越南保障好各少数民族的文化权益

00:34 |
想要正确、全面、客观地了解民族问题,除政治权利和经济社会权利保障外,必须看少数民族的文化权是否在实际上得到保障。
越南一直重视保存和发展少数民族的文化价值
由于历史、自然和社会条件,越南大部分少数民族在山区、边境偏僻地区居住和生产劳动。尽管只占全国人口小比率,但各少数民族一向是越南民族不可分割的一部分。在国际融入和全球化趋势,53个少数民族是发展过程中“容易受文化损伤”的对象,因此,越南党和国家确定,在关心发展经济社会、做好民生保障和除饥扶贫的同时,保存和发挥各少数民族的文化一向是急切又具有战略意义的任务,要得到坚持、持续进行。
重视维护和发挥各少数民族的文化价值得到越南共产党在向社会主义过渡时期国家建设纲领(2011年修改版)加以肯定;其还充分体现在有关文化的两个专门决议。1998年越共八大五中全会关于建设先进的、富有浓厚民族特色的越南文化的决议提出十个任务之一是保存、弘扬和发展各少数民族的文化价值,其中强调投资、调查、搜寻研究和推广各少数民族的文化、文学和艺术价值。2014年越共十一大关于建设和发展越南文化、越南人,满足国家稳固发展要求的33号决议也确定要维护和弘扬各少数民族的文化遗产,尤其是话音、文字、服装、传统节会等。
为了保障各少数民族的权利,2013年宪法等42条规定:“公民享有明确自身民族、使用母语、选择交流语言的权利”。此前,2005年教育法第七条也规定,国家为少数民族同胞学习自己民族的语言、文字,旨在维护和弘扬民族文化特色,协助少数民族学生易于接受学校和其他教育单位的知识创造便利条件。该规定旨在保障各少数民族享有自由决定出身地位与使用自己民族语言的权利,这是强调各少数民族在越南各民族共同体中的平等权利。
不仅制定主张和措施,越南国家还主动倾听和接受少数民族同胞的建议,旨在完善合乎民意的政策。20158月,文化体育和旅游部已邀请少数民族的50位长老、酋长、艺人和威望人物参与“保存和发展人口1万人以下的16个少数民族的文化特色”研讨会。研讨会上,与会代表已表白了自己的心愿,并直接向党和国家提出了有关保存和发挥各少数民族文化传统的宝贵意见。
各少数民族文化权益的保障政策在实践中扎根结果
各主张和政策只有在实践中扎根结果才发挥其价值。其体现在政府20117月批准的关于《至2020年保存和发展越南各少数民族的文化》提案。本着各少数民族同胞是文化提倡、实现和享受的主体的方针,以1.5万亿越盾的落实经费,截至目前,该提案已经和正在得到广泛开展,其中集中优先发展人口极少的少数民族以及不能自己保卫和发挥自己民族文化遗产的民族。目前,文化体育和旅游部已完成了审核、统计和紧急协助提高人口一万人以下的少数民族自己保卫文化传统的能力。
在国家的协助下,近年来,各少数民族的许多良好文化传统、特色节会和民间游戏已得到恢复,并在全国各地文化活动中发挥积极价值。西北、东北、中部、东南部等地区文化节会得到文化体育和旅游部每两三年举行一次。
在河内首都,从2010年以来,国内外游客也在山西镇越南各民族文化-旅游村直接参加由少数民族同胞和艺人表演的傣族、泰族、高棉族、芒族等少数民族同胞的文化活动。十年来,419日举行的越南各民族文化日已成为越南各民族同胞文化交流的年度活动。据文化研究专家,这些活动不仅为保存各少数民族的文化价值做出贡献,而且还有助于各少数民族弘扬民族自豪自尊精神,强调自己民族的特色文化价值,同时也是从人文深度保障文化权益的措施之一。
在为各少数民族文化得到保存和发挥的同时,多年来,各级政府已多措并举,让各民族同胞逐步改善和提高精神文化生活。截至目前,大部分山林和偏僻、特困地区的村庄已完成和正在建设新农村文化室。在2016-2020年阶段可持续减贫国家目标计划的五个目标中,就有两个目标与保障各少数民族同胞的文化权有关,即教育权和接受信息权。据此,到2020年,100%乡设有幼儿园、普通学校、民区学习中心,满足人民的学习和知识普教需求;贫困县、乡的90%民户得到接近于有关党、国家的政策和法律的信息;为约一万贫困户提供视听设施。
为了开展落实上述计划,近年来,政府总理已决定为少数民族地区和特困地区的乡村免费提供18种报纸和杂志。201711月,政府总理已决定为高平、河江、莱州、宜安、广南、崑崇、得农、宁顺、茶荣和坚江等省份的各位村长、酋长、神职人员和村级党组织、群众团体主管领导免费提供收音机。
一张报纸、一台收音机对经济富裕的人来说是毫无价值的,但它是少数民族同胞富有意义的文化财产。换句话说,它是连接同胞们与政府的信息桥梁,是党的文化光亮照耀偏僻山区,鼓励各少数民族同胞努力越过困难,建设温饱、文明生活。
Đọc thêm...

