难时期。1847年,法国军舰首次向顺化沿海地区的越南船舶开炮。1858年,法国和西班牙等国军队进攻岘港海口,占领了山茶半岛,正式揭开法国从海上侵略越南的战争序幕。朝廷水军集中抵抗法国侵略军,所以没有条件经常开往黄沙群岛和长沙群岛,但对这两个群岛的主权意识毫无松懈。
值得一提的是,绍治、绪德皇帝时代,阮朝国史馆编撰了多部史书,明确记载越南对黄沙群岛和长沙群岛行使主权的活动。例如:以编年史方式记载自1778年至1888年史绩的《大南实录正编》。由阮朝绍治内阁奉旨组织编撰、绪德四年(1851年)完成,绪德21年(1868年)刻印的《钦定大南汇典事例》。阮朝国史馆奉绪德皇帝意旨于1865年编撰、1882年基本完成的大南国正统地理历史典籍《大南一统志》。由阮通撰写的地理历史典籍《越史纲目考略》,共7册。头两册记录历史,后五册记录地理历史。1876年编撰、绪德34年(1881年)刻印的《概同说约》。    
十九世纪初建立的阮朝管辖着由三个古国合并到1757年稳定下来的领土和领海,而东海的概念被理解为越南国土东部面临的北起芒街南至金瓯角的广阔海域,包括黄沙群岛和长沙群岛在内的大大小小岛屿。 换言之,当前越南关于东海的统一普遍概念,实际上早在十九世纪初就被确立了。
国史
Đọc thêm...

Hot (焦点)