中国设法重新解释在东海的无理的主权

06:44 |

国际常设仲裁庭2016年就东海仲裁案作出裁决,驳斥了中国《九段线》及《历史权》主张,并裁定长沙群岛任何岛屿和实体都没有200海里专属经济区和大陆架。尽管中国拒绝接受裁决,但常设仲裁庭的裁决对北京东海主张产生了巨大影响。北京一面顽固坚持东海主权主张因为害怕世界认为中国接受常设仲裁庭的裁决,一面为声索拼凑依据以钻常设仲裁庭裁决的“空子”以便让中国“自认”的东海利益得以保存,至少是在法理方面,同时缓解舆论对北京不执行常设仲裁庭裁决的谴责。
在此背景下,北京于2017年提出《四沙》主张,但对主张的内容和法理依据未作具体说明。至今,经过一段时间“闻听风声”后致函联合国“正式”提出《四沙》主张。从北京说明的种种理由来看,《四沙》主张包括两项重要内容:声索东海诸岛主权以及诸岛周围海域主权和管辖权。中国外交部条约法律司副司长马新民称,《四沙》包括东沙(Pratas)、西沙(越南称黄沙)、南沙(越南称长沙)和中沙(Macclesfield)四岛及其周边海域(等于几乎整个东海)。马新民说,《四沙》是中国的“历史性海域”,也是中国200海里专属经济区的一部分。北京还声称,《四沙》是中国大陆架延伸的一部分,所以中国拥有主权。
《四沙》主张从本质上来讲反映了中国“独吞”东海的野心丝毫没有改变。北京声索《四沙》主权,然后推论说,中国拥有《四沙》周边海域的主权、主权权利和管辖权。可以看出,此战术使中国声索的海域范围与此前的《九段线》主张的海域范围不相上下。换句话说,《四沙》主张是中国取代被常设仲裁庭裁决为非法的《九段线》主张的新法理战术。
从法理角度来看,与此前的《九段线》主张一样,中国基于《四沙》主权对其周边海域提出主权主张也是另一个含糊不清、无法理依据、缺乏逻辑的版本。具体说来就是:
第一、有关主权主张的法理依据,尽管中国一直重申中国最早发现、命名东海诸岛,却拿不出证明中国对黄沙群岛和长沙群岛实施国家主权的凭据。
第二、关于直线基线划定问题,对《四沙》中的任何一个群岛,中国都没有划定直线基线的法理依据。依照1982年《联合国海洋法公约》的有关规定,中国不是群岛国,所以中国不能应用直线基线划分法。即使中国划定群岛直线基线也不能满足1982年《联合国海洋法公约》规定的水域面积与陆地面积的比例应为一比一至九比一之间的要求。中国为大陆国家划定群岛直线基线这个致命弱点辩解时声称,1982年《联合国海洋法公约》第47条规定的群岛直线基线划分法不限定在群岛国家,许多大陆国家已把群岛直线基线划分法采用到一些群岛并形成了国际惯例。这种说法是不对的,大陆国家采用群岛直线基线法划定群岛基线的例子并不多。特别是在《联合国海洋法公约》协商制定过程中,关于采用群岛直线基线法划定大陆国家群岛基线的问题虽然已被谈及但遭到与会国的反对,不予公认。因此,这是错误应用1982年联合国海洋法公约规定的做法,根本不像中国所说的那样形成了国际惯例。
第三、《四沙》主张更广阔的海域。东海岛礁的一般特点是珊瑚礁和较小面积,并且处于不能维持人类居住或其本身经济生活的原始状态。正因为这样,审理菲律宾东海仲裁案的常设仲裁庭作出的裁决裁定,长沙群岛的岛礁和斯卡伯勒沫滩没有专属经济区和大陆架。《四沙》具有类似特点,所以常设仲裁庭的裁决也适用于《四沙》。中国2016年白皮书也说,东海诸岛分别由数量不等、大小不一的岛、礁、滩、沙等组成。按照1982年《联合国海洋法公约》的规定,这些礁滩最多只能有12海里海域,与中国声索的海域相比要小得很多。因此,声索《四沙》,包括黄沙群岛和长沙群岛200海里专属经济区和大陆架是与对中国具有法理约束力的常设仲裁庭的裁决背道而驰的。
根据1982年《联合国海洋法公约》第7、第10、第47条及国际仲裁机构的解释,划定外海及远离海岸若干岛屿直线基线是不符合公约的。同时,《联合国海洋法公约》生效前及生效后的国际实践和各国的法理观点均表明,大陆国家对外海群岛采用直线基线的国际惯例是不存在的。必须记得,中国1996年批准1982年《联合国海洋法公约》时,中国就承认公约对中国的约束力(包括第7、第10和第47条)。中国若为其声索的《四沙》划定直线基线并以国际惯例为依据,那么,按照审理菲律宾对中国提起的东海仲裁案的常设仲裁庭的观点,这种行为降低了《联合国海洋法公约》的法理价值,违反了《联合国海洋法公约》第300条关于“缔约国应诚意履行根据本公约承担的义务”的规定,违背了中国也为成员国的1969年《维也纳条约法公约》关于尽力与诚意履行国际条约法律的原则。因此,中国要证明自己是尊重国际法和履行国际条约义务的国家,最佳做法是放弃1996年蓄意划定的黄沙群岛周围海域直线基线。
从中国这次改变东海主张战术的事件我们可以看清:1)中国正玩弄主权主张含混“伎俩”,蓄意变换让世界误解和容易接受的不同说法。2)现在中国正在展开东海《法理战》攻势,视之为中国东海政策中的有效工具之一,以逐步“合法化”主权主张并按照中国观点宣传海洋法。3)中国正打算像划定黄沙群岛直线基线那样划定《四沙》中的其它《三沙》周边海域的直线基线,并以此声索专属经济区和大陆架主权。这样,中国声索的“四沙”海域范围大于此前《九段线》声索的海域。例如,长沙群岛海域囊括了斯卡伯勒沫滩,中国最南端将延伸至曾母暗沙(属长沙海域)。
但是,无论中国如何地伪造,国际社会仍然认清其伎俩和野心,并且共同作出反应和予以驳斥。
中国提出《四沙》主张不久,美国务院发言人重申美国对东海问题的一如既往的立场。那就是各国声索海域时必须符合1982年《联合国海洋法公约》和国际法。美《太平洋舰队》前司令吉姆-费恩(Jim Fanell)指出,中国声索《四沙》主权是其声索整个东海的《萨拉米香肠战术》中符合逻辑的步骤,以取代遭到地区和世界反对的《九段线》主张。
许多国际法律专家认为,中国海洋主权主张新“论点”虽然缺乏法理依据甚至不如《九段线》主张,但也给中国带来了一定的利益:1)此前提出的《九段线》主张使中国成为国内国外的谴责焦点,《四沙》主权主张遭到的谴责要少得多,尤其是来自华人的谴责。2)中国可以解缓国际社会的反对并获得地区潜在合作伙伴的支持(比如菲律宾),因为声索的文字接近1982年《联合国海洋法公约》的规则。3)作为正在崛起的大国中国很想参与制定“游戏规则”,具体是设法重新解释1982年《联合国海洋法公约》的规定和现行国际法的规定以适合中国的国家利益。中国可以依靠其国际律师和法律学者队伍来寻求国际社会的支持,这正是中国为强化其东海主张而正在展开的法理战、媒体战和心理战的协同战役。
美国法律学者朱利安-库(Julian Ku)和克里斯托弗-米拉索拉(Christopher Mirasola)最近在布鲁金斯研究院(Brookings Institution)的Lawfare网站发表题为《东海与中国的四沙主张:法律新理论和依旧糟糕的说法》。文章说,在法律方面,中国就《四沙》提出的理论同以前的《九段线》相比强不了多少。这不是什么新概念,在中国此前的法律文件和正式声明中早已出现过。具体是1992年中国领海和毗连区法声称,中国领土包括“东沙、西沙、中沙和南沙”。中国2016年与菲律宾发生争端时公布的白皮书也声称,中国南海诸岛主权包括分别由数量不等、大小不一的岛、礁、滩、沙等组成的岛屿。中国1996年印行黄沙群岛及其周边海域直线基线,并视之为唯一地理单位以最大限度地扩展主张范围。以上提到的所有文件与常设仲裁庭的裁决格格不入,因为常设仲裁庭2016年的裁决裁定长沙群岛的任何岛礁都没有拥有12海里海域的足够大的面积。中国不像印尼和菲律宾那样是由多个岛屿组成的国家,所以所有国家都把中国划定若干岛屿直线基线的做法是与1982年《联合国海洋法公约》背道而驰的。文章指出,中国不具备1982年《联合国海洋法公约》第47条规定的条件,因为中国陆地与其声索的海域相距一万八千里。文章总结说,在等待《九段线》被扔进历史垃圾桶的时候很难相信主张《四沙》的北京会在东海扮演“谦和”的角色。
总而言之,无论提出《九段线》主张是《四沙》主张,中国都暴露了其“独吞”东海的嘴脸。这两个主张都是无理的、非法的、不符合国际法规定的。尽管这样,中国仍然企图在取得最有利的正式声明前继续强化东海活动和控制权,同时利用含糊不清的概念来作任意解释。因此,各国和各国际组织必须保持清醒头脑,警惕中国的这一欺骗伎俩。

