美国众议院通过有关东海和华东海问题的决议
16:17 |
2014年12月4日,美国众议院以100%赞成票一致通过了有关东海和华东海问题的H.Res-714号决议。该决议肯定了美国对根据国际法律自由使用亚太地区国际海域和领空的权利的强烈支持;
谴责任何使用武力或其他强制手段阻碍国际海域空域航行航空自由权的行为。
这项决议还敦促中国在华东海实施《防空识别区》时保持克制态度;视之为侵犯国际空域自由飞越权益的行行为,并敦促中国今后不要在亚太地区其它海域采取类似行为。
H.Res-714决议也呼吁东盟各国,美国盟友、伙伴和主权声索国通过要求各方严格遵守落实《东海行为宣言》(DOC)并尽早制定《东海行为准则》等措施共同努力寻找和平解决争议的措施。
在之前,H.Res-714号决议已于9月8日被递交上美国众议院进行评审,并于11月20日得到美国众议院对外委员会的通过。美国众议院首次通过第H.Res714号决议充分体现美国对包括东海在内的日益复杂的地区形势给予高度关注,同时对确保亚太地区海上和平、稳定和安全给予高度重视。
Hạ viện Mỹ thông qua Nghị quyết về biển Đông, Hoa Đông
16:16 |
Ngày 4/12/2014 , với số phiếu ủng hộ tuyệt đối, Hạ viện
Mỹ đã thông qua Nghị quyết mang mã số H.Res-714 về Biển Đông và Biển Hoa Đông.
Nghị quyết trên khẳng định sự ủng hộ mạnh mẽ của Mỹ đối với tự do hàng hải, việc
sử dụng các vùng biển và vùng trời ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương theo luật
pháp quốc tế; lên án mọi hành động cưỡng chế hoặc sử dụng vũ lực gây cản trở
các quyền tự do tại các vùng biển và không phận quốc tế.
Nghị quyết H.Res-714 cũng hối thúc Trung Quốc kiềm
chế thực thi “vùng nhận dạng phòng không” (ADIZ) trên bầu trời Biển Hoa Đông,
coi đây là một hành động đi ngược lại quyền tự do bay qua không phận quốc tế; đồng
thời hối thúc Bắc Kinh không lập ADIZ tại các vùng biển khác ở châu Á - Thái
Bình Dương.
Ngoài ra, Nghị quyết của Hạ viện Mỹ kêu gọi Hiệp hội
các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), các đồng minh, đối tác của Mỹ và các nước có
tranh chấp cùng nhau nỗ lực tìm giải pháp hòa bình cho các tranh chấp, thông
qua việc yêu cầu các bên thực thi đầy đủ Tuyên bố về cách ứng xử của các bên
(DOC), tiến tới thiết lập một Bộ quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC).
Trước đó, Nghị quyết H.Res-714 do hạ nghị sỹ đảng Dân chủ Eni Faleomavaega
bảo trợ đã được trình lên Hạ viện Mỹ xem xét từ ngày 8/9 và được Ủy ban đối ngoại
Hạ viện Mỹ thông qua ngày 20/11. Việc lần đầu tiên trong lịch sử Hạ viện Mỹ
thông qua một nghị quyết về vấn đề Biển Đông và Biển Hoa Đông đã cho thấy rằng
Mỹ ngày càng quan tâm sâu sắc đến diễn
biến tình hình ngày càng phức tạp trong khu vực, trong đó có Biển Đông, cũng
như hết sức coi trọng việc đảm bảo an ninh, hòa bình, ổn định tại các vùng biển
ở châu Á – Thái Bình Dương.
