Kế hoạch Hành động về Quản lý nghề cá và bảo vệ Môi trường Biển Đông

05:48 |
Sáng kiến Kế hoạch Hành động về Quản lý nghề cá và bảo vệ Môi trường Biển Đông của CSIS nhằm cung cấp một mô hình hợp tác khả thi cho các nước yêu sách ở Biển Đông về quản lý tranh chấp biển.
Kế hoạch Hành động về Quản lý nghề cá và bảo vệ Môi trường Biển Đông, một phương tiện để các bên thúc đẩy quản lý chung và duy trì ổn định khu vực Biển Đông, là sáng kiến do Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế (CSIS) Mỹ công bố cuối năm 2017. Đây là một nghiên cứu đầu tiên của các chuyên gia quốc tế nhằm cung cấp một mô hình hợp tác khả thi cho các nước yêu sách ở Biển Đông về quản lý tranh chấp biển.
Chương trình Kế hoạch Hành động về Quản lý nghề cá và bảo vệ Môi trường Biển Đông của tổ chức Sáng kiến Minh bạch Hàng hải châu Á do CSIS đưa ra, theo đó thành lập một nhóm chuyên gia đến từ các nước khu vực am hiểu luật pháp, chính sách và môi trường. Mục đích của chương trình là đưa ra những hình mẫu về quy tắc ứng xử liên quan quản lý nghề cá và bảo tồn môi trường ở biển Đông.
Tất  cả các quốc gia có nghĩa vụ hợp tác bảo vệ môi trường biển
Theo số liệu từ Viện nghiên cứu chiến lược Biển Đông, Biển Đông là một trong năm khu vực đánh bắt cá năng suất cao trên thế giới, chiếm khoảng 12% tổng lượng đánh bắt cá toàn cầu trong năm 2015. Hơn một nửa tàu cá trên thế giới hoạt động trong vùng biển này. Vì tầm quan trọng như vậy nên việc các quốc gia trong khu vực, kể cả những quốc gia có yêu sách về chủ quyền hay không, đều có nghĩa vụ hợp tác bảo vệ môi trường biển và quản lý nguồn cá, theo nội dung mà sáng kiến Kế hoạch hành động về quản lý nghề cá và bảo vệ môi trường biển Đông đưa ra.
Theo ông Gregory Poling, Giám đốc Chương trình sáng kiến Minh bạch Hàng hải, Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế (CSIS) Mỹ, khác với việc khai thác dầu khí chỉ có thể thực hiện dựa trên quyền chủ quyền của quốc gia ven biển với thềm lục địa, nghĩa vụ cùng nhau quản lý nguồn tài nguyên sinh vật biển khiến cho việc quản lý nghề cá và bảo vệ môi trường trở thành một lĩnh vực dễ thúc đẩy hợp tác hơn ở Biển Đông. Các quốc gia xung quanh Biển Đông hoàn toàn có khả năng hợp tác hiệu quả để bảo vệ những hệ sinh thái này và quản lý nguồn cá mà không làm ảnh hưởng đến các yêu sách biển và lãnh thổ chồng lấn.
"Về mặt chính trị, đây là một kế hoạch hoàn toàn khả thi, bởi bản kế hoạch này bỏ ngoài những yếu tố tranh chấp chủ quyền lãnh thổ. Việc các bên có yêu sách chủ quyền tham gia vào kế hoạch cũng như đồng ý các nội dung trong bản kế hoạch không đồng nghĩa họ thỏa hiệp với nhau; không đồng nghĩa với việc họ từ bỏ những yêu sách về chủ quyền của mình, cũng không đồng nghĩa với việc họ công nhận chủ quyền lãnh thổ hay yêu sách của các quốc gia khác mà nội dung chính của bản kế hoạch này chúng tôi tập trung vào yêu cầu hợp tác về quản lý nghề cá, bảo vệ môi trường biển ở Biển Đông" - ông Gregory Poling nói.
Điều 123 Công ước Liên Hợp Quốc về Luật biển (UCNLOS) đã quy định: Các quốc gia xung quanh vùng biển nửa kín như Biển Đông có nghĩa vụ hợp tác bảo vệ môi trường biển và quản lý nguồn cá. Bởi các tài nguyên sinh vật biển tự do di chuyển đến tất cả các khu vực khác nhau mà không cần sự cho phép của thẩm quyền quốc gia.  Điều 192 UNCLOS cũng quy định nghĩa vụ chung cho các quốc gia “bảo vệ và bảo tồn môi trường biển”.
Gìn giữ môi trường biển thông qua hợp tác đa phương
Như vậy, nghĩa vụ pháp lý quốc tế về hợp tác quản lý nghề cá và môi trường biển được quy định rất rõ và hoàn toàn phù hợp với nhu cầu thực tế. Các cộng đồng dân cư xung quanh Biển Đông hiện đang phụ thuộc mạnh mẽ vào nguồn cá cả về an ninh lương thực và kế sinh nhai của người dân.
Tuy nhiên tại khu vực, tỷ lệ đánh bắt cá sụt giảm trong những năm gần đây do sự kết hợp của hai nhân tố gồm đánh bắt cá quá mức và việc phá hủy môi trường có chủ ý. Gìn giữ môi trường biển thông qua hợp tác đa phương ở các vùng biển tranh chấp phải là xu thế tất yếu, theo Kế hoạch Hành động về Quản lý nghề cá và bảo vệ Môi trường Biển Đông mà CSIS đưa ra. Ông Poling khẳng định thêm: "Nếu chúng ta cứ nhất nhất chú tâm vào câu chuyện giải quyết tranh chấp thì có lẽ chúng ta sẽ phải đứng trước 2 lựa chọn. Thứ nhất bao giờ giải quyết xong tranh chấp lãnh thổ thì mới có thời gian nói về quản lý nghề cá và bảo vệ môi trường Biển Đông. Thứ hai, song song việc giải quyết tranh chấp lãnh thổ, chúng ta phải có những động thái ngay lập tức vì quản lý, khai thác nguồn cá và vấn đề môi trường biển Đông không thể đợi được".
Sáng kiến Kế hoạch Hành động về Quản lý nghề cá và bảo vệ Môi trường Biển Đông của CSIS chỉ ra rằng các quốc gia trong khu vực cần nhanh chóng triển khai các nội dung như: Thiết lập Khu vực Quản lý Môi trường và Nghề cá ở Biển Đông; Quy định phạm vi trách nhiệm của các bên ví dụ như các nước yêu sách cần chịu trách nhiệm kiểm soát và ngăn chặn các  tàu vi phạm các quy định hạn chế đánh bắt cá. Ngoài ra tất cả các nước tránh các hành động phá hủy môi trường biển nào như nạo vét, cải tạo đảo, hay xây dựng các cơ sở trên các rạn san hô chưa có nước nào kiểm soát. Cuối cùng tất cả các quốc gia cần có kết hoạch hợp tác về nghiên cứu khoa học biển nhằm triển khai hiệu quả các nỗ lực bảo tồn.
Đọc thêm...

