尊重并充分落实1982年《联合国海洋法公约》
07:00 |
1982年《联合国海洋法公约》(以下简称“公约”)缔约国第28次会议6月11日至14日在联合国总部召开,吸引了公约的100多个缔约国及国际海洋法法庭(ITLOS)、国际海底管理局(ISA)和联合国大陆架界限委员会(CLCS)等根据公约成立的机构、从事海洋及大洋领域的部分国际组织和非政府组织等机构代表参加。许多与会国家代表指出每个国家乃至全球海洋治理工作要面临的挑战。与会各国强调,应大力实现有关海洋、大洋及海洋资源的可持续开发与保护的可持续发展目标框架内各项标志及承诺,其中1982年《联合国海洋法公约》继续为调整沿海国家的所有行为提供法律框架。
越南常驻联合国代表团团长阮芳娥大使指出,作为沿海国家之一,越南特别注重保护海洋环境及海洋生态体系,并充分意识到海洋岛屿争端对海洋可持续保护与开发工作带来负面影响。越南的一贯主张是在包括1982年《联合国海洋法公约》在内的国际法的基础上通过和平方式解决东海争端。越南欢迎有关各方为包括 “东海行为准则”谈判进程启动工作在内的把东海建成和平、稳定、可持续发展的海域等活动付出的共同努力。越南呼吁所有缔约国恪守公约中所有规定,尊重外交及法律程序,促进可持续开发海洋及大洋,确保各个海域的安全及航海航空安全与自由,避免采取与公约目标相反、给海洋环境及资源、公约缔约国的合法及正当权益以及行为准则制定进程造成负面影响的单方行为。
阮芳娥大使重申,越南的一贯立场是支持打击非法、不报告、无管制(IUU)捕捞行为。她同时阐明,越南为打击IUU捕捞所付出的努力。她表示,越南正在抓紧办理内部手续,旨在成为《执行<联合国海洋法公约>有关养护和管理跨界鱼类种群和高度洄游鱼类种群的规定的协定》(UNFSA)以及《预防、制止和消除非法、不报告、不管制捕鱼港口国措施协定》(PSMA)等协定成员国。她强调,打击IUU捕捞工作应考虑到每个国家的不同条件,尤其是进行小规模捕捞的国家并应确保渔业保护与发展目标和沿海地区居民的社会民生及生计保障目标的平衡。阮芳娥大使强调,越南承诺尊重并充分落实公约中各规定,同各国及各国际组织配合可持续保护与开发海洋及大洋,致力于人类的共同未来。
Tôn trọng và thực thi đầy đủ Công ước Luật Biển LHQ
03:00 |
Từ ngày
11-14/6, tại trụ sở Liên hợp quốc ở New York, Hội nghị lần thứ 28 các quốc gia
thành viên Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS) đã diễn ra
với sự tham dự của hơn 100 quốc gia thành viên UNCLOS, cùng đại diện các cơ
quan được thành lập theo Công ước, bao gồm: Tòa án quốc tế về Luật Biển
(ITLOS), Cơ quan quyền lực quốc tế về đáy đại dương (ISA) và Ủy ban Ranh giới
thềm lục địa của LHQ (CLCS) và đại diện một số tổ chức quốc tế, tổ chức phi
chính phủ hoạt động trong lĩnh vực biển và đại dương.
Phát biểu tại
hội nghị, nhiều nước chia sẻ các thách thức mà quản trị đại dương và biển trên
thế giới cũng như tại từng nước đang phải đối mặt như: ô nhiễm biển, cạn kiệt
tài nguyên, khai thác thủy sản quá mức và bất hợp pháp, biến đổi khí hậu, mực
nước biển tăng, suy giảm đa dạng sinh học ở nhiều vùng biển và nhiều thay đổi
trong các quá trình sinh hoá ở các tầng biển sâu... Cùng với các tranh chấp biển
còn tồn tại ở nhiều nơi, các nhân tố trên tác động lớn đến bảo tồn và sử dụng bền
vững biển. Các nước nhấn mạnh phải đẩy mạnh thực hiện các tiêu chí và cam kết
trong khuôn khổ Mục tiêu phát triển bền vững về bảo tồn và sử dụng bền vững biển,
đại dương và các nguồn tài nguyên biển, trong đó UNCLOS tiếp tục là khuôn khổ
pháp lý toàn diện điều chỉnh mọi hoạt động của các quốc gia ven biển.
Đại sứ Nguyễn
Phương Nga, Trưởng Phái đoàn đại diện thường trực Việt Nam tại Liên hợp quốc,
đã phát biểu, nêu rõ: Là một quốc gia ven Biển Đông, Việt Nam đặc biệt chú trọng
bảo vệ môi trường và hệ sinh thái biển, đồng thời nhận thức rõ tác động tiêu cực
của các tranh chấp biển đảo đến bảo tồn và sử dụng biển bền vững. Việt Nam luôn
chủ trương giải quyết các tranh chấp ở Biển Đông bằng biện pháp hòa bình, phù hợp
với luật pháp quốc tế, trong đó có UNCLOS. Việt Nam hoan nghênh nỗ lực chung của
các quốc gia liên quan nhằm xây dựng Biển Đông trở thành vùng biển hòa bình, ổn
định và phát triển bền vững, trong đó có việc khởi động đàm phán về Bộ quy tắc ứng
xử của các bên ở Biển Đông (COC). Việt Nam kêu gọi các tất cả các quốc gia
thành viên tuân thủ đầy đủ các quy định của Công ước, tôn trọng các tiến trình
ngoại giao và pháp lý, thúc đẩy sử dụng biển và đại dương một cách bền vững, bảo
đảm an ninh, an toàn, tự do hàng hải, hàng không tại các vùng biển, tránh các
hoạt động đơn phương, trong đó có hoạt động quân sự hoá các cấu trúc đang chiếm
đóng, đi ngược lại với mục tiêu của UNCLOS, ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường
và tài nguyên biển, cũng như quyền lợi ích chính đáng, hợp pháp của các quốc
gia theo UNCLOS và tiến trình xây dựng các quy tắc ứng xử.