Đọc thêm...

TQ tìm cách giải thích lại “chủ quyền” vô lý ở Biển Đông

06:25 |

Năm 2016, khi ra phán quyết về vụ kiện giữa Philippines và Trung Quốc về tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông, Tòa Trọng tài thường trực quốc tế (PCA) đã bác bỏ yêu sách “quyền lịch sử” của Trung Quốc theo “đường chín khúc” và xác định, không cấu trúc địa lý nào tại quần đảo Trường Sa có vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý và thềm lục địa. Mặc dù Trung Quốc không công nhận PCA và một mực bác bỏ phán quyết trên, nhưng kết luận của PCA cũng đã tác động lớn đến các yêu sách của Bắc Kinh tại Biển Đông. Đó là họ một mặt khư khư bám giữ, không dám từ bỏ các yêu sách đã tuyên bố trước đây vì lo ngại bị thế giới cho rằng Trung Quốc đã chấp nhận phán quyết của PCA. Mặt khác, Trung Quốc thấy cần thiết phải xây dựng yêu sách và lập luận mới để “lách” khỏi những gì PCA đã tuyên nhằm bảo đảm các lợi ích mà họ “nhận xằng” tại Biển Đông vẫn được giữ nguyên, ít nhất là về mặt pháp lý, đồng thời, giảm nhẹ các chỉ trích về việc Bắc Kinh không tuân thủ phán quyết của PCA.
Trong bối cảnh đó, năm 2017, Trung Quốc đưa ra yêu sách “Tứ Sa” một cách không chính thức và cũng không giải thích cụ thể cả về nội dung và cơ sở pháp lý của yêu sách này và đến nay, sau một thời gian “nghe ngóng” tình hình, họ mới “chính thức hóa” yêu sách đó bằng công hàm trước Liên hợp quốc. Với các lý lẽ mà họ đưa ra, có thể thấy yêu sách “Tứ Sa” bao gồm hai đòi hỏi quan trọng là chủ quyền đối với các nhóm cấu trúc đá và bãi ngầm tại Biển Đông và chủ quyền, quyền chủ quyền tạo ra từ các vùng biển bao quanh các nhóm cấu trúc đó. Phó Vụ trưởng Vụ Luật pháp và Điều ước Bộ Ngoại giao Trung Quốc Mã Tân Dân đã đưa ra khẳng định “chủ quyền” của Trung Quốc đối với “Tứ Sa” bao gồm bốn nhóm đảo: Đông Sa (Pratas), Tây Sa (Hoàng Sa), Nam Sa (Trường Sa) và Trung Sa (Macclesfield), đồng thời cũng đòi hỏi quyền được hưởng vùng biển rộng lớn (gần như toàn bộ Biển Đông) xung quanh bốn khu vực quần đảo này. Ông Mã nhấn mạnh rằng, khu vực này là vùng “lãnh hải lịch sử” của Trung Quốc và cũng là một phần của vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý của Trung Quốc. Bắc Kinh cũng yêu sách quyền “sở hữu” bằng việc khẳng định “Tứ Sa” là một phần của thềm lục địa mở rộng của Trung Quốc.
Về bản chất, yêu sách “Tứ Sa” vẫn phản ánh tham vọng không thay đổi của Trung Quốc là “độc chiếm” Biển Đông thông qua việc khẳng định “chủ quyền” với “Tứ Sa” và kết luận rằng, các cấu trúc đá và bãi ngầm tại đây có đầy đủ các vùng biển thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán. Có thể thấy chiến thuật này cũng giúp cho Trung Quốc yêu sách vùng biển có phạm vi gần như không khác biệt mấy so với yêu sách “đường chín khúc” trước đây. Nói cách khác, việc đưa ra yêu sách này là chiến thuật pháp lý mới của Trung Quốc, thay thế cho yêu sách “đường chín khúc” sau khi nó chính thức bị tuyên bố là bất hợp pháp bởi phán quyết của PCA.
Xét dưới góc độ pháp lý, giống như yêu sách “đường chín khúc” trước đây, yêu sách các vùng biển dựa trên chủ quyền đối với “Tứ Sa” mà Trung Quốc đưa ra cũng là một phiên bản mơ hồ, thiếu rõ ràng, lập luận pháp lý không có căn cứ và thiếu logic, cụ thể:
Thứ nhất, về cơ sở pháp lý của yêu sách chủ quyền, mặc dù Trung Quốc luôn khẳng định đã phát hiện, đặt tên cho các cấu trúc địa lý tại Biển Đông từ thời kỳ cổ đại nhưng không có bằng chứng nào được đưa ra để minh chứng cho hành động thực thi chủ quyền của Trung Quốc với các nhóm đảo Hoàng Sa và Trường Sa với tư cách nhà nước.
Thứ hai, về việc xác lập đường cơ sở quần đảo, Trung Quốc không có cơ sở pháp lý để thiết lập đường cơ sở quần đảo đối với bất cứ nhóm đảo nào thuộc “Tứ Sa”. Vì đối chiếu với các quy định của Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS 1982), Trung Quốc không phải là quốc gia quần đảo. Do đó, Trung Quốc không thể áp dụng phương pháp vẽ đường cơ sở thẳng quần đảo, và cho dù Trung Quốc vẽ đường cơ sở thẳng như vậy thì cũng không thể đáp ứng được yêu cầu tỷ lệ diện tích nước so với diện tích đất nằm trong khoảng 1/1 và 9/1 theo quy định của UNCLOS 1982. Để biện minh cho điểm yếu “chí mạng” là quốc gia lục địa, sao lại áp dụng phương pháp vẽ đường cơ sở thẳng quần đảo, Trung Quốc lập luận rằng, phương pháp đường cơ sở quần đảo theo quy định tại Điều 47 UNCLOS 1982 không chỉ giới hạn cho các quốc gia quần đảo, trên thực tế, nhiều quốc gia lục địa cũng áp dụng đường cơ sở quần đảo cho các nhóm đảo và tạo thành tập quán quốc tế. Lập luận này không đúng vì số lượng các quốc gia lục địa áp dụng phương pháp đường cơ sở quần đảo cho các nhóm đảo như vậy rất ít. Đặc biệt, trong quá trình đàm phán xây dựng UNCLOS, vấn đề áp dụng đường cơ sở quần đảo cho nhóm đảo của quốc gia lục địa đã được đề cập và bị các nước tham gia đàm phán bác bỏ, không công nhận. Vì vậy, đây là các thực tiễn áp dụng sai quy định của UNCLOS 1982, không tạo ra tập quán quốc tế như Trung Quốc cố tình diễn giải.