当前东海主权争端的略讲

05:27 |
按照国际社会的观念,目前,面对自然资源枯竭的威胁,海洋被视为人类的食物、能源、原材料的最后一个储备库,其中,东海也不列外。东海自然资丰富但是该地区也存在很多历史长期与复杂的海岛主权争端。
越南位于东海西岸,海岸线长达3260公里,海域面积超过100万平方公里,有3000多个岛屿,还有黄沙群岛和长沙群岛属于前哨的位置并接近地区国家的海域。因此,在两个群岛的海域中特别是在长沙群岛地区长期以来已经存在着各方面之间非常复杂的争端 (1)。根据与获取领土权有关的国际法和国际惯例的原则,越南对黄沙群岛和长沙群岛拥有无可争辩的主权。特别是根据1982年“联合国海洋法公约”,越南对包括黄沙群岛和长沙群岛的海域和大陆架拥有主权,主权权利和管辖权,符合于公约,得到国际社会的承认。
然而,因为多种不同的原因,有一些国家和领土已经与越南对黄沙群岛和长沙群岛存在争议 (2)。另外一个方面,由于东海周边国家关于1982年“联合国海洋法公约”解释和适用不同,所以在东海地区已经形成重叠的海域和大陆架。从这个事实来看,在东海目前存在两种主权争议,主要是:
1.对越南的黄沙群岛和越南的长沙群岛的领土主权争端;
2.东海周边国家的重叠海域和重叠大陆架的海上边界问题争议。
这是长期、复杂并不断增强的双边或多边争端,该争端潜在的不可预测的风险,威胁到该地区和世界的和平与稳定。越南的立场很清楚,就是:即在遵守国际法,特别是1982年“联合国海洋法公约”的基础上,按照国际社会的路线图,用和平方法来解决东海问题,在等公平、客观的一个解决方式的同时,国际舆论认为各方应当约束,维持现状,不使用或威胁使用武力,不采取使争议复杂化、扩大化行动等等旨在促进本地区和世界的和平与稳定。
Đọc thêm...