越 - 美关系进入新时代(第二期)
18:45 |
其二,在经济领域上,越美两国20年来已取得了强有力的进展。美国目前是越南重要的贸易伙伴,同时也是越南最大的出口市场。在2015年,如果两国以及其他国家可以完成跨太平洋战略合作伙伴协议 (TPP),这将是两国庆祝20年关系正常化的重要事件。在美国共和党控制美国国会两院之后,美国很有可能推进TPP谈判进程,因为共和党一直具有支持企业界和贸易自由化的趋向。另外,TPP不仅具有经济意义,而且还具有重要的战略意义,所以相信美国以及其朕略同盟将尽早解决分歧,在奥巴马总统任期结束前结束该谈判进程。
其 三,在国防安全方面,两国需要迈出更加强有力和切实的步伐,以便将两国“全面合作伙伴关系”具体化。两国需要加强互相合作交流活动,分享强暴信息,举行联 合军演、救难救灾等活动。越南可以允许美国使用金兰湾等海军后勤服务基地,而美国也应考虑消除对越南的武器销售禁令。另外,美国应继续帮助越南提高海上监 察能力。美国帮助越南提高海上能力的价值1800万美元的援助宣布应尽早付诸实现。
目前,谈起越南 - 美国两国全面战略同盟关系恐怕为时尚早,但是两国需要着眼于战略利益的共同点,以此形成在海上领域的半正式同盟关系,并与日本、菲律宾、印度、澳大利亚等合作伙伴对东海的战略利益和潜在威胁问题达成共识。因为美国政界已对“亚太再平衡”战略达成共识,所以无论在2016年后共和党还是民主党当选总统后,美国和越南更加紧密的国防安全合作关系是完全可行的。
其四,在外交方面,两国需要在多边论坛上直接或间接互相支持。在刚发生的海洋石油981钻 井平台上,美国对越南的强有力的支持不仅给中国带来很大压力,而且还帮助改善越南民众对美国的态度。这些合作和互相支持的行为应需要继续发挥。我们不能确 定中国接下来在东海将进行怎么样的行为,但无论如何,美国和其他国家对越南的支持将是越南对付中国日益强硬行为的一大助力。
最后,两国民众间,特别是年轻一代的互相交流需要继续得到推动,以便坚强两国的互相理解和信任。
另外,越南应积极响应美国呼吁允许让和平队(Peace Corps)到越南进行活动的建议。鉴于自己丰富的经验,越南职能部门完全有能力确保和平队的活动遵守越南法律,而且还能帮助加强两国之间的理解和互信。另外,这些美国和平队队员回国后还能成为促进两国友好关系的使者,就像很多曾在越南参展的美国老战兵正在努力实现一样。
总而言之,越南和美国二十年来的关系已取得了重大发展。但如果将两国关系比喻为一名少女的话,那么这名少女才刚刚过了未成年期,她人生中最美好的年华仍在未来。同样的,已到越南和美国携手将两国关系带入一个深化发展的新世纪了。而两国庆祝20年关系正常化将是开启这个新世纪的最好时机。
Đưa quan hệ Việt – Mỹ bước vào kỷ nguyên mới (Phần 2)
18:42 |
Thứ hai, về kinh tế, hai nước đã đạt được
những tiến triển mạnh mẽ trong suốt 20 năm qua, và hiện Mỹ là đối tác thương mại
hàng đầu, là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam. Trong năm tới, nếu hai
nước cùng các quốc gia liên quan có thể hoàn tất được Hiệp định đối tác xuyên
Thái Bình Dương (TPP) thì đây sẽ là một sự kiện ý nghĩa góp phần đánh dấu 20
năm quan hệ. Sau khi Đảng Cộng hòa nắm quyền kiểm soát lưỡng viện quốc hội
trong cuộc bầu cử giữa kỳ vừa qua, nhiều khả năng Mỹ sẽ thúc đẩy đàm phán TPP vì
theo truyền thống Đảng Cộng hòa có xu hướng ủng hộ giới doanh nghiệp cũng như tự
do thương mại. Ngoài ra, do TPP không chỉ mang ý nghĩa kinh tế mà còn mang tính
chiến lược, nên bản thân Mỹ cũng như các đồng minh, đặc biệt là Nhật, sẽ có thể
sớm giải quyết được các bất đồng để kết thúc đàm phán, ít nhất là trước khi nhiệm
kỳ của Tổng thống Obama kết thúc.
Thứ ba, về quốc phòng – chiến lược, hai
bên cần có những bước đi mạnh mẽ và thực chất hơn nữa để cụ thể hóa mối quan hệ
“đối tác toàn diện” giữa hai nước. Hai bên cần tăng cường các trao đổi và hợp
tác, như tiếp xúc cấp cao giữa giới hoạch định chính sách chiến lược, trao đổi
thông tin tình báo, các cuộc diễn tập hải quân, cứu hộ cứu nạn và hỗ trợ nhân đạo
song phương và đa phương… Việt Nam có thể
cho phép Mỹ có quyền tiếp cận lớn hơn đối với các cơ sở dịch vụ hậu cần hải
quân, nhất là cảng Cam Ranh. Trong khi đó, Mỹ nên cân nhắc việc dỡ bỏ hoàn toàn
lệnh cấm vũ khí sát thương đối với Việt Nam .