Thứ ba, về yêu sách vùng biển rộng lớn cho “Tứ Sa”: Các thực thể ở Biển Đông có chung đặc điểm địa lý là các cấu tạo san hô, có diện tích nhỏ và với các điều kiện tự nhiên nguyên sơ ban đầu, không có khả năng cho con người sinh sống và không có đời sống kinh tế riêng. Chính vì vậy, phán quyết của PCA trong vụ kiện của Philippines đã khẳng định các cấu trúc địa lý của Trường Sa và Scarborough/Hoàng Nham không có vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa riêng. Với đặc điểm tự nhiên tương đồng, kết luận này của PCA cũng có thể áp dụng với tất cả các nhóm đảo khác trong lập luận “Tứ Sa”, bao gồm Đông Sa (Pratas), Tây Sa (Hoàng Sa), Trung Sa (Macclesfield). Đồng thời, chính Trung Quốc cũng thừa nhận trong Sách trắng năm 2016 của mình rằng, nhiều cấu trúc tại các quần đảo này có điều kiện tự nhiên khác nhau bao gồm đá ngầm, bãi cạn, cồn cát… Do đó, một số cấu trúc địa lý chỉ có thể tạo ra vùng biển tối đa 12 hải lý theo quy định của UNCLOS 1982 - phạm vi nhỏ hơn rất nhiều so với vùng biển mà Trung Quốc muốn yêu sách. Vì vậy, yêu sách vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý cho “Tứ Sa”, trong đó có Trường Sa, Hoàng Sa là đi ngược lại kết luận của PCA có giá trị pháp lý ràng buộc với Trung Quốc.
Căn cứ các Điều 7, 10 và 47 của UNCLOS 1982 cũng như cách giải thích của các cơ quan tài phán quốc tế, việc xác lập đường cơ sở thẳng bao quanh các nhóm cấu trúc địa lý ngoài khơi và xa bờ là không phù hợp với Công ước. Đồng thời, thực tiễn quốc tế cũng như “quan điểm pháp lý” của các quốc gia thể hiện trước và sau khi UNCLOS có hiệu lực đều cho thấy, không tồn tại tập quán quốc tế cho phép các quốc gia ven biển được xác lập đường cơ sở thẳng bao quanh các nhóm cấu trúc địa lý ngoài khơi và xa bờ. Nên nhớ, khi phê chuẩn UNCLOS vào năm 1996, Trung Quốc đã chấp thuận sự ràng buộc của Công ước (bao gồm cả các Điều 7, 10 và 47). Nếu Trung Quốc xác lập đường cơ sở thẳng bao quanh 4 nhóm cấu trúc địa lý tại Biển Đông theo yêu sách “Tứ Sa” và viện dẫn tập quán quốc tế làm cơ sở pháp lý, thì theo quan điểm của PCA trong vụ kiện giữa Philippines và Trung Quốc, hành vi này sẽ làm giảm giá trị pháp lý của UNCLOS, đồng thời vi phạm nghĩa vụ tuân thủ UNCLOS theo Điều 300 của Công ước và nguyên tắc tận tâm, thiện chí thực hiện các điều ước quốc tế được quy định trongCông ước Viên về luật Điều ước quốc tế năm 1969 mà Trung Quốc cũng là thành viên. Vì vậy, cách tốt nhất để thể hiện là một quốc gia tôn trọng luật pháp quốc tế và chứng minh nghĩa vụ thực hiện điều ước quốc tế, Trung Quốc cần từ bỏ đường cơ sở bao quanh Hoàng Sa mà họ cố tình xác lập năm 1996.
Bước chuyển chiến thuật về yêu sách và diễn giải yêu sách tại Biển Đông lần này của Trung Quốc cho thấy: (1) Bắc Kinh đang “chơi trò” mập mờ trong yêu sách chủ quyền để có thể biến hóa ra nhiều cách diễn giải khác nhau, làm cho thế giới hiểu nhầm và dễ chấp nhận. (2) Hiện nay, Trung Quốc đang tiến hành cuộc chiến trên “mặt trận pháp lý” ở Biển Đông, coi đây là một trong những công cụ hữu ích trong chính sách Biển Đông để từng bước “hợp thức hóa” yêu sách chủ quyền và tuyên truyền Luật biển theo quan điểm riêng của Trung Quốc. (3) Trung Quốc đang tính đến khả năng vẽ đường cơ sở quần đảo đối với 3 quần đảo còn lại trong số 4 quần đảo thuộc “Tứ Sa” như đã làm đối với quần đảo Hoàng Sa và đưa ra yêu sách đối với vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa được xác định dựa trên đường cơ sở các quần đảo này. Như vậy, vùng biển mà Trung Quốc yêu sách được tạo ra từ đường cơ sở thẳng của các quần đảo trên sẽ có phạm vi rộng hơn cả vùng biển tạo ra bởi yêu sách “đường chín khúc” trước đây. Ví dụ: Vùng biển của quần đảo Trung Sa sẽ bao gồm cả bãi cạn Scarborough và điểm cực Nam của Trung Quốc sẽ đến tận James Shoal (thuộc vùng biển của Trường Sa).
Tuy nhiên, dù Trung Quốc có ngụy tạo cách gì thì cộng đồng quốc tế vẫn nhận ra được “chiêu trò” và “dã tâm” của họ, cùng nhau đồng thanh lên tiếng bác bỏ và phản ứng mạnh mẽ.