Khái quát về tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông

05:23 |
Theo quan niệm của cộng đồng quốc tế, hiện nay, trước nguy cơ cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên trên đất liền, thì biển và đại dương được coi là nơi dự trữ cuối cùng của loài người về các nguồn lương thực, thực phẩm, năng lượng, nguyên - nhiên liệu và Biển Đông cũng không phải là ngoại lệ. Đó là khu vực biển giàu tài nguyên thiên nhiên, nhưng nơi đây cũng chứa đựng nhiều mâu thuẫn lợi ích liên quan đến các tranh chấp chủ quyền biển, đảo, phức tạp và kéo dài trong lịch sử.
Việt Nam là quốc gia nằm ven bờ Tây của Biển Đông, có bờ biển dài 3.260 km, vùng biển rộng khoảng trên 1 triệu km2, với hơn 3.000 hòn đảo lớn nhỏ, cùng hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa nằm ở vị trí tiền tiêu và liền kề với vùng biển của các nước trong khu vực. Chính vì thế, xung quanh hai quần đảo này, nhất là đối với quần đảo Trường Sa, từ lâu đã tồn tại các tranh chấp về chủ quyền giữa các bên1 hết sức phức tạp. Căn cứ vào nguyên tắc của luật pháp và thực tiễn quốc tế có liên quan đến quyền thụ đắc lãnh thổ, Việt Nam có chủ quyền không thể tranh cãi đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Đặc biệt, căn cứ vào Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982, Việt Nam có chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán đối với các vùng biển và thềm lục địa bao hàm cả quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa được xác lập là phù hợp với Công ước, được cộng đồng quốc tế thừa nhận.
Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau, một số nước và vùng lãnh thổ đã tranh chấp chủ quyền lãnh thổ với Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa2. Mặt khác, do việc giải thích và áp dụng Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 của những nước có biển, nằm ven bờ Biển Đông khác nhau, nên đã hình thành các khu vực biển và thềm lục địa chồng lấn. Từ thực tế đó, tại Biển Đông hiện đang tồn tại hai loại tranh chấp chủ quyền biển, đảo chủ yếu:
1. Tranh chấp chủ quyền lãnh thổ đối với quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam.
2. Tranh chấp trong việc xác định ranh giới các vùng biển và thềm lục địa chồng lấn giữa các nước có vùng biển liền kề hay đối diện ở xung quanh Biển Đông.