Đại sứ Nguyễn
Phương Nga cũng khẳng định lập trường nhất quán của Việt Nam ủng hộ chống khai
thác thủy sản bất hợp pháp, không khai báo và không theo quy định (khai thác
IUU), thông tin về các nỗ lực của Việt Nam đấu tranh phòng chống khai thác IUU
và khẩn trương tiến hành các thủ tục nội bộ để trở thành thành viên Hiệp định về
bảo tồn và quản lý các đàn cá lưỡng cư và di cư xa (UNFSA), Hiệp định về các biện
pháp của các quốc gia có cảng nhằm ngăn chặn, chống lại và xóa bỏ khai thác IUU
(PSMA). Đại sứ nhấn mạnh công tác phòng chống khai thác IUU cần tính đến hoàn cảnh
cụ thể của từng quốc gia, nhất là ở những nước mà việc khai thác thủy sản chủ yếu
ở quy mô nhỏ và cần bảo đảm cân bằng giữa mục tiêu bảo tồn và phát triển nghề
cá bền vững và mục tiêu an sinh xã hội, sinh kế cho cộng đồng dân cư ở các vùng
duyên hải. Đại sứ Nguyễn Phương Nga nhấn mạnh Việt Nam cam kết tôn trọng và thực
thi đầy đủ các quy định của Công ước, hợp tác với các quốc gia, tổ chức quốc tế
bảo tồn và phát triển bền vững biển và đại dương vì tương lai chung của nhân loại./.
越南促进和保障残疾人的权利
07:30 |
越南常驻联合国代表团团长阮芳娥大使6月13日在《残疾人权利公约》第11届缔约国大会上发言时对本次会议的主题内容“通过全面实施《残疾人权利公约》,不让任何人掉队”表示欢迎。阮芳娥大使强调,越南将平等与无歧视确定为促进与保障包括残疾人在内的所有人权利的基础。阮芳娥大使还介绍了越南在促进残疾人平等、充分参与社会生活,鼓励各组织在残疾人职业培训、教育培训、残疾人就业等方面提供资金及技术支持等优惠政策。
之前,联合国秘书长古特雷斯(Antonio Guterres)在本次会议上致开幕词时表示,《残疾人权利公约》是获得最广泛批准的国际人权条约之一,全世界已有177个国家批准和加入了该《公约》,对促进与保护15亿名残疾人具有重要的意义。联合国秘书长古特雷斯呼吁各国将残疾人问题纳入国家立法和发展战略中,消除残疾人面临的障碍,为残疾人参加社会生活创造便利条件,同时巩固关于残疾人的多边政策和全球政策框架,旨在实现联合国《2030年可持续发展议程》的目标,不让任何一个人掉队。
在本届会议期间,与会代表就国家财政空间、公私伙伴关系和国际合作、残疾女性和女童在政治领域的参与权和在法律面前平等等问题举行了专题讨论会。
值此之际,会议选出由9名成员组成的2019-2020年任期《残疾人权利公约》委员会,这9名成员分别来自拉脱维亚、尼日利亚、澳大利亚、瑞士、韩国、加纳、印度尼西亚、巴西和墨西哥等国。
Việt Nam bảo vệ quyền của người khuyết tật
05:30 |
Ngày 13/6,
phát biểu tại Hội nghị lần thứ 11 Công ước Quyền của người khuyết tật (CRPD), Đại
sứ Nguyễn Phương Nga, Trưởng Phái đoàn Việt Nam tại Liên hợp quốc, đã hoan
nghênh chủ đề của hội nghị năm nay “Không ai bị bỏ lại phía sau thông qua triển
khai đầy đủ Công ước Quyền của người khuyết tật."
Đại sứ nhận
định chủ đề này cho thấy mối quan hệ mật thiết, bổ trợ giữa việc thực hiện
Chương trình Nghị sự 2030 và CRPD hướng tới mục tiêu xây dựng tương lai tốt đẹp
hơn cho tất cả mọi người. Đại sứ Nguyễn Phương Nga khẳng định Việt Nam coi sự
bình đẳng và không phân biệt đối xử là những nguyên tắc nền tảng của việc thúc
đẩy và bảo đảm quyền của tất cả mọi người, trong đó có quyền của người khuyết tật;
việc thông tin về những nỗ lực của Việt Nam trong việc hỗ trợ cuộc sống, thúc đẩy
sự tham gia và đóng góp của người khuyết tật trong xã hội, trong đó có việc xây
dựng các Trung tâm Hỗ trợ sống độc lập cho người khuyết tật, chính sách ưu đãi
khuyến khích các tổ chức hỗ trợ tài chính và kỹ thuật cho việc đào tạo nghề,
giáo dục, tạo việc làm cho người khuyết tật, nâng cao chất lượng thống kê phục
vụ công tác hoạch định chính sách.
Trước đó,
trong bài phát biểu khai mạc hội nghị hôm 12/6, Tổng Thư ký Liên hợp quốc
Antonio Guterres cho biết CRPD là một trong những điều ước quốc tế được nhiều
quốc gia phê chuẩn nhất với 177 thành viên, có ý nghĩa quan trọng trong việc
thúc đẩy và bảo vệ quyền của 1,5 tỷ người khuyết tật. Ông Guterres nhấn mạnh
người khuyết tật, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em, vẫn đang phải đối mặt với sự kỳ
thị, phân biệt đối xử, cản trở tiếp cận giáo dục, y tế và việc làm. Do vậy, việc
bảo vệ quyền của người khuyết tật là “một mệnh lệnh của lương tri," khẳng
định tính thiết yếu của việc công nhận quyền của người khuyết tật trong việc
xây dựng các xã hội lành mạnh, bền vững, có lợi cho tất cả mọi người. Tổng Thư
ký Liên hợp quốc cũng kêu gọi các nước lồng ghép vấn đề khuyết tật vào hệ thống
pháp luật, chiến lược phát triển quốc gia, xóa bỏ các rào cản, nâng cao nhận thức
và tạo điều kiện cho người khuyết tật tham gia và đóng góp vào mọi lĩnh vực của
đời sống xã hội, đồng thời củng cố các khuôn khổ chính sách đa phương và toàn cầu
về vấn đề người khuyết tật để hiện thực hóa mục tiêu của Chương trình Nghị sự
2030 là không ai bị bỏ lại phía sau.