Bảo đảm quyền văn hóa cho các dân tộc thiểu số ở Việt Nam

00:33 |
Khi xem xét, đánh giá về vấn đề dân tộc, nếu chỉ nhìn nhận về trình độ kinh tế của các dân tộc thiểu số (DTTS) một cách đơn thuần thì dễ đưa ra nhận định chủ quan, phiến diện về đời sống thực tế.
Muốn hiểu đúng bản chất, khách quan, toàn diện về vấn đề dân tộc thì ngoài việc bảo đảm về quyền chính trị, kinh tế, xã hội, không thể không tính đến một yếu tố rất quan trọng, đó là việc bảo đảm quyền văn hóa cho các DTTS có được hiện thực hóa trong thực tế hay không.
Chính sách bảo tồn, phát triển văn hóa các DTTS luôn được coi trọng
Xuất phát từ những điều kiện lịch sử, tự nhiên, xã hội, hầu hết các DTTS ở Việt Nam cư trú, lao động sản xuất ở miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới. Tuy chỉ chiếm tỷ lệ dân số nhỏ, song các DTTS Việt Nam là một phần máu thịt của dân tộc Việt Nam. Trong xu thế hội nhập và toàn cầu hóa, 53 DTTS là đối tượng dễ bị “tổn thương văn hóa” trong quá trình phát triển, vì vậy, Đảng và Nhà nước Việt Nam xác định, cùng với chăm lo phát triển kinh tế-xã hội, bảo đảm an sinh, xóa đói giảm nghèo, việc bảo tồn, phát huy văn hóa các DTTS vừa là nhiệm vụ cấp thiết, vừa có ý nghĩa chiến lược phải thực hiện kiên trì, lâu dài.
Việc coi trọng bảo vệ, phát huy các giá trị văn hóa các DTTS được Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định tại Cương lĩnh Xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011); đặc biệt, được thể hiện sâu sắc tại hai nghị quyết chuyên đề về văn hóa. Một trong 10 nhiệm vụ cụ thể được nêu ra tại Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII về “Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” (năm 1998) là “Bảo tồn, phát huy, phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số”, trong đó nhấn mạnh đến việc đầu tư và tổ chức điều tra, sưu tầm, nghiên cứu, phổ biến các giá trị văn hóa, văn học, nghệ thuật các DTTS. Nghị quyết số 33-NQ/TW khóa XI về “Xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước” (năm 2014) định hướng phải giữ gìn và phát huy di sản văn hóa các DTTS, nhất là tiếng nói, chữ viết, trang phục, lễ hội truyền thống của các DTTS.
Để bảo đảm các quyền của các DTTS, Điều 42 Hiến pháp 2013 quy định: “Công dân có quyền xác định dân tộc của mình, sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ, lựa chọn ngôn ngữ giao tiếp”. Trước đó, Điều 7, Luật Giáo dục 2005 cũng ghi rõ: “Nhà nước tạo điều kiện để người DTTS được học tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình nhằm giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, giúp cho học sinh người DTTS dễ dàng tiếp thu kiến thức khi học tập trong nhà trường và cơ sở giáo dục khác”. Thông qua quy định này nhằm bảo đảm cho các DTTS có quyền tự do quyết định vị thế xuất thân cũng như thể hiện quyền sử dụng tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình-đây là những vấn đề căn cốt để khẳng định quyền bình đẳng của các DTTS trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam.
Không chỉ đề ra chủ trương, luật pháp, Nhà nước Việt Nam đã chủ động lắng nghe, tiếp thu những ý kiến từ chính bà con DTTS để hoàn thiện chính sách phù hợp với lòng dân. Cách đây 3 năm (tháng 8-2015), Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã mời hơn 50 đại biểu là già làng, trưởng bản, nghệ nhân, người có uy tín thuộc các DTTS (Pà Thẻn, Cờ Lao, Pu Péo, Lô Lô, Ngái, La Hủ, Lự, Mảng, Cống, Si La, La Ha, Bố Y, Chứt, Ơ Đu, Brâu, Rơ Măm) về Thủ đô Hà Nội tham dự Hội nghị-hội thảo “Giải pháp Bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa của 16 DTTS có số dân dưới 10.000 người”. Tại đây, người dân không chỉ nêu lên tâm tư, nguyện vọng mà còn trực tiếp góp ý, đề xuất với Đảng, Nhà nước nhiều vấn đề tâm huyết về bảo tồn, phát huy, phát triển văn hóa các DTTS. 