Đây là những tranh chấp kéo dài, phức tạp và ngày càng gia tăng giữa hai hoặc nhiều bên, tiềm ẩn nguy cơ khó lường, đe dọa hòa bình, ổn định ở khu vực và thế giới. Quan điểm của Việt Nam là rất rõ ràng, rằng: giải quyết các tranh chấp này cần tiến hành bằng biện pháp hòa bình, trên cơ sở tuân thủ luật pháp quốc tế, nhất là Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982, theo lộ trình phù hợp với sự chung tay của cộng đồng quốc tế. Trong khi chờ một giải pháp công bằng, khách quan, dư luận quốc tế cho rằng, các bên cần kiềm chế, giữ nguyên hiện trạng, không sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực, không có các hành động làm phức tạp tình hình hay mở rộng tranh chấp,… nhằm gìn giữ môi trường hòa bình, ổn định cho khu vực và trên thế giới.
Đọc thêm...

越南履行人权的成就是不可否认的

05:21 |
2018119日,越南外交部公布了《越南保护和促进人权》白皮书。
这是第二次越南公布人权白皮书。2005年,越南外交部已对外公布《越南保护和促进人权领域的成就》一书。越南国家公布白皮书旨在介绍国家在人权领域的成就,公开表明有关人权的观点、认识与需要克服的不足之处。
此次公布的《越南保护和促进人权》一书的内容编有四章。第二章提及越南在实施公民、政治、社会、文化以及弱势人群等权利所取得的成就。此次公布的《越南保护和促进人权》一书中,越南公开7个优先事项,即继续完善法律系统,确保在符合2013年宪章和越南所签署的国际承诺基础上更好落实人民基本权利和自由;推动经济社会发展,为消除贫困和饥饿、提高人民的物质和精神生活创造便利条件;提高接近各种社会保障类型的能力;改善包括人权教育在内的教育质量以发展人力资源,旨在提高人民对该问题的认识和执法机构的能力;积极促进性别平等,将其视为建设强大的人力资源和提高每个人、每个家庭和全社会的生活质量的重要因素;做好社会保健工作,面向一个健康的社会并充分获得体质和精神保健服务;与世界和地区各国、有关人权的各机制和专业组织加强合作。
越南履行人权的成就和观点是明显和正确的。但仍有些个人和组织在网站上散发歪曲捏造和故意否认越南人权实际情况的文章。他们否认越南国家在完善法律系统与当前反贪反腐斗争所作出的努力。他们错误认为,“近期各部法案的修改只是党意而不是民心的”。他们保卫那些因进行歪曲制度本质的宣传行为受处置的罪犯(诸如在安江挂黄旗的一群青年)。他们甚至表示保卫杀人者(诸如在得农省被判死刑的邓文献)等。关于反贪反腐斗争,他们写道,这仅是“内部争斗和派系清除,而不是为了公理和人民的利益”。
不过,越南社会发展历程表明,过去时间,由于战争漫长的原因,越南对人权的认识还片面。在1975-1986年阶段,越南国家主张建设旧式社会主义社会模式。这导致公民的许多权利,其中有个人自由做经济权利被限制。从1986年建设新式社会主义社会模式以来,越南党和国家已调整政治、经济路线,建设法权社会主义国家和社会主义定向市场经济。值得一提的是,2013年,越南国会通过了新宪法。该重要文件的第二章全部内容都对人权、公民的权利和义务作出规定。其中的公民、政治、经济、社会、文化等权利都符合国际社会的共同准则。
上述“认定”和“宣布”的错误之处在于他们片面地理解国际人权法。正确地说他们仅仅把人权视为个人的权利。在国际人权法中都充分规定个人的权益以及国家民族的权益。1966年《公民权利和政治权利国际公约》第一条规定:“所有人民都有自决权。他们凭这种权利自由决定他们的政治地位,并自由谋求他们的经济、社会和文化的发展。公约缔约各国,应在符合联合国宪章规定的条件下,促进自决权的实现,并尊重这种权利”。民族自决权不是个人的权利,也不是个别社会群体的权利,而是国家、国会和政府的权利。在手续方面,外交部被任命代表机关参加磋商和签署。
1966年《公民权利和政治权利国际公约》第一条规定的主要内容是越南刑事法、宗教法乃至越南法律的制定权属于越南国会。这不仅是政治而且还出于实践要求。
为了充分落实2013年宪法,尤其是关于人权、公民权利和义务的第二章,2015年刑事法得到越南国会朝着尊重人道法、人权法方向进行修改。诸如,从201811日,被判死刑的贪污、贿赂的人可以得到免死罪若已主动缴纳贪污、受贿财产的四分之三,并积极配合职能机关发现、调查和处理犯罪或立下大功。用折磨、虐待、威胁精神、声索财产或其他手段来阻碍别人离婚的人,若已被行政处罚仍重新再犯就被警告处罚,至3年的不拘留改造处罚,或被判处3个月至3年徒刑。
为了克服交通事故状况,保卫公民的生活权,刑事法规定步行者不在规定的道路上行走,导致严重事故后果将被追究刑事责任。
上述法律规定难道是“内部争斗和派系清除”?
1966年《公民权利和政治权利国际公约》中,不是所有的个人权利都是绝对权,许多权力也被限制。诸如信仰宗教自由权,结社和集会权利。该公约第18条规定:“人人有权享受思想、良心和宗教自由。此项权利包括维持或改变他的宗教或信仰的自由。任何人不得遭受足以损害他维持或改变他的宗教或信仰自由的强迫。表示自己的宗教或信仰的自由,仅受法律所规定的以及为保障公共安全、秩序、卫生或道德、或他人的基本权利和自由所做出的限制”。
关于集会权利(该公约第21条)与结社权利(第22条)规定为维护国家安全或公共安全、公共秩序,保护公共卫生或道德,或他人的权利和自由而被限制。这意味着某个社会组织未得到国家承认将不得到国家保护。类似的,集会、游行活动未经职能机关允许是违反法律,会被镇压。
截至目前,不分政治体系,发展水平、文化传统等,所有国家都设有法律规定,旨在保卫制度、宪法、国家和执政党。2017224日,Janet阮参议员由于在参议院上发表演讲时指责已故参议员Tom Hayden(电影演员Jane Fonda的丈夫——越南战争反对者)已被主持人要求保安力量强制拉出会议室是一个例子。
关于当前越南反腐反贪斗争,法律对郑春清和同犯的审判正在得到人民支持,由于该斗争不仅没有“禁区”,而且还可以使用一切必要方式来斗争。