Cũng trong
khuôn khổ hội nghị trên, các bên tham gia đã tiến hành nhiều phiên thảo luận
chuyên đề về không gian tài chính quốc gia, quan hệ đối tác công-tư và hợp tác
quốc tế nhằm tăng cường triển khai CRPD, phụ nữ và trẻ em gái khuyết tật và
tham gia trong lĩnh vực chính trị và sự công nhận bình đẳng trước pháp luật.
Nhân dịp
này, hội nghị đã bầu ra chín thành viên mới của Ủy ban Công ước CRPD cho nhiệm
kỳ 2019-2022 gồm Lítva, Nigeria, Australia, Thụy Sỹ, Hàn Quốc, Ghana,
Indonesia, Brazil và Mexico./.
公民在行使言论自由权、新闻自由权和获取信息权中权利和义务不可分离
21:00 |
越南法律关于公民的言论自由、新闻自由和获取信息等权利的的规定基本上是足够和同步的,完全符合有关人权的国际法。其中,已明显规定公民的权利和义务及其受限制的具体情况,旨在保卫国家民族利益、其他人的合法权益。
在越南,“言论自由、新闻自由、获取信息、集会、结社、示威等权利”已得到2013年宪法承认,其在2016年《新闻法》、《获取信息法》、2013年政府《关于管理、提供和使用因特网服务和网上通信》72号议定等具体规定,并得到严格实施,在社会中营造民主气氛。其肯定和体制化党和国家尊重与保障公民言论自由、新闻自由、获取信息、创造新闻作品、向报纸提供信息、在报纸上反馈信息、获取报纸信息等权利的一贯观点。公民获取信息的权利得到更广泛的规定,其不仅是由国家机关公开信息的被动权,而且还是要求国家机关、组织提供的主动权。在网络空间上,越南国家也就言论自由、新闻自由和获取信息等权利作出规定。据此,除被法律禁止的服务外,公民得以使用因特网上的各种服务;使用者要遵守保障信息安全安宁的规定;要对自己存档、提供和发布的信息负责任。
像其他权利一样,言论自由权、新闻自由权、获取信息权的行使要由法律规定并要在法律框架内,公民的权利和义务的关系已得到明显规定,不得侵犯国家民族利益或其他人的合法权利和利益。因此,按法律规定,为了国家国防安全、社会秩序安全、社会公德和公共卫生而限制这些权利是必要的。登载或发散歪曲、诽谤和否认政府的信息,捏造信息,激起人民恐慌,歪曲历史、否认革命的成就,冒犯民族、民族英雄,提出失实、歪曲、诬告的信息,侮辱破坏机关、组织的威信与个人的名誉、人品等行为都被法律处置。对获取信息权作出规定的同时,法律也就公民得以获取和不允许机关组织提供的信息作出规定。这样,越南法律关于“公民权利和公民义务是不可分离的”、“义务和特别责任”或“一定的限制”等规定完全符合国际人权法。
目前,在越南言论自由权和新闻自由权不仅得到很好地保障,而且还是反消极斗争的积极因素。诸多贪污大案被报界揭露。近年来,各团体组织、祖国阵线已积极参加监督和争辩国家政策。个人和组织“对国家和世界情况发表意见”、参加争辩和监督等权利得到党和国家尊重和鼓励。但是,关键的是在哪争辩及其动机是什么,确保客观性;避免抹黑社会,被不良分子利用,损害人民、社会和国家的利益。
近年来,出现所谓“政见分歧者”的“不暴动斗争”,“不遵民事”,“从众心理”等。这些“政见分歧者”违反越南法律的行为又得到西方报纸通过“越南扼杀言论自由权、新闻自由权、因特网自由权”、“违反人权”等旧调加以鼓吹。这完全是非法无理取闹与横行霸道的。因为,越南法律并没有西方报纸所说的“ 政见分歧者”的规定。因此,越南法律系统上没有所谓“政见分歧者”的罪名,并没有规定所谓“分歧”意见或与国家持不同意见是犯罪行为。但是,实践证明,有些人利用言论自由权,自己戴上“政见分歧者”的帽子来发表歪曲事实、破坏社会制度和国家的文章。武光顺、阮文典、陈黄福、陈氏俄、阮玉琼如等人是典型的例子,这些人以1999年《刑事法》第88条规定“破坏越南社会主义国家”罪名而被法院给以适当的判决。这是利用言论自由、新闻自由进行违反越南法律的行为要付出代价的生动例子。在法庭上,这些人辩论道,他们只是“政见分歧者”,以“不暴动”方式进行合法斗争,完全不违反法律(!)但实际却完全相反。这些人已在因特网上登载多片视频,诽谤政府,捏造谣言,歪曲事实;利用民主自由权侵害国家利益、组织和公民的合法权利和利益。换句话说,这些“政见分歧者”就因他们的违反法律行为而被法律处置。
在越南,言论自由权,尤其是因特网使用权已经和正在被国内外敌对势力彻底利用来诬告、抹黑越南共产党的执政作用,破坏越南社会制度和国家。他们所谓“河内制度是独裁极权”、越南共产党“剥夺人民的权利”、“站在法律之上”等谬论都是大肆诬告,在实际和理论上都是错误的。世界上,有关言论自由权的法律乃至各国的法律系统都面向保卫社会制度的目标。公民权利和政治权利的国际公约明显规定,全部人民都有自决权。他们凭这种权利自由决定他们的政治地位,并自由谋求他们的经济、社会和文化的发展。该规定默然承认各民族有权选择自己的政治制度,公民的权利和义务都由每个国家的法律规定。再说,法律一向带有政治性、历史性与文化特殊。在越南,越南共产党的领导得到2013年宪法第四条明显规定,并得到人民最高代表机构、国家最高权力机构——国会给以承认。越南共产党不仅是越南国家和社会的领导力量,而且还服务于人民,受人民的监督,在法律框架内活动。2013年宪法第2条规定:“1、越南社会主义国是属于人民的、由人民所组成、一切为了人民的社会主义法制国家。2、越南社会主义国由人民当家做主,国家一切权力属于以工人阶级、农民阶级和知识分子队伍联盟为基础的人民。3、国家机关在行使各种立法权、执法权、司法权中,国家权力既有统一,又有分工、配合、监督”。鼓吹“多元政治、多党制”以及援引西方“三权分立”模式来反驳越南国家制度等论调只不过是抹黑越南制度的手段,在当前世界社会模式多样性背景下体现认识的幼稚。
这样,从理论、法律和实际角度看,越南法律完全符合于国际人权法,尊重和保障言论自由权、新闻自由权、获取信息权等人权。公民在行使言论自由权、新闻自由权、获取信息权中,权利和义务不可分割,是一致的,两者之间互为条件和前提的。公民想要行使言论自由权、新闻自由权、获取信息权就要履行法律的规定,旨在保卫社会制度、保卫国家和其他人的权利和利益。反而,若有违反法律行为,这些权利会被限制或剥夺。
Quyền tự do ngôn luận, báo chí, tiếp cận thông tin với nghĩa vụ công dân
15:30 |
Khung pháp
luật của Nhà nước Việt Nam về quyền tự do ngôn luận, báo chí, tiếp cận thông
tin của công dân là cơ bản đầy đủ, đồng bộ, hoàn toàn tương thích với luật quốc
tế về quyền con người. Trong đó, quy định rõ quyền, nghĩa vụ và việc hạn chế
quyền này của công dân trong trường hợp cụ thể, nhằm bảo vệ lợi ích quốc gia -