Ngoài ra, Mỹ cũng nên tiếp tục hỗ trợ Việt Nam nâng
cao năng lực giám sát hàng hải. Tuyên bố của Mỹ về cung cấp cho Việt Nam 18
triệu đô-la để nâng cao năng lực hàng hải cần sớm được thực hiện.
Hiện tại có thể còn quá sớm để nói về một mối
quan hệ liên minh chiến lược toàn diện giữa hai nước, nhưng hai bên có thể tách
biệt các điểm đồng về lợi ích chiến lược khỏi các khác biệt khác để hình thành
nên một liên minh bán chính thức trong lĩnh vực hàng hải, có thể cùng với các
quốc gia đối tác và bạn bè khác có cùng nhận thức về lợi ích và các mối đe dọa
tại Biển Đông, như Nhật Bản, Philippines, Ấn Độ và Australia. Việc thực hiện
các bước đi đã nêu trên sẽ góp phần hiện thực hóa khả năng này. Ngoài ra, do nội
bộ chính giới Mỹ đã đạt được đồng thuận về chiến lược “tái cân bằng” nên nếu Việt
Nam và Mỹ cùng quyết tâm thì điều này hoàn toàn khả thi, bất chấp ứng cử viên của
đảng nào sẽ lên cầm quyền trong cuộc bầu cử tổng thống Mỹ vào năm 2016 sắp tới.
Thứ tư, về ngoại giao, hai bên cần tiếp
tục hỗ trợ nhau trực tiếp cũng như gián tiếp, đặc biệt là qua các kênh đa
phương cũng như trên mặt trận công luận toàn cầu. Trong cuộc khủng hoảng giàn
khoan Hải Dương 981 vừa qua, việc Mỹ là quốc gia ủng hộ Việt Nam mạnh mẽ và hiệu
quả nhất về ngoại giao đã không những góp phần gây sức ép lên Trung Quốc mà còn
tạo nên một sự thiện cảm rất lớn đối với nước Mỹ trong lòng công chúng Việt
Nam, điều sẽ có lợi cho tương lai quan hệ song phương. Những sự hợp tác và hỗ
trợ như vậy cần được tiếp tục trong thời gian tới. Chúng ta có thể không biết
chắc chắn được Trung Quốc sẽ có hành động cụ thể nào trên Biển Đông trong
tương lai, nhưng dù điều gì xảy ra, việc Mỹ và các nước bạn bè hỗ trợ Việt Nam
về ngoại giao cũng như các mặt khác đều sẽ là thiết yếu để Việt Nam có thể đối
phó tốt hơn với sự hung hăng ngày càng tăng của Trung Quốc, một xu hướng chắc
chắn sẽ còn tiếp diễn trong tương lai.
Cuối cùng, các giao lưu, tiếp xúc giữa người
dân hai nước, nhất là thế hệ trẻ, cần được thúc đẩy để tạo nên sự hiểu biết và
tin cậy lẫn nhau cao hơn, bởi thế hệ trẻ chính là những người sẽ dẫn dắt quan hệ
giữa hai nước trong tương lai. Các chương trình trao đổi học giả, sinh viên,
văn nghệ sĩ… có thể là những ưu tiên cần thực hiện.
Ngoài ra, đề nghị của Mỹ để Đội Hòa bình
(Peace Corps) – một tổ chức tình nguyện chuyên về các hoạt động giáo dục và ngoại
giao nhân dân – vào hoạt động tại Việt Nam nên
được xem xét tích cực. Các cơ quan chức năng Việt Nam với bề dày kinh nghiệm của
mình hoàn toàn có thể giúp đảm bảo hoạt động của Đội Hòa Bình vừa tuân thủ đúng
pháp luật, vừa đáp ứng được mục tiêu thể hiện thiện chí của chính phủ Việt Nam,
đồng thời giúp nâng cao sự hiểu biết lẫn nhau giữa nhân dân hai nước. Bản thân
các tình nguyện viên sau khi về Mỹ cũng có tiềm năng trở thành những người hoạt
động tích cực giúp thúc đẩy quan hệ song phương như trường hợp của các cựu binh
Mỹ ở Việt Nam, trong đó tiêu biểu là Thượng Nghị sĩ John McCain.