有的人说人权就像地平线那样越走越远。这意味着人权保障工作是没有界限的,因为人对权益和责任的认识一直得到提高。重要的是人们应对人权给以正确的认识,并朝着正确方向推动其发展。对于越南民族,人权是由越南人民在越南共产党领导下,从1945年八月革命夺来的。越南党和国家绝不与这个革命价值背道而驰。任何人借口“反辩”,企图提出歪曲、否认越南社会主义共和国的人权成就的言论一律是不可接受的。
Đọc thêm...

Không thể phủ nhận được thành quả về quyền con người ở Việt Nam

05:20 |
Ngày 19-1-2018, Bộ Ngoại giao nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa (XHCN) Việt Nam đã công bố “Sách trắng về quyền con người với chủ đề “Bảo vệ và thúc đẩy quyền con người ở Việt Nam”.
Đây là lần thứ hai Việt Nam công bố sách trắng về quyền con người (QCN). Năm 2005, lần đầu, Bộ Ngoại giao Việt Nam đã công bố cuốn sách “Thành tựu bảo vệ và phát triển các quyền con người ở Việt Nam”. Việc Nhà nước Việt Nam công bố sách trắng không chỉ nhằm nêu lên những thành quả về nhân quyền của đất nước mà còn công khai quan điểm, nhận thức và cả những hạn chế cần được khắc phục trong thời gian tới.
Sách trắng về QCN năm nay của Việt Nam gồm 4 chương, trong đó Chương II đề cập tới thành tựu của Việt Nam trong thực hiện quyền dân sự, chính trị, xã hội, văn hóa, quyền của các nhóm dễ bị tổn thương… Điều mới mẻ của sách trắng năm nay là Nhà nước Việt Nam đã công khai 7 hướng ưu tiên, đó là: (1) Tiếp tục kiện toàn hệ thống pháp luật nhằm bảo đảm thực hiện tốt hơn các quyền và tự do cơ bản của người dân trên cơ sở phù hợp với Hiến pháp 2013 và các cam kết quốc tế của Việt Nam; (2) Đẩy mạnh phát triển kinh tế-xã hội nhằm nâng cao điều kiện, nguồn lực phục vụ công tác xóa đói, giảm nghèo, nâng cao chất lượng đời sống vật chất và tinh thần cho người dân; (3) Nâng cao khả năng tiếp cận với các loại hình an sinh xã hội; (4) Cải thiện chất lượng giáo dục nhằm phát triển nguồn nhân lực, trong đó có giáo dục về quyền con người nhằm nâng cao nhận thức của người dân và các cơ quan thực thi pháp luật trong vấn đề này; (5) Thúc đẩy bình đẳng giới, nâng cao chất lượng cuộc sống cho mỗi cá nhân, mỗi gia đình; (6) Chăm sóc sức khỏe cộng đồng, hướng đến một xã hội được chăm sóc sức khỏe đầy đủ cả về thể chất và tinh thần; (7) Tăng cường hợp tác về quyền con người với tất cả các quốc gia, các cơ chế và tổ chức chuyên môn của khu vực và toàn cầu.
Những thành quả và quan điểm của Việt Nam về QCN là rất rõ ràng, đúng đắn. Thế nhưng trên một số trang mạng vẫn có những cá nhân, tổ chức tán phát bài viết xuyên tạc, bác bỏ, cố tình phủ nhận những thực tế về QCN ở Việt Nam. Họ phủ nhận tất cả, từ những nỗ lực của Nhà nước Việt Nam trong việc hoàn thiện pháp luật đến cuộc đấu tranh chống tham nhũng hiện nay. Họ “nhận định” rằng “các đạo luật sửa đổi vừa qua chỉ theo “ý Đảng chứ không theo lòng dân” (!?). Họ bảo vệ những kẻ bị pháp luật trừng phạt do có những hành vi tuyên truyền xuyên tạc bản chất chế độ (như nhóm thanh niên treo cờ vàng ở An Giang). Thậm chí họ lên tiếng bảo vệ cả kẻ giết người (đã bị tòa án tuyên phạt tử hình như Đặng Văn Hiến ở Đắc Nông)... Về cuộc đấu tranh chống tham nhũng, họ viết: Đó chỉ là cuộc “đấu đá nội bộ và thanh trừng phe nhóm, chứ không phải vì công lý và ích lợi nhân dân”.
Không phủ nhận trong nhiều thời kỳ lịch sử đã qua, do điều kiện chiến tranh kéo dài nên nhận thức về QCN của Việt Nam còn phiến diện. Trong giai đoạn 1975-1986, Nhà nước Việt Nam chủ trương xây dựng mô hình xã hội XHCN kiểu cũ với nhà nước chuyên chính vô sản và mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung bao cấp, xóa bỏ kinh tế tư bản, tư nhân… Điều này, dẫn đến nhiều QCN, trong đó có quyền tự do làm kinh tế của cá nhân bị hạn chế. Trong mô hình xã hội XHCN kiểu mới (từ năm 1986 đến nay), Đảng, Nhà nước Việt Nam đã điều chỉnh đường lối chính trị, kinh tế với Nhà nước pháp quyền XHCN và nền kinh tế thị trường định hướng XHCN… Đặc biệt, năm 2013, Quốc hội Việt Nam thông qua Hiến pháp mới-Hiến pháp 2013. Văn kiện quan trọng này dành cả một chương (Chương II), quy định về “Quyền con người, quyền và nghĩa vụ công dân”. Chương này quy định đầy đủ các QCN, từ quyền dân sự, chính trị đến các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa theo những chuẩn mực chung của cộng đồng quốc tế mà Việt Nam là một thành viên có trách nhiệm.
Sai lầm của những người soạn thảo ra những “nhận định” và “tuyên bố” tán phát trên mạng là: (1) Trước hết họ đã hiểu Luật quốc tế về QCN một cách phiến diện. Nói cho đúng hơn họ chỉ xem QCN là quyền của cá nhân. Trong khi Luật quốc tế về QCN quy định đầy đủ, gồm quyền và lợi ích của cá nhân và quyền và lợi ích của quốc gia, dân tộc. Điều 1 (Phần I), “Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị" năm 1966, quy định: “1. Mọi dân tộc đều có quyền tự quyết. Xuất phát từ quyền đó, các dân tộc tự do quyết định thể chế chính trị của mình và tự do phát triển kinh tế, xã hội và văn hóa… Các quốc gia thành viên Công ước này … phải thúc đẩy việc thực hiện quyền tự quyết dân tộc và phải tôn trọng quyền đó phù hợp với các quy định của Hiến chương Liên hợp quốc”. Quyền dân tộc tự quyết không phải là quyền của cá nhân, cũng không phải là phép cộng của các nhóm xã hội mà là quyền của nhà nước, của quốc hội, chính phủ. Về mặt thủ tục thì bộ ngoại giao được giao làm cơ quan đại diện, trong thương thuyết và ký kết.