dân tộc, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác.
Ở Việt Nam,
“quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu
tình” đã được quy định trong Hiến pháp Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
(2013) và được cụ thể hóa trong nhiều đạo luật, nghị định, như: Luật Báo chí
(2016), Luật Tiếp cận thông tin (2016), Nghị định 72/2013/NĐ-CP, ngày
15-07-2013 của Chính phủ về Quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ internet và
thông tin trên mạng,… và thực thi nghiêm túc, tạo không khí dân chủ trong xã hội2.
Điều đó khẳng định và thể chế hóa quan điểm nhất quán của Đảng và Nhà nước ta
tôn trọng và bảo đảm thực thi quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận
thông tin, quyền sáng tạo tác phẩm báo chí; cung cấp thông tin cho báo chí; phản
hồi thông tin trên báo chí; tiếp cận thông tin báo chí, v.v. Quyền tiếp cận
thông tin của công dân được quy định rộng rãi hơn; đó không chỉ là một quyền thụ
động do cơ quan nhà nước công khai thông tin theo nhận thức của mình, mà còn là
quyền chủ động, được đòi hỏi các cơ quan, tổ chức nhà nước đáp ứng. Trên không
gian mạng, Nhà nước ta đã có những quy định về quyền tự do ngôn luận, báo chí,
tiếp cận thông tin. Theo đó, công dân có quyền được sử dụng các dịch vụ trên
internet, trừ các dịch vụ bị cấm theo quy định của pháp luật và có nghĩa vụ
tuân thủ các quy định về bảo đảm an toàn thông tin, an ninh thông tin; phải chịu
trách nhiệm về nội dung thông tin do mình lưu trữ, cung cấp, truyền đưa trên mạng
xã hội, v.v.
Tuy nhiên,
cũng như các quyền khác của con người, việc thực hiện quyền tự do ngôn luận, tự
do báo chí, tiếp cận thông tin phải do pháp luật quy định và trong khuôn khổ
pháp luật; quy định rõ mối quan hệ giữa quyền với nghĩa vụ công dân; “không được
xâm phạm lợi ích quốc gia - dân tộc, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác”.
Vì thế, việc hạn chế các quyền này “theo quy định của luật trong trường hợp cần
thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức
xã hội, sức khỏe của cộng đồng” là một tất yếu. Những hành vi đăng, phát thông
tin xuyên tạc, phỉ báng, phủ nhận chính quyền; bịa đặt, gây hoang mang trong
nhân dân; xuyên tạc lịch sử; phủ nhận thành tựu cách mạng; xúc phạm dân tộc,
anh hùng dân tộc; thông tin sai sự thật, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của
cơ quan, tổ chức, danh dự, nhân phẩm của cá nhân,... đều bị pháp luật xử lý. Đi
liền với quyền tiếp cận thông tin là những quy định về phân loại những thông
tin mà người dân được tiếp cận và những thông tin cơ quan, tổ chức không được
phép cung cấp. Như vậy, “Quyền công dân không tách rời nghĩa vụ công dân”5;
“nghĩa vụ và trách nhiệm đặc biệt” hoặc “một số hạn chế nhất định” theo quy định
của pháp luật Việt Nam hoàn toàn tương thích, phù hợp với luật quốc tế về quyền
con người.
Hiện nay,
quyền tự do ngôn luận, báo chí ở Việt Nam không những được bảo đảm tốt mà còn
là nhân tố tích cực trong cuộc đấu tranh chống những biểu hiện tiêu cực trong
xã hội. Nhiều vụ tham nhũng lớn được báo chí phanh phui, trước khi cơ quan chức
năng phát hiện, như: vụ án Trịnh Xuân Thanh bắt nguồn từ bài báo “Xe tư gắn biển
xanh” là một minh chứng. Những năm gần đây, các tổ chức đoàn thể, Mặt trận Tổ
quốc tham gia tích cực việc giám sát, phản biện đối với chính sách của Nhà nước.