Ngay sau khi Trung Quốc đưa ra yêu sách “Tứ Sa”, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Mỹ lúc đó đã nhắc lại lập trường nhất quán của Mỹ trong vấn đề Biển Đông, đó là các yêu sách biển của các quốc gia phải phù hợp với Luật biển quốc tế được phản ánh trong UNCLOS 1982. Trong khi đó, cựu Tư lệnh tình báo Hạm đội Thái Bình Dương Mỹ Jim Fanell cho rằng, việc Trung Quốc tuyên bố chủ quyền đối với “Tứ Sa” là bước đi logic tiếp theo trong chiến lược “lát cắt salami” nhằm yêu sách toàn bộ Biển Đông của quốc gia này, thay thế cho yêu sách “đường chín khúc” vốn bị phản đối mạnh mẽ từ các quốc gia khác trong khu vực và trên thế giới.
Nhiều chuyên gia luật pháp quốc tế cũng cho rằng, mặc dù đưa ra “luận điểm” mới về yêu sách chủ quyền trên biển rất thiếu cơ sở về mặt pháp lý, thậm chí còn thiếu hơn cả yêu sách “đường chín khúc”, nhưng nó vẫn đem lại cho Trung Quốc một số lợi ích nhất định. Đó là: (1) Việc đưa ra yêu sách “đường chín khúc” trước đây đã khiến Trung Quốc trở thành tâm điểm của nhiều sự chỉ trích ở cả trong và ngoài nước, trong khi yêu sách chủ quyền đối với “Tứ Sa” có thể vấp phải ít sự chỉ trích hơn, nhất là đối với người Trung Hoa. (2) Trung Quốc có thể làm giảm thiểu sự phản đối của cộng đồng quốc tế và giành được sự ủng hộ của các đối tác tiềm năng trong khu vực (ví dụ như Philippines) nhờ việc tuyên bố yêu sách với câu chữ gần với quy định của UNCLOS 1982 hơn. (3) Với vai trò là một cường quốc đang lên, Trung Quốc rất muốn tham gia vào việc định hình “luật chơi”, cụ thể là tìm cách giải thích lại các quy định của UNCLOS 1982 và các quy định hiện hành của luật pháp quốc tế theo hướng phù hợp với lợi ích quốc gia của mình. Trung Quốc có thể dựa vào đội ngũ luật sư và học giả luật pháp quốc tế của họ để tìm kiếm sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế - đây chính là việc sử dụng kết hợp giữa chiến tranh pháp lý, chiến tranh truyền thông và chiến tranh tâm lý mà Trung Quốc đang triển khai để củng cố yêu sách của họ trên Biển Đông.
Trong một bài viết mới đây của hai chuyên gia về công pháp quốc tế là Julian Ku và Christopher Mirasola trên trang Lawfare - một trang chuyên về an ninh do Lawfare Institute và Brookings Institution (Mỹ) thực hiện, với sự hợp tác của nhiều luật gia, có tựa đề “Biển Đông và yêu sách Tứ Sa của Trung Quốc: Lý thuyết mới về pháp luật, nhưng lập luận tệ hại như cũ”, hai chuyên gia trên cho rằng, về mặt luật pháp, lý lẽ mà Trung Quốc đưa ra về “Tứ Sa” cũng chẳng có gì hơn so với “đường chín khúc” lâu nay. Nó không phải là một khái niệm mới mẻ, thậm chí đã xuất hiện từ lâu trong các văn kiện pháp lý và tuyên bố chính thức của quốc gia này. Cụ thể: Luật về lãnh hải và đường tiếp giáp của Trung Quốc năm 1992 đã tuyên bố lãnh thổ Trung Quốc bao gồm cả “Đông Sa, Tây Sa, Trung Sa và Nam Sa”. Sách Trắng Trung Quốc công bố năm 2016 khi tranh chấp với Philippines cũng khẳng định chủ quyền “Nam Hải chư đảo” (các đảo trên Biển Đông) gồm bốn nhóm đảo trên, kể cả “các đảo, rạn san hô, bãi cạn, thực thể có số lượng và kích thước khác nhau”. Năm 1996, Trung Quốc ấn định các đường cơ sở bao quanh quần đảo Hoàng Sa, coi đây là một đơn vị địa lý duy nhất nhằm mở rộng tối đa yêu sách. Tất cả những văn kiện nêu trên của Trung Quốc hoàn toàn không phù hợp với phán quyết của PCA, vì phán quyết của PCA năm 2016 đã khẳng định, không một thực thể nào ở Trường Sa đủ lớn để có được lãnh hải 12 hải lý xung quanh. Do Trung Quốc không phải là một quốc gia gồm nhiều đảo hợp lại như Indonesia hay Philippines, nên hầu hết các nước đều coi việc vẽ ra những đường cơ sở xung quanh một nhóm đảo là đi ngược lại với UNCLOS. Hai chuyên gia Julian Ku và Christopher Mirasola khẳng định, Trung Quốc không hội đủ điều kiện quy định tại Điều 47 của UNCLOS, vì đất liền Trung Quốc cách xa tít tắp vùng biển họ yêu sách; đồng thời kết luận, trong khi chờ đợi “đường chín khúc” bị quẳng vào thùng rác của lịch sử, khó có thể tin rằng với “Tứ Sa”, Bắc Kinh sẽ đóng một vai trò “khiêm tốn” hơn tại Biển Đông.
Tóm lại, dù là đưa ra yêu sách “đường chín khúc” hay yêu sách “Tứ Sa”, Trung Quốc đều thể hiện tham vọng muốn “độc chiếm” Biển Đông. Và chúng đều là những yêu sách phi lý, bất hợp pháp, không phù hợp với các quy định của pháp luật quốc tế. Thế nhưng, Trung Quốc muốn lợi dụng sự mập mờ để có thể triển khai nhiều cách diễn giải khác nhau trước khi có một tuyên bố chính thức có lợi nhất, trong khi tiếp tục đẩy mạnh các hoạt động trên thực địa nhằm củng cố quyền kiểm soát trên Biển Đông. Vì thế, các nước, các tổ chức quốc tế cần tỉnh táo, cảnh giác với thủ đoạn lừa bịp này của Trung Quốc.