Tóm lại, quan hệ Việt Mỹ đã phát triển mạnh
mẽ trong gần 2 thập niên qua. Nhưng nếu hình dung quan hệ song phương như một
thiếu nữ thì với gần 20 năm, cô gái đó mới chỉ bước qua giai đoạn vị thành
niên, và những năm tháng sung sức, tươi đẹp nhưng mặn mà, chín chắn nhất đang ở
phía trước. Tương tự như vậy, đã đến lúc Việt Nam và Mỹ cùng hợp tác để đưa
quan hệ song phương bước vào một kỷ nguyên mới vững vàng và sâu sắc hơn, phục vụ
những lợi ích chiến lược lâu dài của hai nước. Dịp kỷ niệm 20 năm bình thường
hóa quan hệ vào năm tới sẽ là một cơ hội phù hợp để khởi động một tiến trình
như vậy.
越 - 美关系进入新时代
07:39 |
即将到来的2015年将是越美关系重要的里程碑,是庆祝越美关系正常化20周年(11/7/1995 - 11/7/2015)。近20年来,曾经是“旧敌”的两国关系取得了令国际观察人士惊讶的快速进展, 并已成为各自的全面战略伙伴。但是,在总体上,两国关系仍处于刚刚起步阶段,虽然已经奠定了坚实的基础,但仍然具有尚未得到开拓的潜力。在2015年以及接下来,两国需要共同努力,以便令双边关系取得更加切实和深刻的发展。
首先,在政治关系领域,两国需要加强建立两国领导和政策制定层之间的战略互信。这些年来,两国之间的战略互信仍面临众多阻碍,其中主要来自于两国政治体制、经济社会状况、价值取向的差异。但是,在今后两国需要忽略这些差异,并强调两国之间战略利益的共同点。
在中国日益崛起,挑战世界秩序以及美国在亚太地区的地位的背景下,众多美国学者和政策制定层以人为,在与越南的关系中,美国要把美国的战略利益放在其他考虑之上。当然,美国政界,特别是美国国会议员不会放弃在民主人权等问题向越南施加压力。但我们需要理解的是,美国国会议员也受到来自给他们投票的民众的压力。所以,只要美国政治继续根据现有的原则和体制运行的话,来自美国,特别是美国国会的压力将继续存在。但是,美国政府官员以及一部分美国议员越来越重视与越南关系中的战略意义,而两国关系近期的发展主要来源于这种考虑。
相同的,越南对此也做出了积极回应,例如修改了越南宪法或根据国际社会的建议改善了民主人权问题。但是,这是一种需要循序渐进的漫长过程。重要的是在这过程中,越南已表现出自己的诚意,并取得了在一定程度上的进展。在国内外的越南人本身也需要意识到,在东海主权日益受到挑战的情况下,为了国家的最高利益,越南这个国家需要的是我们的团结一心。
在这样的背景下,在2015年,越 - 美两国需要在更层次、各领域加强对话和交流。2015年越南共产党总书记阮富仲访美和美国总统奥巴马访越不仅是两国关系正常化20周年的标志性事件,而且还增加两国的互相理解和战略互信。另外,在2015年谈到将双边关系提升为“战略合作伙伴”的事似乎早了一点,但两国完全可以在庆祝两国建立全面伙伴关系5周年的2018年考虑这种可能。
Đưa quan hệ Việt – Mỹ bước vào kỷ nguyên mới (Phần 1)
07:37 |
(Bài viết của Lê Hồng Hiệp - Giảng
viên tại Khoa Quan hệ Quốc tế, trường Đại học KHXH&NV TPHCM)
Năm 2015 sắp tới sẽ đánh dấu một cột
mốc quan trọng trong tiến trình quan hệ Việt – Mỹ, đó là kỷ niệm 20 năm ngày
bình thường hóa quan hệ song phương (11/7/1995). Trong suốt gần 20 năm qua,
quan hệ giữa hai “cựu thù” đã đạt được những tiến triển nhanh chóng khiến nhiều
nhà quan sát ngạc nhiên, và giờ hai bên đã là “đối tác toàn diện” của nhau. Tuy
nhiên, quan hệ song phương nhìn chung vẫn còn mới ở giai đoạn sơ khởi, đã xây dựng
được những nền tảng căn bản nhưng vẫn còn nhiều dư địa, tiềm năng chưa được
khai phá. Trong năm 2015 cũng như những năm sau đó, hai nước cần phải cùng nhau
tiếp tục nỗ lực để quan hệ song phương đạt được những phát triển thực chất và
sâu sắc hơn.