“Quyền phát biểu ý kiến về tình hình đất nước và thế giới”, tham gia phản biện,
giám sát của cá nhân, tổ chức được Đảng, Nhà nước ta tôn trọng, khuyến khích.
Tuy nhiên, vấn đề là phản biện ở đâu và động cơ phản biện như thế nào để đảm bảo
tính khách quan; tránh hiện tượng “bôi đen” xã hội, bị kẻ xấu lợi dụng gây tổn
hại cho người dân, xã hội và đất nước.
Những năm gần
đây, xuất hiện cái gọi là “đấu tranh bất bạo động”, “bất tuân dân sự”, “hội chứng
đám đông” của một số “người bất đồng chính kiến”, v.v. Những hành vi vi phạm
pháp luật Việt Nam của những “người bất đồng chính kiến” được các hãng thông tấn,
báo chí phương Tây “tăng âm”, phát tán với các bình luận bao che, cổ súy cho
các hành vi phạm tội của họ với luận điệu lặp đi, lặp lại rằng: Việt Nam đang
“bóp nghẹt quyền tự do ngôn luận, báo chí, internet”; “vi phạm quyền con người”,
v.v. Điều này hoàn toàn phi lý và ngang ngược. Vì, pháp luật Việt Nam không có
quy định về cái mà báo chí phương Tây gọi là những “người bất đồng chính kiến”.
Do đó, cũng không có quy định pháp luật nào về tội danh đối với “người bất đồng
chính kiến”; không có quy định nào về những ý kiến “bất đồng” hay ý kiến khác với
Nhà nước là hành vi phạm tội. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, một số người lợi dụng
quyền tự do ngôn luận, tự chụp cho mình cái mác “người bất đồng chính kiến” để
viết, phát tán những nội dung xuyên tạc sự thật, chống phá chế độ xã hội, Nhà
nước trên mạng internet, v.v. Điển hình là: Vũ Quang Thuận, Nguyễn Văn Điển, Trần
Hoàng Phúc, Trần Thị Nga, Nguyễn Ngọc Như Quỳnh,… và họ đã nhận những bản án
thích đáng về “Tội tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam” theo Điều 88, Bộ luật Hình sự (1999). Đó là minh chứng cho cái giá phải trả
của việc lợi dụng tự do ngôn luận, báo chí để thực hiện hành vi vi phạm pháp luật
Việt Nam. Trước Tòa, họ biện luận rằng: họ chỉ là những “người bất đồng chính
kiến”, đấu tranh hợp pháp, bằng “bất bạo động” và điều này hoàn toàn không vi
phạm pháp luật(!) Thực tế chứng minh điều ngược lại. Những người này đã đăng tải
nhiều video/clip trên internet, phỉ báng chính quyền, phao tin bịa đặt, xuyên tạc
sự thật; lợi dụng các quyền tự do dân chủ để xâm phạm lợi ích quốc gia, quyền
và lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân trong xã hội. Nói cách khác, những
“người bất đồng chính kiến” bị pháp luật xử lý là vì hành vi vi phạm pháp luật
của chính họ.
Thực tế trên
thế giới còn cho thấy, những vụ bạo động lật đổ chế độ thường diễn ra theo chuỗi:
bắt đầu bằng đấu tranh “bất bạo động”, “bất tuân dân sự”, phát triển thành gây
rối về an ninh trật tự dựa trên “hội chứng đám đông” và cuối cùng là gây bạo loạn
lật đổ chính quyền từ cục bộ đến cả nước. Không loại trừ những kẻ cầm đầu kêu gọi
lực lượng nước ngoài can thiệp. Đây là “kịch bản kinh điển” của những hoạt động
lật đổ chế độ ở một số quốc gia trên thế giới trong những thập niên gần đây.
Ở Việt Nam,
quyền tự do ngôn luận, nhất là quyền sử dụng mạng internet đã và đang bị các thế
lực thù địch trong và ngoài nước lợi dụng triệt để để vu cáo, bôi nhọ vai trò
lãnh đạo cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam, chống phá chế độ xã hội và Nhà
nước ta. Những luận điệu cho rằng: “Chế độ Hà Nội là độc tài toàn trị”, Đảng Cộng
sản Việt Nam “chiếm quyền” của dân, “đứng trên pháp luật”,… là một sự vu khống
trắng trợn, hoàn toàn sai trái cả về thực tế và lý luận. Cũng như pháp luật của
tất cả các quốc gia trên thế giới và pháp luật nói chung, pháp luật về quyền tự
do ngôn luận nói riêng luôn luôn có mục tiêu bảo vệ chế độ xã hội. Công ước quốc
tế về các quyền dân sự chính trị ghi rõ: mọi dân tộc đều có quyền tự quyết; xuất
phát từ quyền đó, các dân tộc tự do quyết định thể chế chính trị của mình và tự
do phát triển kinh tế, xã hội và văn hóa. Quy định này đã mặc nhiên thừa nhận
các dân tộc có quyền tự quyết lựa chọn chế độ chính trị; quyền và nghĩa vụ công
dân đều do pháp luật của mỗi quốc gia quy định. Hơn nữa, pháp luật luôn mang
tính chính trị, lịch sử và đặc thù về văn hóa. Ở nước ta, sự lãnh đạo của Đảng
Cộng sản Việt Nam đã được Hiến định tại Điều 4, Hiến pháp (2013) và được Quốc hội
- cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân ta, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất
ghi nhận. Đảng ta không chỉ là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội mà còn có
chức năng phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân và hoạt động trong
khuôn khổ của pháp luật. Về thể chế chính trị của nước ta, Điều 2, Hiến pháp
(2013), quy định: “1. Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân; 2. Nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước
thuộc về Nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp
nông dân và đội ngũ trí thức; 3. Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân
công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các
quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”6. Những thông tin, luận điệu cổ súy “đa
nguyên chính trị, đa đảng đối lập”, lấy mô hình “tam quyền phận lập” phương Tây
làm đối chứng để bác bỏ thể chế của Nhà nước ta không chỉ là một thủ đoạn bôi
nhọ chế độ ta, mà còn ấu trĩ trong nhận thức về sự đa dạng các mô hình xã hội
trên thế giới hiện nay.