Đọc thêm...

越南-缅甸:向前迈进的可靠合作伙伴

23:59 |

越南副总理兼外交大臣潘汉明(Pham Binh Minh)最近在越南和缅甸建交45周年之际(28/05 / 1975-28 / 5/2020)写了一篇有关越南和缅甸之间关系的文章。以下是文章的全文。
在2020年,越南和缅甸将庆祝正式建交45周年。这标志着两国关系的关键里程碑。这是我们回顾自己辉煌旅程的时期,并充满信心地共同前进的机会。
越南和缅甸于1975年正式建立外交关系。然而,两国之间的纽带与东南亚大陆一样并存。我们各国有着长期稳固的贸易关系的历史。独立后,立即由两位各自的著名领导人胡志明总统和昂山将军亲自参与了促进和培育两国之间的睦邻友谊。越南早在1947年就在仰光开设了联络处,多年来,缅甸一直是越南与世界之间重要的门户。乌努总统1954年对越南进行了访问,胡志明总统1958年对缅甸进行了对等访问,为我们的关系奠定了坚实的基础。
在充满动荡的四十年中,越南和缅甸之间的关系一直保持密切和忠实,并日益牢固,深入和牢固。两国关系的里程碑之一是在2017年建立了全面伙伴关系。如今,越南和缅甸是伙伴:平等,可靠和相互尊重。我们有一个共同的梦想:我们的国家将发展壮大,我们的国家将繁荣,并且该地区和世界将有和平,稳定,合作与发展。我们将永远是真正的朋友,在悲痛中欢乐无比,在同情心中并肩站立。
通过最高级别的代表团与其他各方的交流,我们的政治信任正在增强。双边合作机制也得到有效维护和促进。近年来,随着两国进行改革并采取开放的外交政策,相应地,在最高梯队和所有其他级别上的双边访问也更加频繁。值得注意的是,阮富通总书记(2017年8月),阮宣福总理(2019年12月),国民议会主席阮锡金颜(2016年8月)对缅甸的访问以及国务顾问昂(Aung)参访越南。 San Suu Kyi(2018年4月)和U Win Myint总统(2019年5月)。中央和地方各级的各种双边合作机制已得到积极利用。
经贸,投资合作是我们两国关系的亮点。越南目前是缅甸十大贸易伙伴之一。双向贸易营业额正快速增长,从2010年的1.52亿美元增长到2019年的10.5亿美元,远远超过了2020年最后期限的10亿美元目标。尽管COVID-19大流行的影响,但我们的2020年第一季度双向贸易额增长至2.502亿美元,同比增长10.7%。目前有220名越南贸易代表积极参与缅甸市场的各个领域。越南保持了其作为7位日在缅甸最大的外国投资者与18个主要项目,总注册资本近22十亿$。
安全,国防,农业,电信,能源,旅游,教育和文化等其他合作领域都呈现出积极和动态的增长,成果令人鼓舞。两国于2010年开通直航,促进了文化,旅游和体育领域的贸易,交流与合作,从而使两国人民之间的距离越来越近。越南和缅甸都在努力抓住社会经济发展的机会,双方将有进行真正,有效和多样化合作的沃土。
越过双边框架,越南和缅甸还在东南亚国际分区域机制以及联合国等多个国际论坛上密切合作,特别是在东盟共同的屋顶下。我们在各种区域和国际问题上有着共同的利益和愿景,包括对每个国家至关重要的利益,例如独立性,自力更生,国际一体化。两国为该地区乃至世界的和平,稳定,合作与发展的共同努力作出了积极贡献。
通过两国领导人和人民的政治信任,团结和努力,加上我们互补的力量和潜力,越南和缅甸的关系将继续发展,并在各个领域取得更加具体的成果。这将给我们两国人民带来真正的利益,并促进东盟共同体的团结,统一与发展,并加强该地区和世界的和平,繁荣与合作。可以说,越南和缅甸关系45年历史的新篇章将被两国之间日益紧密的联系所笼罩,并且将取得更大的成就。

Đọc thêm...