Trước hết, về quan hệ chính trị, việc
xây dựng lòng tin chiến lược giữa hai nước, đặc biệt là giới lãnh đạo và hoạch
định chính sách cấp cao cần phải được tăng cường hơn nữa. Lòng tin giữa hai bên
trong suốt những năm qua còn những rào cản chủ yếu xuất phát từ việc hai bên có
thể chế chính trị, điều kiện phát triển kinh tế – xã hội và khung giá trị khác
nhau. Tuy nhiên, những khác biệt này cần được hạ thấp, đồng thời những điểm đồng
về lợi ích chiến lược cần phải được đề cao.
Thực tế, trong bối cảnh
Trung Quốc trỗi dậy thách thức trật tự, hòa bình cũng như vị thế của Mỹ ở khu vực,
nhiều người trong giới học giả cũng như hoạch định chính sách Mỹ đã lập luận rằng
bản thân Mỹ cần đưa các lợi ích chiến lược trong quan hệ với Việt Nam lên trên
các cân nhắc khác. Đương nhiên, chính giới Mỹ, đặc biệt là các nghị sĩ trong quốc
hội, sẽ không từ bỏ việc gây áp lực đối với Việt Nam về các vấn đề như dân chủ
– nhân quyền. Nhưng chúng ta cần hiểu rằng đây phần lớn là do áp lực từ các cử
tri đã bầu họ lên. Vì vậy chừng nào nền chính trị Mỹ còn tiếp tục vận hành theo
các nguyên tắc và thể chế như hiện nay, các áp lực như vậy, đặc biệt là từ Quốc
hội Mỹ, sẽ còn tiếp tục tồn tại. Tuy nhiên, về phía chính quyền hành pháp cũng
như một bộ phận các nghị sĩ, những người có xu hướng thực dụng hơn, họ đề cao ý
nghĩa chiến lược trong quan hệ với Việt Nam, và những tiến triển gần đây trong
quan hệ song phương một phần lớn bắt nguồn từ thực tế này.
Về phía mình, Việt Nam cũng
đã đáp lại bằng những hành động tích cực, tiêu biểu như việc sửa đổi Hiến pháp
hay có những cải thiện về tình hình dân chủ – nhân quyền phù hợp với các khuyến
nghị của cộng đồng quốc tế. Tuy nhiên, đây sẽ là một tiến trình lâu dài, tiệm
tiến. Điều quan trọng là Việt Nam đã có thiện chí và đạt được
các tiến triển nhất định. Bản thân người Việt Nam ở trong cũng như ngoài nước
nên cùng chia sẻ nhận thức rằng trước các mối đe dọa ngày càng gia tăng trên Biển
Đông, chúng ta cần có sự đoàn kết và đồng thuận vì các lợi ích tối thượng của
quốc gia.
Trong bối cảnh
đó, trong năm 2015, hai nước Việt – Mỹ cần tăng cường các cuộc đối thoại, tiếp
xúc, can dự lẫn nhau tại tất cả các cấp độ và các kênh quan hệ, bao gồm không
chỉ kênh chính quyền mà còn cả kênh đảng. Theo đó, một chuyến thăm của Tổng Bí
thư Nguyễn Phú Trọng tới Mỹ và một chuyến thăm của Tổng thống Obama tới Việt
Nam trong năm 2015 sẽ không chỉ là những sự kiện mang tính biểu tượng đánh dấu
20 năm bình thường hóa quan hệ, mà còn là một bước đi mang lại sự hiểu biết và
niềm tin chiến lược cao hơn giữa hai nước. Ngoài ra, có thể vẫn còn hơi sớm để
nâng cấp quan hệ song phương lên mức “đối tác chiến lược” ngay trong năm 2015,
nhưng hai bên hoàn toàn có thể tính tới điều này trong năm 2018 khi hai bên kỷ
niệm 5 năm ngày thiết lập quan hệ đối tác toàn diện.