Trở lại nội dung của Điều I, quy định nói trên có nghĩa: Pháp luật Việt Nam nói chung, Luật Hình sự, Luật Tôn giáo nói riêng mà những người soạn thảo “nhận định"… phê phán là thuộc quyền của Quốc hội Việt Nam. Điều này không chỉ về mặt chính trị mà còn từ thực tế.
Nhằm thực hiện đầy đủ hơn những quy định của Hiến pháp 2013, trong đó có Chương II về QCN, quyền và nghĩa vụ công dân, Bộ luật Hình sự (năm 2015) được Quốc hội Việt Nam sửa đổi theo hướng tôn trọng luật nhân đạo và luật nhân quyền hơn so với Bộ luật Hình sự 1999. Chẳng hạn: Từ ngày 1-1-2018, người tham ô, hối lộ bị kết án tử hình có thể được miễn tội chết “nếu đã chủ động nộp lại ít nhất ba phần tư tài sản tham ô, nhận hối lộ và hợp tác tích cực với cơ quan chức năng trong việc phát hiện, điều tra, xử lý tội phạm hoặc lập công lớn”. Hoặc người “cản trở người khác ly hôn bằng cách hành hạ, ngược đãi, uy hiếp tinh thần, yêu sách của cải hoặc bằng thủ đoạn khác, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 03 năm”.
Nhằm khắc phục tình trạng tai nạn giao thông, bảo vệ quyền sống của con người, bộ luật này quy định người đi bộ “Không đi đúng phần đường quy định (trường hợp vượt qua dải phân cách; đi qua đường không đúng nơi quy định hoặc không bảo đảm an toàn…) gây hậu quả nghiêm trọng sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự”… Chẳng lẽ những quy định pháp luật như trên là vì “đấu đá nội bộ và thanh trừng phe nhóm” như những người soạn thảo “nhận định” và "tuyên bố” rêu rao hay sao?
 Trong "Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị" năm 1966, không phải tất cả các quyền cá nhân đều là quyền tuyệt đối mà nhiều quyền bị hạn chế. Chẳng hạn quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; quyền về lập hội và hội họp là những ví dụ. Điều 18, quy định: “Mọi người đều có quyền tự do tư tưởng, tự do tín ngưỡng và tôn giáo. Quyền này bao gồm tự do có hoặc theo một tôn giáo hoặc tín ngưỡng… Không ai bị ép buộc làm những điều tổn hại đến quyền tự do lựa chọn hoặc tin theo tôn giáo… Quyền tự do bày tỏ tôn giáo hoặc tín ngưỡng có thể bị giới hạn bởi pháp luật và khi sự giới hạn đó là cần thiết để bảo vệ an ninh, trật tự công cộng, sức khỏe hoặc đạo đức xã hội, hoặc để bảo vệ các quyền và tự do cơ bản của người khác…”.
  Về quyền hội họp (Điều 21) và quyền lập hội (Điều 22) Công ước nói trên quy định “có thể bị hạn chế “vì lợi ích an ninh quốc gia, an toàn và trật tự công cộng, và để bảo vệ sức khỏe và đạo đức xã hội hoặc bảo vệ quyền và tự do của những người khác”. Điều này có nghĩa những tổ chức xã hội nào đó chưa được nhà nước thừa nhận sẽ không được nhà nước bảo hộ. Tương tự như vậy những cuộc hội họp, biểu tình chưa được các cơ quan chức năng cho phép là vi phạm pháp luật và có thể bị trấn áp.
 Cho đến nay tất cả quốc gia dân tộc, không phân biệt chế độ chính trị, trình độ phát triển, bản sắc văn hóa đều có những quy định pháp luật để bảo vệ chế độ, bảo vệ hiến pháp, bảo vệ nhà nước và bảo vệ đảng cầm quyền. Còn nhớ, ngày 24-2-2017, Thượng nghị sĩ Janet Nguyễn đã bị lực lượng bảo vệ cưỡng chế đưa ra khỏi phòng họp, theo lệnh của chủ tọa vì trong diễn văn đọc trước Thượng viện đã chỉ trích Thượng nghị sĩ quá cố Tom Hayden (chồng của nghệ sĩ điện ảnh Jane Fonda, người phản đối chiến tranh Việt Nam) là một ví dụ.
Về cuộc đấu tranh chống tham nhũng hiện nay, phiên tòa xét xử Trịnh Xuân Thanh và đồng phạm đang được nhân dân hoan nghênh vì chứng tỏ cuộc đấu tranh này là cuộc đấu tranh không chỉ “không có vùng cấm” mà còn được sử dụng tất cả những phương thức cần thiết để đấu tranh.
Có người nói, QCN như đường chân trời… người ta càng đi tới thì đường chân trời càng lùi xa hơn. Điều đó có nghĩa việc bảo đảm QCN là không bao giờ đủ vì nhận thức về quyền, lợi ích và trách nhiệm của người dân luôn luôn được nâng cao. Điều quan trọng là mọi người cần nhận thức đúng về QCN và thúc đẩy phát triển nó đúng hướng. Đối với dân tộc Việt Nam, QCN là do nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đứng lên giành lại từ cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Không có lý do gì Đảng và Nhà nước Việt Nam đi ngược lại những giá trị của cuộc cách mạng đó. Những ai kiếm cớ “phản biện” để đưa ra những "nhận định" xuyên tạc, phủ nhận thành quả về QCN của Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam là không thể chấp nhận được.
Đọc thêm...