Việt Nam-Myanmar: Đối tác tin cậy hướng tới tương lai

22:58 |

Nhân dịp kỷ niệm 45 năm ngày thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam-Myanmar (28/5/1975-28/5/2020), Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh đã có bài viết về quan hệ hai nước.
Năm 2020, Việt Nam và Myanmar long trọng kỷ niệm lần thứ 45 ngày chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao. Đây là dấu mốc rất quan trọng trong quan hệ hai nước, là dịp chúng ta cùng nhìn lại chặng đường lịch sử đầy dấu ấn hào hùng đã qua và tự tin cùng nhau tiếp tục tiến bước.
Việt Nam và Myanmar chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao năm 1975, nhưng sự liên kết giữa hai nước, hai dân tộc cùng chung sống tại khu vực Đông Nam Á lục địa đã bắt nguồn từ rất sớm. Trong lịch sử, hai nước từng có giao thương mạnh mẽ. Ngay sau khi hai nước giành độc lập, đích thân hai lãnh tụ kiệt xuất là Chủ tịch Hồ Chí Minh và Tướng Aung San đã quan tâm thiết lập và vun đắp quan hệ láng giềng hữu nghị giữa hai dân tộc. Việt Nam đã mở Văn phòng liên lạc tại thủ đô Yangon ngay từ năm 1947 và Myanmar trong suốt nhiều năm là một trong những cửa ngõ quan trọng của Việt Nam ra thế giới. Tổng thống U Nu đã thăm Việt Nam năm 1954 và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thăm đáp lễ năm 1958, đặt nền tảng vững chắc cho quan hệ hai nước.
Trải qua hơn bốn thập kỷ với bao thăng trầm lịch sử, quan hệ giữa Việt Nam và Myanmar luôn gắn bó, thủy chung và ngày càng phát triển mạnh mẽ, sâu sắc, thực chất; một trong những mốc son là việc thiết lập quan hệ Đối tác Hợp tác Toàn diện năm 2017. Ngày nay, Việt Nam và Myanmar là các đối tác bình đẳng, tin cậy, tôn trọng lẫn nhau, cùng hướng tới khát vọng chung là đất nước phát triển, dân tộc phồn vinh, khu vực và thế giới hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển; đồng thời là những người bạn chân thành, chia sẻ ngọt bùi, thấu hiểu và sát cánh bên nhau.
Tin cậy chính trị ngày càng được thắt chặt với việc trao đổi đoàn cấp cao và các cấp cũng như duy trì hiệu quả các cơ chế hợp tác song phương. Trong những năm gần đây, khi cả hai nước đều tiến hành cải cách, đổi mới và triển khai chính sách đối ngoại rộng mở, các chuyến thăm cấp cao và các cấp giữa hai nước càng có điều kiện diễn ra thường xuyên; nổi bật nhất là các chuyến thăm Myanmar của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng (8/2017), Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc (12/2019), Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân (8/2016), chuyến thăm Việt Nam của Cố vấn Nhà nước Aung San Suu Kyi (4/2018) và Tổng thống U Win Myint (5/2019). Nhiều cơ chế hợp tác song phương ở cấp trung ương cũng như địa phương được triển khai hiệu quả.
Hợp tác kinh tế, thương mại và đầu tư là điểm sáng trong quan hệ hai nước. Việt Nam hiện là một trong 10 đối tác thương mại lớn của Myanmar với kim ngạch thương mại hai chiều tăng trưởng nhanh từ 152 triệu USD năm 2010 lên 1,05 tỷ USD năm 2019, hoàn thành trước hạn mục tiêu 1 tỷ USD đề ra cho năm 2020. Mặc dù bị ảnh hưởng của đại dịch Covid-19 song trong quý I/2020, kim ngạch thương mại hai chiều đạt 250,2 triệu USD, tăng 10,7% so với cùng kỳ 2019. Hiện có hơn 220 đại diện thương mại Việt Nam đang hoạt động sôi động trên nhiều lĩnh vực tại thị trường Myanmar. Việt Nam tiếp tục giữ vững vị trí nhà đầu tư nước ngoài lớn thứ 7 của Myanmar với 18 dự án lớn và tổng vốn đăng ký đạt gần 2,2 tỷ USD.
Các lĩnh vực hợp tác khác như an ninh, quốc phòng, nông nghiệp, viễn thông, năng lượng, du lịch, giáo dục, văn hóa... đều chứng kiến sự phát triển tích cực, năng động, đạt được nhiều kết quả đáng khích lệ. Việc mở đường bay thẳng năm 2010 đã góp phần tạo thuận lợi cho việc giao thương, giao lưu, hợp tác du lịch, văn hóa, thể thao, đưa người dân hai nước ngày càng gần gũi nhau hơn. Trong bối cảnh cả Việt Nam và Myanmar đều đang nỗ lực nắm bắt các cơ hội phát triển kinh tế-xã hội, hai bên sẽ càng có nhiều dư địa hợp tác thực chất, hiệu quả và đa dạng.
Không chỉ trong khuôn khổ song phương, Việt Nam và Myanmar còn hợp tác và phối hợp chặt chẽ tại nhiều diễn đàn quốc tế, nhất là dưới mái nhà chung của đại gia đình ASEAN, các cơ chế tiểu vùng tại Đông Nam Á lục địa, Liên hợp quốc... Hai nước chia sẻ nhiều lợi ích song trùng và tầm nhìn chung trong các vấn đề khu vực và quốc tế, trong đó có những vấn đề thiết thân đối với mỗi nước như giữ vững độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế, đóng góp tích cực vào các nỗ lực chung vì hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển của khu vực và thế giới.
Với sự tin cậy chính trị, với sự đồng lòng và nỗ lực từ Lãnh đạo và nhân dân hai nước, cùng các tiềm năng và thế mạnh có thể bổ sung cho nhau, quan hệ Việt Nam-Myanmar sẽ tiếp tục phát triển và đạt nhiều kết quả thực chất hơn nữa trên mọi lĩnh vực trong thời gian tới, mang lại lợi ích thiết thực cho nhân dân hai nước, đoàn kết, thống nhất và phát triển của Cộng đồng ASEAN cũng như hòa bình, thịnh vượng và hợp tác ở khu vực và trên thế giới. Như vậy có thể khẳng định, chặng đường 45 năm qua của quan hệ Việt Nam-Myanmar sẽ được tiếp nối bởi sự gắn bó ngày càng bền chặt giữa hai dân tộc chúng ta và sẽ tiếp tục đơm hoa kết trái, gặt hái được nhiều thành tựu to lớn hơn nữa.