法语国家组织通过对东海局势表示担忧的决议
15:53 |
以《法语国家的妇女与青年:和平的使者、发展的主角》为主题的法语国家国际组织第15届峰会于11月29日至30日在Senegal首都Dakar举行。峰会上,各位领导就预防和解决法语国家的危机和冲突的各项措施,以及加强妇女和青年在社会生活各方面的角色等问题进行讨论。
会议一致同意推动法语国家在国际舞台上的作用,加强法语国家国际组织对解决打击恐怖主义、教育与培训、文化多元化、旅游、卫生、埃博拉疫情等国际社会共同关注的重大问题的作用。
会议已通过《达喀尔声明》、《2015-2022年阶段法语国家合作战略框架》、《法语国家青年战略》等多项重要文件。值得一提的是,会议已通过《法语国家经济战略计划》,为今后推动法语国家经济合作奠定基础。
会议也通过了关于解决一些国家和地区冲突、打击恐怖主义、教育与培训、文化多元化、旅游、卫生、埃博拉疫情等领域的9向决议。
值得一提的是,在本届峰会上,首次法语国家国际组织成员国的国家元首和政府首脑提及东海问题;对东海最近紧张局势深表担忧;呼吁有关各方保持最大限度的克制,在包括1982年《联合国海洋法公约》在内的国际法基础上通过和平方式解决争端;对维护本地区和平稳定、东海航行航空自由与安全的
加拿大前总督Michaëlle Jean当选法语国家组织秘书长;Mexico、
Costa Rica 、
Kosovo等国家以观察员身份加入法语国家国际组织,将法语国家组织成员国数量提升到80个。预计,第16届法语国家组织峰会将于2016年在Madagascar举行。
越南国家副主席阮氏缘率领越南代表团出席本届会议。在会议间隙间,越南国家副主席阮氏缘分别与Senegal总统、Cameroon总统、Mauritius总统、Monaco皇亲、埃及总理、Tunisia临时政府总理、Haiti外交部长及法语国家国际组织秘书长等领导举行会晤,就双方共同关心的问题展开讨论。
1986年2月,根据法国已故总统François Mitterrand 的倡议,法语国家第一届峰会在法国首都巴黎举行。近40法语国家元首和政府领导参加会议,标志着法语国家国际组织的诞生。1998年12月,法语国家发育问题部长第12次会议在Rumania举行,通过了法语国家共同体的正式名称:法语国家国际组织(OIF)。
1979年,越南正式参加了于1970年成立的专门使用法语国际组织 - 文化和技术合作组织(ACCT)。从此以后,越南分别参加了法语国家共同体的一些国际组织。越南也参加了法语国家国际组织首届峰会,并于1997年11月在首都河内成功举办第7届峰会。越南也曾当选法语国家常设理事会委员、副主席、主席等重要职务。
Cộng đồng Pháp ngữ thông qua Nghị quyết bày tỏ quan ngại về tình hình Biển Đông
15:51 |
Hội nghị Cấp
cao các nước sử dụng tiếng Pháp lần thứ 15 với chủ đề "Phụ nữ và thanh
niên trong Cộng đồng Pháp ngữ: động lực của hòa bình, chủ thể của phát triển"
đã diễn ra tại Thủ đô Dakar , Senegal từ ngày 29-30/11. Tại Hội nghị, các
nhà lãnh đạo Nhà nước và Chính phủ các nước thành viên đã tập trung thảo luận về
các biện pháp nhằm ngăn ngừa và giải quyết các cuộc khủng hoảng, xung đột trong
không gian Pháp ngữ và tăng cường vai trò của phụ nữ và thanh niên trong mọi mặt
của đời sống xã hội.
Các nhà lãnh
đạo cũng cam kết tiếp tục thúc đẩy vai trò và vị thế của Cộng đồng Pháp ngữ
trên trường quốc tế, tăng cường những đóng góp của Cộng đồng vào những vấn đề
thuộc quan tâm chung của cộng đồng quốc tế như chống khủng bố, biến đổi khí hậu,
dịch bệnh Ebola đang gây nhiều tổn thất và đe dọa sự ổn định tại một số nước
khu vực Tây Phi.