和平解决海上争端的“国际共识”

05:14 |
长期以来,通过和平手段解决各国间的争端一直是一个必然趋势,且深受世界各国的支持。1982年联合国海洋法公约(以下简称为1982公约)肯定了所有缔约国通过和平手段解决争端问题的基本原则。这也完全符合联合国宪章。那么,和平手段的内涵包括哪些问题?
根据国际法律、惯例和实践,通过和平手段解决各国间的海上争端可以理解为:(1)在尊重国际法律与实践和相互平等、相互尊重的基础上,通过(双边或多边)和平谈判,以求达成与各方公平的解决办法;(2)通过国际公理仲裁、国际海洋法法庭等仲裁等中介和解机构解决争端。具体说,1982公约规定:缔约国间的任何争端首先要通过交换意见与和解等办法解决。如经过一定的时间,争端仍未得到解决,有关各方有义务通过司法手段解决问题。1982公约允许有关各方有权利选择以下四个机制:国际公理仲裁、国际海洋法法庭、第七号附录国际仲裁、第八号国际仲裁。如果有关各方未能选择上述四个机制,将采用第七号附录的国际仲裁——强迫机制来解决争端。
国际实践表明,世界上诸多国家(甚至包括相互关系友好的国家)经过谈判无果而终后,把争端问题送到国际仲裁机构仲裁并认真执行,但也有个别场合不承认、不执行国际仲裁的裁决。通过国际仲裁得到解决的典型例子包括:1984年美国与加拿大缅因湾专属经济区划界问题、2003年马来与印尼诸岛主权争端问题、2008年马来与新加坡诸岛主权争端等。菲律宾就东海争端问题提出仲裁一事根据1982公约第七号附录得以成立。2016年所得出的仲裁结果也是通过和平手段解决海上争端,深受国际社会的欢迎和赞赏。
可以肯定说,通过和平手段解决海上争端一直并将是国际社会所支持的时代必然趋势。这是世界各国遵守1982公约等国际法律的重要依据,也有助于维护和平稳定的环境,维护世界各海域上的安全与航行安全。
Đọc thêm...

“Nhận thức quốc tế” về giải quyết tranh chấp trên biển bằng biện pháp hòa bình

05:10 |
Đã từ lâu, việc giải quyết tranh chấp giữa các quốc gia bằng các biện pháp hòa bình là xu hướng tất yếu, được đa số các nước trên thế giới ủng hộ. Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (sau đây gọi tắt là Công ước 1982) đã khẳng định nguyên tắc cơ bản trong giải quyết tranh chấp giữa các quốc gia thành viên là thông qua các biện pháp hòa bình. Điều này cũng hoàn toàn phù hợp với Hiến chương của Liên hợp quốc. Vậy nội hàm của việc giải quyết này bao gồm những vấn đề gì?
Theo luật pháp, thông lệ và thực tiễn quốc tế, giải quyết các tranh chấp trên biển giữa các quốc gia bằng các biện pháp hòa bình có thể hiểu là: (1). Giải quyết các tranh chấp thông qua đàm phán hòa bình (song phương hoặc đa phương) trên cơ sở luật pháp và thực tiễn quốc tế, bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau nhằm đi tới một giải pháp công bằng cho tất cả các bên; (2). Giải quyết các tranh chấp thông qua trung gian, hòa giải hoặc bằng các cơ chế tài phán quốc tế, như: Tòa án Công lý quốc tế, Tòa án Quốc tế về Luật Biển và các tòa trọng tài khác. Một cách cụ thể hơn, Công ước 1982 còn quy định: bất kỳ một tranh chấp nào giữa các quốc gia thành viên, trước hết, phải được giải quyết thông qua trao đổi quan điểm và hòa giải. Nếu sau một khoảng thời gian hợp lý nhất định mà tranh chấp chưa được giải quyết thì các bên có nghĩa vụ bắt buộc giải quyết tranh chấp bằng biện pháp tư pháp. Công ước 1982 cho phép các bên có quyền lựa chọn một trong bốn cơ chế, gồm: Tòa án Công lý quốc tế, Tòa án quốc tế về Luật biển, Trọng tài theo phụ lục VII và Trọng tài theo phụ lục VIII. Nếu các bên không lựa chọn một trong số bốn cơ chế nêu trên thì Trọng tài theo phụ lục VII là cơ chế bắt buộc được sử dụng để giải quyết tranh chấp.
Thực tiễn quốc tế cho thấy, nhiều quốc gia trên thế giới (thậm chí cả các quốc gia có quan hệ ngoại giao hết sức thân thiện với nhau) sau một thời gian đàm phán không đạt kết quả đã đưa tranh chấp đó ra giải quyết tại các tòa án quốc tế và nghiêm chỉnh thực hiện, nhưng cũng có trường hợp cá biệt không thừa nhận và chấp hành các phán quyết của tòa. Các vụ điển hình đã được giải quyết tại Tòa án Công lý quốc tế là: phân định vùng đặc quyền kinh tế ở vịnh Mên giữa Mỹ và Ca-na-đa năm 1984; giải quyết tranh chấp chủ quyền các đảo giữa Ma-lai-xi-a và In-đô-nê-xi-a năm 2003, giữa Xin-ga-po và Ma-lai-xi-a năm 2008, v.v. Việc Phi-líp-pin đưa tranh chấp trên Biển Đông với Trung Quốc ra Tòa án Trọng tài quốc tế được thành lập theo phụ lục VII của Công ước 1982 và được Hội đồng Trọng tài ra phán quyết vào năm 2016 cũng là một biện pháp giải quyết các tranh chấp trên biển bằng biện pháp hòa bình, được cộng đồng quốc tế hoan nghênh và ủng hộ.
Như vậy, cơ chế giải quyết các tranh chấp trên biển giữa các quốc gia bằng biện pháp hòa bình đã, đang là xu thế tất yếu của thời đại, được cộng đồng quốc tế ủng hộ. Đó là cơ sở rất quan trọng để các quốc gia tuân thủ luật pháp quốc tế, nhất là Công ước 1982, góp phần duy trì môi trường hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn hàng hải tại các vùng biển và trên toàn thế giới.
Đọc thêm...