Đọc thêm...

联合国安理会讨论网络空间安全问题

08:37 |

越南常驻联合国代表团团长邓廷贵大使5月22日出席联合国安理会关于网络安全和冲突预防的视频会议。此次会议由联合国安理会轮值主席国爱沙尼亚同比利时、多米尼加、印度尼西亚、肯尼亚联合举行。
联合国裁军事务副秘书长兼高级代表中满泉(Izumi Nakamitsu)在会议上发表讲话时表示,对信息技术平台的系统和服务的攻击事件趋于增加,全球互联网每39秒发生一次黑客事件,并对此深表担忧。她认为,全球网络安全框架发展仍处于初期,各国政府应保持密切配合,凝聚共识,互换经验,协调各种资源,力争实现“一个世界、一个网络、一个愿景”的目标。
各国认为,应致力于建设和平、安全、稳定、遵守包括联合国宪章在内的国际法的网络空间,推进有助于加强网络建设与管理能力的措施,促进国际合作和各国间有关网络安全的经验互换。
越南常驻联合国代表团团长邓廷贵大使表示,越南支持建设安全、善友、开放和稳定的网络环境,进而满足各国人民的正当利益和需求,为国际和平与安全做出贡献。邓廷贵强调,包括各基本原则在内的国际法适用于网络空间;各国之间以及各国与私营部门之间的合作是必要的,但应符合有关国家的需求和要求。邓廷贵大使强调,保持网络安全,合作加强应对网络安全事件的能力等是东盟活动中的优先事项。邓廷贵还表示,2020年东盟轮值主席国越南已成功举行东盟抗击新冠肺炎疫情领导人特别会议和东盟与中日韩抗击新冠肺炎疫情领导人特别会议。

Đọc thêm...

Hội đồng Bảo an LHQ thảo luận vấn đề ổn định không gian mạng

08:26 |

Sáng ngày 22/5, Estonia nước Chủ tịch luân phiên tháng 5/2020 của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc (HĐBA LHQ), cùng với Bỉ, CH Dominicana, Indonesia, Kenya đã tổ chức cuộc họp trực tuyến theo thể thức Arria về chủ đề Ổn định không gian mạng, ngăn ngừa xung đột và tăng cường năng lực.
Tham dự cuộc họp có khoảng 50 nước, trong đó có Thủ tướng Estonia phát biểu khai mạc, các Ngoại trưởng Latvia, Lithuania, Ukraine, các Đại sứ, đại diện các nước thành viên HĐBA và LHQ tại New York và từ Thủ đô các nước.
Bà Nakamitsu Izumi, Phó Tổng Thư ký LHQ phụ trách các vấn đề giải trừ quân bị, bày tỏ quan ngại các cuộc tấn công vào hệ thống và dịch vụ dựa trên nền tảng công nghệ thông tin có xu hướng tăng lên, đặc biệt trong bối cảnh đại dịch Covid-19, trung bình cứ 39 giây lại có một cuộc tấn công.
Bà nhận định các quốc gia thành viên LHQ đã đạt nhiều tiến triển trong xây dựng khuôn khổ pháp lý về hoạt động công nghệ thông tin, có sự đồng thuận ủng hộ các quy tắc tự nguyện điều chỉnh hành vi quốc gia trong môi trường mạng, biện pháp xây dựng lòng tin và tăng cường năng lực.
Theo Phó Tổng Thư ký LHQ, khuôn khổ toàn cầu về an ninh mạng còn “sơ khai”, các chính phủ cần phối hợp chặt chẽ, thúc đẩy hiểu biết chung, chia sẻ kinh nghiệm, điều phối tốt các nguồn lực, nhằm hướng tới thực hiện “một thế giới, một mạng lưới, một tầm nhìn”.
Ông David Koh, Giám đốc điều hành Cơ quan an ninh mạng Singapore, cho rằng khủng hoảng mạng không chỉ gây thiệt hại trực tiếp về kinh tế, mà còn làm giảm lòng tin của người dân vào cơ quan quản lý, giảm lòng tin giữa các quốc gia.
Khẳng định yêu cầu bảo vệ cơ sở hạ tầng thông tin cơ bản, ông David Koh cho biết tăng cường năng lực về an ninh mạng là ưu tiên của Singapore trong hợp tác ASEAN cũng như hợp tác với các nước.
Trong khi đó, ông Jame Lewis, Phó Chủ tịch Trung tâm nghiên cứu quốc tế và chiến lược, cho rằng nhiều nội hàm và việc áp dụng luật pháp quốc tế trong môi trường mạng còn chưa rõ ràng, cần tiếp tục làm rõ.
Ý kiến của các nước tập trung nhấn mạnh yêu cầu xây dựng không gian mạng hòa bình, an toàn, an ninh, ổn định, tuân thủ luật pháp quốc tế, bao gồm Hiến chương LHQ, kêu gọi tăng cường biện pháp xây dựng năng lực sử dụng, quản trị không gian mạng, đẩy mạnh hợp tác quốc tế, chia sẻ kinh nghiệm quốc gia về bảo vệ không gian mạng.
Đại sứ Đặng Đình Quý, Trưởng Phái đoàn đại diện thường trực Việt Nam tại LHQ, cho biết Việt Nam ủng hộ xây dựng môi trường mạng an toàn, thân thiện, cởi mở và ổn định, đáp ứng nhu cầu và lợi ích chính đáng của các nước, người dân, đóng góp vào duy trì hòa bình và an ninh quốc tế.
Khẳng định luật pháp quốc tế, bao gồm các nguyên tắc cơ bản, được áp dụng trong không gian mạng, Đại sứ Đặng Đình Quý cho rằng sự hợp tác giữa các quốc gia và giữa quốc gia với khu vực tư nhân là cần thiết, nhưng cần dựa trên nhu cầu và yêu cầu của nước liên quan.
Đại sứ Đặng Đình Quý chia sẻ an ninh không gian mạng, hợp tác xây dựng năng lực và khả năng ứng phó với sự cố mạng là một trong các ưu tiên hoạt động của ASEAN; trong năm 2020, Việt Nam với vai trò Chủ tịch ASEAN đã tổ chức thành công, an toàn hai Hội nghị cấp cao đặc biệt ASEAN và ASEAN+3 về Covid-19.