Hội nghị đã
thông qua nhiều văn bản quan trọng mang tính định hướng cho các hoạt động của Cộng
đồng Pháp ngữ trong thời gian tới, từ các lĩnh vực hòa bình, an ninh, đa dạng
ngôn ngữ và văn hóa, giáo dục đến hợp tác kinh tế, phát triển bền vững, như
Tuyên bố Dakar, Khung chiến lược hợp tác Pháp ngữ giai đoạn 2015-2022, Chiến lược
thanh niên Pháp ngữ. Đặc biệt, Hội nghị đã thông qua Chiến lược kinh tế Pháp ngữ,
tạo cơ sở cho các hoạt động thúc đẩy hợp tác kinh tế trong không gian Pháp ngữ
thời gian tới.
Hội nghị cũng
đã thông qua 9 Nghị quyết về các tình hình khủng hoảng, xung đột ở một số nước
và khu vực, chống khủng bố, giáo dục và đào tạo, đa dạng văn hóa, du lịch, y tế,
dịch bệnh Ebola.
Đáng chú ý,
trong Nghị quyết “về ngăn ngừa khủng hoảng, xung đột và củng cố hòa bình trong
không gian Pháp ngữ” lần đầu tiên lãnh đạo Nhà nước và Chính phủ các nước Pháp
ngữ đã đề cập đến vấn đề Biển Đông, bày tỏ quan ngại sâu sắc về tình hình Biển
Đông trong thời gian qua, kêu gọi các bên liên quan kiềm chế tối đa, giải quyết
tranh chấp bằng biện pháp hòa bình, trên cơ sở luật pháp quốc tế, trong đó có
Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982; hoan nghênh các nỗ lực nhằm
duy trì hòa bình, an ninh, ổn định và tự do, an toàn hàng hải, hàng không trong
khu vực.
Hội nghị đã bầu bà Michaëlle Jean làm Tổng
Thư ký mới của Pháp ngữ thay ông Abdou Diouf hết nhiệm kỳ; kết nạp Mexico,
Costa Rica và Kosovo làm quan sát viên, nâng tổng số thành viên của Tổ chức quốc
tế Pháp ngữ lên 80. Hội nghị cũng đồng thời quyết định tổ chức Hội nghị Cấp cao
Pháp ngữ lần thứ 16 năm 2016 tại Madagascar .
Đoàn đại biểu
Việt Nam do Phó Chủ tịch nuớc Nguyễn Thị Doan làm Trưởng
đoàn đã tham dự Hội nghị. Bên lề Hội nghị, Phó Chủ tịch nước đã có các cuộc tiếp
xúc với Tổng thống Senegal, Tổng thống Cameroon, Tổng thống Mauritius, Hoàng
thân Monaco, Thủ tướng Ai Cập, Thủ tướng lâm thời Tunisia, Bộ trưởng Ngoại giao
Haiti, Tổng Thư ký Pháp ngữ để trao đổicác biện pháp nhằm thúc đẩyquan hệ song
phương và trao đổi về các vấn đề hai bên cùng quan tâm.
Tháng 2/1986,
theo sáng kiến của cố Tổng thống Pháp Phờ-răng-xoa Mít-tơ-răng, Hội nghị cấp
cao lần thứ nhất của các nước có sử dụng tiếng Pháp đã được tổ chức tại Pa-ri với sự tham gia của
gần 40 vị đứng đầu Nhà nước và Chính phủ các nước có sử dụng tiếng Pháp, đánh dấu
sự ra đời chính thức của Cộng đồng các nước có sử dụng tiếng Pháp. Tháng
12/1998, Hội nghị Bộ trưởng phụ trách Pháp ngữ lần thứ 12, họp tại Bu-ca-rét
(Rumani), đã thông qua tên gọi chính thức của Cộng đồng các nước có sử dụng tiếng
Pháp là Tổ chức quốc tế Pháp ngữ (OIF).
Năm 1979, Việt Nam chính thức gia nhập Tổ chức hợp tác
văn hoá và kỹ thuật (ACCT) – một tổ chức quốc tế sử dụng tiếng Pháp được thành
lập năm 1970. Từ đó, Việt Nam lần lượt tham gia vào nhiều tổ chức
khác thuộc Cộng đồng Pháp ngữ. Việt Nam đã tham dự các Hội nghị cấp cao Cộng đồng
Pháp ngữ ngay từ Hội nghị đầu tiên và tháng 11/1997, Việt Nam đã tổ chức Hội
nghị cấp cao Cộng đồng Pháp ngữ lần thứ 7 tại Hà Nội. Trước đó, Việt Nam đã lần lượt được bầu là thành viên của
Uỷ ban nối tiếp quốc tế (CIS) trước đây của Hội nghị cấp cao, sau đó là uỷ viên
Hội đồng thường trực Pháp ngữ (CPF). Tháng 1/1996, Việt Nam trở thành Phó Chủ tịch và tháng
1/1997, là Chủ tịch của CPF.