Như vậy, cả
về lý luận, pháp lý và thực tế cho thấy: pháp luật Việt Nam đã tương thích với
luật quốc tế về quyền con người; tôn trọng và bảo đảm quyền con người nói
chung, quyền tự do ngôn luận, báo chí, tiếp cận thông tin nói riêng. Quyền và
nghĩa vụ công dân trong thực hiện quyền tự do ngôn luận, báo chí, tiếp cận
thông tin không chỉ thống nhất, mà còn là điều kiện, tiền đề cho nhau. Công dân
muốn được hưởng đầy đủ các quyền tự do ngôn luận, báo chí, tiếp cận thông tin
thì phải có nghĩa vụ thực hiện các quy định của pháp luật nhằm bảo vệ chế độ xã
hội, Nhà nước, các quyền và lợi ích của người khác. Ngược lại, các quyền này có
thể bị hạn chế hoặc tước bỏ nếu có hành vi vi phạm pháp luật.
越南愿意推进在海洋经济发展中的合作
22:00 |
值此越南政府总理阮春福访问加拿大并出席七国集团峰会扩大会议之际,加拿大亚太基金会网站就越南对此次会议所作出的贡献以及越南不断提升的国际地位等问题刊登了一篇对阮春福的专访文章。
阮春福介绍越南海洋经济发展和海洋环境保护的政策时表示,21世纪是大洋的世纪,海洋与大洋是沿海国家和地球的生存空间。因此,海洋经济发展和海洋环境保护对越南等沿海国家的可持续发展扮演着重要的角色。阮春福说,越南海洋经济发展潜力巨大,拥有海岸线长达3260公里和大小不一的2770多座沿海岛屿(其中包括被承认为世界遗产的下龙湾),海洋面积100多万平方公里,达到国际标准的海滩多达20个,海产品品种十分丰富。与此同时,越南位于连接印度洋和太平洋的海上通道,地缘战略地位十分重要。越南全国大小港口90个,其中包括国际深水中转港,同时海运、物流行业发展潜力巨大。多年来越南以发展成为海洋强国为目标,力争实现2020年海洋经济占GDP的55%和占全国出口总额的60%。
为了实现上述目标,越南已经和正在开展许多海洋经济发展和海洋环境保护的政策、计划和措施。具体为,越南完善关于海洋和岛屿的政策、法律体制和规划,有效落实《海洋法》、《自然资源法》和其他有关海洋的规定。越南已签署并参加许多关于海洋的公约和协议,为海洋经济发展构建法律框架。同时,同步开展关于海洋研究、开发和科技应用的政策,加大对沿海道路和港口体系建设的投资力度,海洋渔业基础设施进一步完善。迄今,越南已形成15个沿海经济区。2017年水产品出口额达83亿美元,增长19%,创历史新高,2018年前5月水产品出口额达31.5亿美元,同比增长11.1%。海洋环境与生态保护是长期且十分重要的任务。在促进海洋经济发展的同时,让海洋的生态环境得到应有的保护是越南海洋战略的一贯主张,在“开发利用”的同时注重“保护和修复”,决不以牺牲环境为代价换取经济增长。所有海洋经济发展项目需要充分有效遵守环境保护的法律规定。越南政府鼓励国内外企业对海军经济可持续发展,诸如保护海洋生态体系、渔业可持续发展、可再生能源、处理海上废弃物以及提高气候变化和海平面上升的应对能力等进行投资。加强国际合作,为维护各海域和平稳定作出积极且负责任的贡献。越南支持国际社会为保障和平、安全、稳定、航行与航空自由安全和环境保护所作出的努力。越南坚持在遵守国际法,特别是1982年《联合国海洋法公约》的基础上以和平措施解决分歧与争端,尊重外交和法律程序,加强互信,不使用武力或以武力相威胁,充分且有效落实《东海各方行为宣言》以及促进早日达成《东海行为准则》。越南愿意在平等互利和遵守国际法的基础上,推进与世界各国和各伙伴国在海洋经济发展中的合作,面向实现绿色、和平、稳定以及共同发展的大洋。
回答记者关于越南在七国集团峰会扩大会议所作出的贡献的提问时,阮春福表示越南着力奉行独立、自主、国际关系多样化、多边化的对外路线,同时正在主动、积极融入国际一体化进程。作为信赖的朋友与伙伴,越南已经和正在为联合国、东盟、亚太经合组织、亚欧会议等重要多边论坛的共同关心的问题作出积极贡献。近期,越南出席二十国集团峰会和七国集团峰会的系列扩大会议体现了国际社会对越南为巩固地区和平、稳定和共同发展的环境所作出的努力和贡献的充分认可。越南应邀出席2018年七国集团峰会扩大会议既是越南—加拿大全面伙伴关系的新发展步伐,又体现越南在应对气候变化、海洋经济发展、海洋环境保护中所作出的努力,并得到国际社会的认可。越南对加拿大和G7国家关于促进合作防止倾倒废物及其他物质污染海洋、加强性别平等以及为妇女获得应对气候变化的资源和基本服务等表示赞赏。同时,越南建议国际社会商讨面向达成类似应对气候变化的《巴黎协定》的关于防止塑料废弃物倒入海洋的全球性协议。此外,越南建议G7国家考虑成立G7国家与沿海国家关于应对气候变化、海平面上升和保护海洋生态环境的开放性合作论坛。
Việt Nam sẵn sàng tăng cường hợp tác phát triển kinh tế biển
20:30 |
Nhân dịp thăm
Canada và dự Hội nghị Thượng đỉnh Nhóm các nước công nghiệp phát triển hàng đầu
thế giới (G7) Mở rộng tại Charlevoix, tỉnh Quebec, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã
trả lời phỏng vấn Quỹ châu Á-Thái Bình Dương Canada (APF Canada) về những đóng
góp của Việt Nam tại hội nghị và vị thế ngày càng cao của Việt Nam trên trường
quốc tế.