中国真的是美国的威胁

08:37 |
在川普政府的国家安全战略与国防战略把中国与俄罗斯视为美国繁荣与安全的核心挑战之际,美国亚洲协会旗下有关中国议题的网路新闻杂志《中参馆》最近与一些中国问题专家探讨了中国是否真的对美国构成威胁的问题。
霍尔姆斯:中国不对美国构成立即的威胁,但威胁逐步增加
美国海军战争学院负责海洋策略的霍尔姆斯(James Holmes)认为,中国与俄罗斯并不对美国的繁荣与安全构成立即的威胁(immediate threat),但是美国整体的经济与安全利益的一个逐步增加的威胁(incremental threat)
霍尔姆斯指出,自从二战以来,美国把自己视为海洋商贸自由体系的护卫者,把自己看成是一个欧亚强国,在欧洲和东亚驻有军队,而且在这些地区依靠同盟关系来保障美国在欧亚大陆的战略利益。北京与莫斯科则基本上公开的要在他们关注的海洋地区,像黑海和南中国海,按照他们自己的利益来修订海洋自由的规则;他们都希望削弱美国的联盟体系。如果他们成功的实现这一目标的话,美国将在亚洲不再拥有战略地位。而如果美国失去这一战略地位,这会使海洋商贸体系置于那些想要在国际体系中取代美国的国家的手中,那么美国的繁荣可能会受到影响。
在他看来,中国与俄罗斯的策略就是逐步的实现这些目标,而不会促使美国及其盟友与它们打一场战争,或者至少在爆发战争的时候使他们看起来是坏家伙。因此,他把中国与俄罗斯看作是对美国的繁荣与安全的一个缓慢移动的威胁。
查道炯: 中国不是美国的威胁,诚实竞争才是王道
北京大学国际政治经济学教授查道炯认为,从绝对意义上来看,中国不是美国的威胁。但是他认为,中国应该意识到,美国存在的‘中国人吃了美国人的午餐’、‘美国的伟大受到威胁’的情绪并不只存在于美国官方或是只来自华盛顿。在他看来,中国不会从与美国展开言辞上的竞争中获得任何好处,相反,它需要通过行动来显示,对于美国和中国这两个文明来说,归根结底,各自带着深不见底的自豪感进行诚实的竞争才是游戏的规则。
莫里斯:中国理论上可以对美国构成生存威胁
兰德公司高级政策分析师莫里斯(Lyle Morris)指出,从军事理论上来说,威胁是能力与意图的结合。从这个角度来讲,毫无疑问,中国与俄罗斯对美国构成最大的生存威胁。这两个国家不仅有能力在与美国爆发的区域性冲突中获胜,在很多情况下,他们也有在一些最可能的情景中与美国军队对阵的政治意愿。对于中国来说,这些情景包括台湾、朝鲜、日本(东中国海争端)以及菲律宾(南中国海)。
莫里斯:美国对中国态度的转变缘于中国的所作所为
莫里斯说,很多观察人士对华盛顿对北京的看法的改变感到吃惊,但是这种转变是对中国在亚洲的目标的信任逐步受到侵蚀的结果。在他看来,中国过去10年的所作所为,而不是美国急于给中国贴上对手的标签,为美国的国家安全战略与国防战略这样的文件的出台提供了可能。
这位分析师认为,中国日益选择了一条与美国及其盟友与伙伴进行对抗与胁迫的道路。在南中国海的争端上,中国选择无视国际司法裁决,而是继续通过对有争议岛礁进行军事化、威胁美国的航行自由行动以及威胁那些寻求正当使用其专属经济区的资源的其他争端方来巩固它对南中国海的控制;中国国家主导的工业间谍活动以及盗窃知识产权继续不松劲,而且越来越多的把经济胁迫作为惩罚北京不认可的行为的手段,包括针对美国的关键盟友日本、韩国和澳大利亚。
莫里斯:美中并没有进入一个战略敌意的新时代
不过,莫里斯并不认为美国的国家国防战略开启了一个美中两国都把对方看作是敌人而不是战略竞争者的战略敌意新时代。他说,国家国防战略是美国国防部职责的体现,即以敏锐的眼光审视美国的国家安全面临的长期威胁并制定遏制这种威胁的战略,并在必要的时候在军事冲突中取得胜利。他指出,国家国防战略的职责并不是交朋友或是在潜在的对手身上找到共同点。后者是国务院和白宫的职责。他认为,美国国务院与白宫会继续在合适以及可能的情况下在与中国有共同利益的领域进行合作。
伯恩斯坦:中国的威胁还体现在对美国价值观的挑战
曾经担任过《时代》杂志以及《纽约时报》的记者伯恩斯坦(Richard Bernstein)认为,美中之间的“战略敌意”或是威胁还与海洋能力以及人工岛礁军事化或是盗窃知识产权以及重商主义的贸易做法以外的事情有关。它与中国在人们表达对中国及其所谓‘核心利益’的看法时所使用的威吓运动也有关。

这位著有八本专著的观察人士说,在川普政府“无意的勾结”下,中国有效的把人权问题以及中国对人权的侵犯从美国的议程上清除掉。他说,这不是国家安全与国防战略所谈论的威胁,但是它显然会妨碍美国在全球推动民主作为美国安全最好的长期保障的目标。
Đọc thêm...

Hot (焦点)