Hot (焦点)
-
胡志明是二十世纪越南革命杰出的马克思主义思想家。他老人家的思想是马克思列宁主义在符合越南的条件和历史背景基础上的运用、发展与创新,体现着时代精神及现代与当代世界的运动与发展趋势。 1 、胡志明思想、道德、风格体系的道德榜样。他老人家的思想合成了越南革命及革命之路的战略策...
-
为维护国家海岛主权,越南历代封建王朝都着重投资建设强大的水军力量。越南丁、李、陈、黎、阮等王朝的水军力量不断得到加强和完善。这支水军为捍卫祖国事业作出了巨大贡献,在各个阶段留下了历史烙印。 至今还收藏的古籍显示,越南历代封建王朝早已对黄沙群岛和长沙群岛确立主权、实施...
-
1954 年《日内瓦协议》签署之后,越南暂时被分成南北两方不同政治制度的政体。据此,越南北纬 17 度以南的领土(包括黄沙、长沙两群岛)由越南共和国政府管辖。根据《协议》规定,法国殖民者被迫撤离越南之后,西贡政权立即派遣海军力量接管黄沙、长沙两群岛并对其行使主权。与此同时,...
-
(VOVWORLD) - 越南伟大领袖胡志明主席的思想、道德、作风、革命生涯是越南全党、全民学习和实践胡志明道德榜样的生动和具有说服力的楷模。至今,越南开展学习和实践胡志明道德榜样运动已有 8 年并取得多项重要结果。 胡志明主席在其革命生涯中牺牲个人利益,为祖国和人...
-
越南的黄沙群岛位于东海(中国称南海)北边,处于北纬 15°45′ 至 17°15′ 、东经 110° 至 113° ,距越南广义省李山岛约 120 海里。黄沙群岛由 37 多个岛、洲、礁和沙滩组成,分为西面和东面两个群岛。东面为安永群岛(中国称宣德群岛),由 12 个岛、洲...
-
数十年来,中国人拿出大量书籍、资料和史料,企图证明从两千年前的汉朝起,中国人就发现了西沙和南沙(即越南的黄沙群岛和长沙群岛),从而说古代中国发现西沙南沙群岛就足够证明中国对西沙和南沙的不可争议的领土主权。据说,中国人最迟于唐宋发现南沙群岛至今,就一直在岛上及其海域从事生产活...
-
越南对黄沙、长沙两座群岛的主权不仅在越南古籍和古文献中有记载,而且还出现在西方航海家和传教士等的书籍、报纸、地图、日记、航路指南等外国资料中。这些资料描述黄沙、长沙“是越南中部海上的一块沙渚…”,这和越南同一历史时期资料和古地图描述的类似。法国 1936 年在印度支那建立的...
-
BDN - 位于东海边国土陆地呈 “S” 字形的越南,无形中拥有沿着国土走向三千公里海岸及依照 1982 年《联合国海洋法公约》从岸边向外延伸的辽阔海域。这意味着从越南 1982 年 11 月确定和公布的垂直基线算起往外延伸 200 海里宽的海域属越南的主权,被称作专属经济...
-
从十六、十七世纪至今,西方国家的轮船日益频繁来往于东海。他们来到这里,不只为了扩大贸易还为了传教和传播西方文化。在来往东海期间,西方航海家和传教士们以当时最现代的技术很详细地描述和绘画黄沙群岛和长沙群岛,以避免这两个群岛的礁石给来往的船舶造成危害。为此,他们很仔细地研究东海...
-
香港媒体最近透露中国在东海划分“新边界线”的海洋研究项目,为“资源研究”创造了条件,北京对这片海域的主权主张“增添了筹码”。这条新边界线是一条与囊括了蕴藏着丰富矿产和能源资源的东海海域九段线相吻合的实线,九段线内的海域就是北京声索主权的那片海域。 从国际法的角度来看实线...