Thủ tướng Chính
phủ Nguyễn Xuân Phúc cho rằng, thế kỷ 21 là thế kỷ của đại dương bởi biển và đại
dương là không gian sinh tồn và phát triển của các quốc gia ven biển và cả hành
tinh, do đó phát triển kinh tế biển và bảo vệ môi trường biển có vai trò rất
quan trọng đối với sự phát triển bền vững của các quốc gia ven biển, trong đó
có Việt Nam. Việt Nam có tiềm năng rất lớn về phát triển kinh tế biển với đường
bờ biển dài 3.260km, vùng biển rộng khoảng hơn 1 triệu km2 với nhiều nguồn tài
nguyên phong phú có giá trị kinh tế cao như hải sản, dầu khí và các loại khoáng
sản. Việt Nam có hơn 2.770 đảo và nhiều vịnh tuyệt đẹp được công nhận là di sản
thế giới như Vịnh Hạ Long và 125 bãi biển có cảnh quan đẹp, trong đó có 20 bãi
biển đạt tiêu chuẩn quốc tế, có tiềm năng rất lớn để phát triển du lịch biển đảo.
Bên cạnh đó, Việt Nam nằm ở vị trí địa-chiến lược rất quan trọng trên tuyến đường
giao thương quốc tế kết nối Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương. Với hơn 90 cảng biển,
trong đó có những cảng biển sâu trung chuyển quốc tế, Việt Nam có tiềm năng rất
lớn về phát triển vận tải biển, dịch vụ trung chuyển và hậu cần. Kinh tế biển
và phát triển hướng ra biển là định hướng chiến lược phát triển của Việt Nam
trong nhiều năm qua với tầm nhìn xây dựng Việt Nam trở thành một quốc gia mạnh
về biển. Việt Nam đặt mục tiêu đến năm 2020, kinh tế trên biển và ven biển đóng
góp khoảng 55% Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) và 60% kim ngạch xuất khẩu của đất
nước.
Để thực hiện
tầm nhìn và mục tiêu nói trên, Việt Nam đã và đang triển khai nhiều chính sách,
kế hoạch và biện pháp phát triển kinh tế biển và bảo vệ môi trường biển. Việt
Nam đã và đang hoàn thiện thể chế chính sách, pháp luật và quy hoạch về biển và
hải đảo; triển khai tốt Luật Biển, Luật Tài nguyên, môi trường biển-hải đảo và
các quy định liên quan đến biển; ký và tham gia nhiều công ước, thỏa thuận quốc
tế về biển nhằm tạo khuôn khổ pháp lý cho phát triển kinh tế biển. Thực hiện đồng
bộ các chính sách nghiên cứu, phát triển và ứng dụng khoa học-công nghệ biển;
hiện đại hóa cơ sở hạ tầng biển phục vụ kinh tế biển như các tuyến đường ven biển,
hệ thống cảng biển… Việt Nam cũng ưu
tiên bảo vệ môi trường, sinh thái biển là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng, thường
xuyên và lâu dài; phát triển kinh tế biển đi đôi với bảo vệ môi trường biển là
chủ trương nhất quán trong chiến lược biển của Việt Nam với nguyên tắc “sử dụng
và khai thác” phải đi đôi với “giữ gìn và tái tạo," không đánh đổi môi trường
lấy tăng trưởng kinh tế. Tất cả các dự án phát triển kinh tế biển phải bảo đảm
thực hiện đầy đủ, hiệu quả các quy định pháp luật về bảo vệ môi trường. Đẩy mạnh
hợp tác và hội nhập quốc tế, đóng góp tích cực và có trách nhiệm vào củng cố
hòa bình, ổn định trên các vùng biển. Việt Nam ủng hộ các nỗ lực của quốc tế nhằm
thiết thực góp phần bảo đảm hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn, tự do hàng hải,
hàng không và bảo vệ môi trường biển. Việt Nam kiên trì giải quyết những khác
biệt và tranh chấp bằng biện pháp hòa bình, tuân thủ luật pháp quốc tế, nhất là
Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982; tôn trọng tiến trình ngoại giao
và pháp lý; tăng cường sự tin cậy lẫn nhau; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử
dụng vũ lực; thực hiện đầy đủ và hiệu quả Tuyên bố Về ứng xử của các bên ở Biển
Đông (DOC); thúc đẩy sớm đạt được Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC) thực chất
và hiệu quả. Việt Nam sẵn sàng đẩy mạnh hợp tác với tất cả các nước và các đối
tác trong phát triển kinh tế biển trên cơ sở bình đẳng, cùng có lợi, tuân thủ
luật pháp quốc tế để cùng nhau hướng tới đại dương xanh, hòa bình, ổn định và
cùng phát triển thịnh vượng.