Đọc thêm...

在越南绝对没有所谓“良心犯”

23:39 |

多年来,敌对势力经常利用民族、宗教、人权等问题,破坏越南革命事业。其中,人权是他们以诸多阴险、狡猾形式集中打击破坏的领域。那么,敌对势力提出的所属的“良心犯”实质上都是什么人?
不是什么陌生的,这些人已多次被报纸提名。但是,对于绝大多数越南人来说,他们只是违反法律而被处罚者。他们是瞿辉何武、陈黄维识、阮进忠、黎攻定、黎升龙、陈英金、阮玉如琼、黎氏工人、阮文台等人。对于越南人来说,有关这些对象的案件只是单纯的刑事案件,因犯上越南社会主义共和国刑事法第88条:“宣传反对越南社会主义共和国国家”规定而被越南保卫法律机关起诉和判决的。
我们不妨提起一个具体的对象,说明一下敌对势力所称“良心犯”的犯罪行为。瞿辉何武这个人曾经接受培训、拥有较高的知识水平并得以享受越南党、国家的待遇,但因缺乏修养和锻炼,贪求名望和权力,瞿辉何武已走错了路,与党、国家和人民利益背道而驰。越南公安部已发现瞿辉何武制作反对越南国家的诸多材料,诸如宣传、歪曲、诽谤人民政权,鼓吹心理战争论调,煽动推翻制度,鼓吹多元、多党思想,呼吁外国的干涉。瞿辉何武还多次勾结反对分子,接受反动分子报纸的采访,发表反对越南国家的内容,转载由瞿辉何武制作的材料用于破坏越南国家目的等。这些行为已严重违反越南刑事法第88条规定。
这样,凭借确凿的证据,可以肯定瞿辉何武已违反越南国家法律,并被越南法律保卫机关依法处罚是正确的。凭借法律知识和基本培训,瞿辉何武一定认识到自己的犯罪行为。就在法庭上,他已低头认罪,还发出了改邪归正的誓言。但可惜的是,由于权利幻想和贪求,又被物质诱惑,虽然得到政府和人民宽宏对待,瞿辉何武又重蹈覆辙,继续进行破坏国家和家乡的行为,做了那些对不起民族和家族的事。
值得一提的是,敌对势力所称的“良心犯”都在法庭上承认因缺乏法律知识,意识不到其行为的后果,拿了钱并被指使,甚至被威胁而迫不得已参加破坏国家的活动。拿黎攻定和阮进忠来说,这两个被告人在法庭上都诚恳交代、认罪伏法,诉说犯罪原因是接受了敌对势力关于“民主”、“人权”的错误观点,对社会消极现象持着主管的看法。在2010年5月11日复审法庭上,黎升龙后悔地说:“我感谢党和国家已培育和帮助我成长。我从来不想取消越南共产党的领导。我希望审判委员会给以宽大处理,让我早日回归家庭”。
那么,是否只有越南才处理与国家作对者?只要几个简单的操作,通过谷歌就能搜索到数万个结果。当然的,每个国家都按照各自法律规定来处理公民的犯法行为。诸如在新加坡,宣传煽动破坏国家、捏造假冒信息、操纵在线环境,影响社会共同利益等行为都被罚款十万新加坡元或十年徒刑。在德国,从2018年1月1日,各社交网让用户登载煽动民族仇恨、危害国家安全和利益的信息都被处罚。在一些国家,不说国家民族利益,只要发散侮辱个人的假冒信息就被职能机关严格处治。
这样可以肯定,在任何国家,违反法律的人都被依法处置。这是一个事实,难道利用民主、人权问题来破坏越南国家的人竟不知道?
上述引证说明,任何国家都通过法律工具来管理社会。各组织和个人的所有行为都要遵守法律规定。每个国家的法律尽管有共同的目的是管理社会,调整每个人和组织的行为,但由于政治、经济社会制度以及民族的传统文化价值的原因,因此各国间都存在大同小异的管理问题,甚至是相互对立的。因此,各国的法律不能互用也不能互通。再说,越南法律系统在人民的意志和愿望基础上制定的,其最高目的是保障人民的所有基本、正当权利和利益。越南法律系统不仅仅保卫一个人或一群人的利益,而维持全社会的活动,是国家保卫所有公民的合法权利和利益的重要工具。
越南2013年宪法第15条规定:“公民权利与公民义务是紧密维系在一起的。每个人有义务尊重他人的权利。公民有责任对国家和社会履行义务。人权和公民权的行使事宜不得侵犯国家、民族的利益,以及他人的合法权益”。根据上述规定,所有公民都有个人的权利,但权利要与义务连在一起。越南的法律一向保卫所有公民的正当权利,同时要求所有公民遵守法律的规定。履行公民权,但不允许任何人侵犯国家民族的利益。
在世界范围上,1948年《世界人权宣言》第29条第二款规定:“人人在行使他的权利和自由时,只受法律所确定的限制,确定此种限制的唯一目的确在于保证对旁人的权利和自由给予应有的承认和尊重,并在一个民主的社会中适应道德、公共秩序和普遍福利的正当需要。”
若没有法律,国家不能存在,反而,没有国家机构的力量,法律就不能发挥效力,这是一个原理性问题。为了管理社会,国家要使用诸多工具和办法,其中,法律是基本、重要的工具。法律和国家管理息息相关。当法律正确反映人民群众的愿望,保卫民族的利益的时候,任何国家制度都要尊重和遵守。据此,与国家民族利益背道而驰的所有行为不仅被人民反对,而且还被坚决处理。
一个健康的国家机器是所有政策要得到严明实施,不受任何人的主观意志所支配。法律就是确保国家机器协调、同步和有效运行的环节。归根结底,法律也是为了服务人民,对于人民,法律就是公道、公平,让人民安心工作和生活的平等法律环境。
法律至上精神与完善、统一的法律系统将为国家机器滑溜运行注入动力,推动国家发展。越南社会主义共和国是社会主义法权国家,民有、民治、民享的国家。越南的法律系统体现越南全民的意志和愿望。因此,所有组织和公民都要严格遵守法律。这同时也是越南国家保卫所有公民的正当权利和利益的方式。因此,要重申的是,在越南没有所谓“良心犯”,只有犯法而被依法处置的对象。

Đọc thêm...

Hot (焦点)