Về những
thông điệp, sáng kiến của Việt Nam tại Hội nghị Thượng đỉnh G7 mở rộng năm nay,
Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc khẳng định, triển khai đường lối đối ngoại
độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế, Việt Nam đang chủ
động, tích cực hội nhập quốc tế sâu rộng trong nhiều lĩnh vực. Với tinh thần là
bạn và đối tác tin cậy, Việt Nam đã và đang đóng góp tích cực và có trách nhiệm
vào những vấn đề quan tâm chung của quốc tế tại nhiều diễn đàn đa phương quan
trọng như Liên hợp quốc, ASEAN, APEC, ASEM… Việc Việt Nam được Canada mời dự Hội
nghị Thượng đỉnh G7 mở rộng năm 2018 vừa là một bước phát triển mới của quan hệ
Đối tác toàn diện Việt Nam - Canada được thiết lập tháng 11/2017, vừa cho thấy
vai trò, vị thế cũng như những nỗ lực của Việt Nam trong ứng phó biến đổi khí hậu,
phát triển kinh tế biển và bảo vệ môi trường biển được cộng đồng quốc tế ghi nhận.Tại
hội nghị này, Việt Nam đã đóng góp thực chất và có trách nhiệm trong thảo luận
nhiều nội dung quan trọng, nhất là thúc đẩy thực hiện nghiêm túc Thỏa thuận Paris
về chống biến đổi khí hậu, bảo vệ môi trường sinh thái biển, ngăn ngừa xả rác
thải nhựa ra đại dương. Việt Nam hoan nghênh sáng kiến của Canada và các nước
G7 thúc đẩy hợp tác ngăn ngừa xả rác thải ra đại dương, tăng cường bình đẳng giới
và tạo thuận lợi cho phụ nữ tiếp cận các nguồn lực và các dịch vụ cơ bản trong ứng
phó biến đổi khí hậu. Về phần mình, Việt Nam đã đề xuất cộng đồng quốc tế thảo
luận khả năng tiến tới một thỏa thuận toàn cầu về ngăn ngừa xả rác thải nhựa ra
đại dương tương tự như Thỏa thuận Paris về chống biến đổi khí hậu. Bên cạnh đó,
Việt Nam cũng đề nghị các nước G7 xem xét thành lập một diễn đàn hợp tác mở rộng
giữa các nước G7 và các quốc gia ven biển về ứng phó biến đổi khí hậu, nước biển
dâng và bảo vệ môi trường sinh thái biển. Các sáng kiến này của Việt Nam đều xuất
phát từ nhu cầu cấp thiết của cộng đồng quốc tế về tăng cường hợp tác thực chất
và hiệu quả trong ứng phó biến đổi khí hậu và bảo vệ môi trường biển, do đó được
nhiều nước tham dự hội nghị hoan nghênh và ghi nhận tích cực. Việt Nam sẵn sàng
tăng cường hợp tác với tất cả các nước và các đối tác triển khai các sáng kiến
nói trên bằng các chương trình, dự án cụ thể và thiết thực vì sự phát triển bền
vững và phồn vinh chung của cả hành tinh chúng ta./.
Hot (焦点)
-
胡志明是二十世纪越南革命杰出的马克思主义思想家。他老人家的思想是马克思列宁主义在符合越南的条件和历史背景基础上的运用、发展与创新,体现着时代精神及现代与当代世界的运动与发展趋势。 1 、胡志明思想、道德、风格体系的道德榜样。他老人家的思想合成了越南革命及革命之路的战略策...
-
为维护国家海岛主权,越南历代封建王朝都着重投资建设强大的水军力量。越南丁、李、陈、黎、阮等王朝的水军力量不断得到加强和完善。这支水军为捍卫祖国事业作出了巨大贡献,在各个阶段留下了历史烙印。 至今还收藏的古籍显示,越南历代封建王朝早已对黄沙群岛和长沙群岛确立主权、实施...
-
1954 年《日内瓦协议》签署之后,越南暂时被分成南北两方不同政治制度的政体。据此,越南北纬 17 度以南的领土(包括黄沙、长沙两群岛)由越南共和国政府管辖。根据《协议》规定,法国殖民者被迫撤离越南之后,西贡政权立即派遣海军力量接管黄沙、长沙两群岛并对其行使主权。与此同时,...
-
(VOVWORLD) - 越南伟大领袖胡志明主席的思想、道德、作风、革命生涯是越南全党、全民学习和实践胡志明道德榜样的生动和具有说服力的楷模。至今,越南开展学习和实践胡志明道德榜样运动已有 8 年并取得多项重要结果。 胡志明主席在其革命生涯中牺牲个人利益,为祖国和人...
-
越南的黄沙群岛位于东海(中国称南海)北边,处于北纬 15°45′ 至 17°15′ 、东经 110° 至 113° ,距越南广义省李山岛约 120 海里。黄沙群岛由 37 多个岛、洲、礁和沙滩组成,分为西面和东面两个群岛。东面为安永群岛(中国称宣德群岛),由 12 个岛、洲...
-
数十年来,中国人拿出大量书籍、资料和史料,企图证明从两千年前的汉朝起,中国人就发现了西沙和南沙(即越南的黄沙群岛和长沙群岛),从而说古代中国发现西沙南沙群岛就足够证明中国对西沙和南沙的不可争议的领土主权。据说,中国人最迟于唐宋发现南沙群岛至今,就一直在岛上及其海域从事生产活...
-
越南对黄沙、长沙两座群岛的主权不仅在越南古籍和古文献中有记载,而且还出现在西方航海家和传教士等的书籍、报纸、地图、日记、航路指南等外国资料中。这些资料描述黄沙、长沙“是越南中部海上的一块沙渚…”,这和越南同一历史时期资料和古地图描述的类似。法国 1936 年在印度支那建立的...
-
BDN - 位于东海边国土陆地呈 “S” 字形的越南,无形中拥有沿着国土走向三千公里海岸及依照 1982 年《联合国海洋法公约》从岸边向外延伸的辽阔海域。这意味着从越南 1982 年 11 月确定和公布的垂直基线算起往外延伸 200 海里宽的海域属越南的主权,被称作专属经济...
-
从十六、十七世纪至今,西方国家的轮船日益频繁来往于东海。他们来到这里,不只为了扩大贸易还为了传教和传播西方文化。在来往东海期间,西方航海家和传教士们以当时最现代的技术很详细地描述和绘画黄沙群岛和长沙群岛,以避免这两个群岛的礁石给来往的船舶造成危害。为此,他们很仔细地研究东海...
-
香港媒体最近透露中国在东海划分“新边界线”的海洋研究项目,为“资源研究”创造了条件,北京对这片海域的主权主张“增添了筹码”。这条新边界线是一条与囊括了蕴藏着丰富矿产和能源资源的东海海域九段线相吻合的实线,九段线内的海域就是北京声索主权的那片海域。 从国际法的角度来看实线...