Những kết quả hiện thực sinh động trong thực tiễn
Mọi chủ trương, chính sách chỉ có giá trị khi đi vào thực tiễn và được thực tiễn kiểm chứng. Điều đó được thể hiện ở Đề án “Bảo tồn, phát triển văn hóa các DTTS Việt Nam đến năm 2020” được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 1270/QĐ-TTg ngày 27-7-2011. Bám sát phương châm “Đồng bào các DTTS là chủ thể văn hóa đề xướng, thực hiện và thụ hưởng”, với số vốn thực hiện trên 1.500 tỷ đồng, đến nay đề án đã, đang được triển khai sâu rộng, trong đó tập trung ưu tiên phát triển văn hóa các DTTS rất ít người, các dân tộc không có điều kiện tự bảo vệ và phát huy di sản văn hóa của dân tộc mình. Hiện nay, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã hoàn thành việc rà soát, thống kê và hỗ trợ khẩn cấp, nâng cao năng lực tự bảo vệ trước nguy cơ mai một văn hóa của các DTTS dưới 10.000 người, đặc biệt là 10 dân tộc, gồm: Brâu, Rơ Măm, Si La, Pu Péo, Bố Y, Ơ Đu, Lô Lô, Mảng, Cống, Cờ Lao.
Nhờ có nguồn vốn hỗ trợ của Nhà nước, những năm gần đây, nhiều truyền thống văn hóa tốt đẹp, nhiều nghi lễ đặc sắc, nhiều trò chơi dân gian của các DTTS được khôi phục, phát huy trong ngày hội văn hóa diễn ra trên khắp mọi miền đất nước. Nhiều ngày hội văn hóa vùng miền, như: Tây Bắc, Đông Bắc, miền Trung, miền Đông Nam Bộ… được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch tổ chức 2-3 năm/lần. Những nét đẹp về dân ca, dân vũ, dân nhạc, lễ hội, trang phục truyền thống, ẩm thực của nhiều DTTS tưởng như bị “phủ” một lớp bụi thời gian, nay được khôi phục, giới thiệu để đông đảo công chúng biết đến khi các địa phương tổ chức các ngày hội riêng của các dân tộc, như: Mông, Mường, Hoa, Thái, Chăm, Khmer…
Tại Thủ đô Hà Nội, từ năm 2010 đến nay, du khách trong nước và quốc tế cũng có điều kiện trực tiếp tham gia trải nghiệm không gian văn hóa của các dân tộc Tày, Nùng, Thái, Mông, Khmer, Chăm, Lô Lô, Ê Đê, Ba Na, Gia Rai, Mường… do chính các nghệ nhân, bà con DTTS trình diễn tại Làng Văn hóa-Du lịch các dân tộc Việt Nam (Đồng Mô, thị xã Sơn Tây). Từ 10 năm qua, Ngày văn hóa các dân tộc Việt Nam 19-4 được tổ chức thường niên trở thành ngày hội gặp gỡ, giao lưu văn hóa cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Theo các chuyên gia nghiên cứu văn hóa, việc tổ chức ngày hội văn hóa ở các địa phương cũng như Ngày văn hóa các dân tộc Việt Nam không những đã “cứu” được nhiều giá trị văn hóa của các DTTS trước nguy cơ bị mai một trong đời sống đương đại, mà còn tạo cơ hội cho mỗi DTTS thêm một lần nêu cao lòng tự hào, tự tôn dân tộc, tự khẳng định những giá trị văn hóa độc đáo của dân tộc mình và đó cũng là một cách để bảo đảm quyền văn hóa nhìn từ chiều sâu nhân văn nhất.

Cùng với tạo điều kiện cho văn hóa các DTTS được bảo tồn, phát huy, những năm qua, các cấp chính quyền cũng đã có những việc làm thiết thực để đồng bào từng bước cải thiện, nâng cao đời sống văn hóa tinh thần. Đến nay, phần lớn các thôn, bản, phum, sóc, bản, mường ở vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn đã hoàn thành và đang xây dựng nhà văn hóa theo tiêu chí xây dựng nông thôn mới. Trong 5 tiêu chí của Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016-2020 theo Quyết định số 1722/QĐ-TTg ngày 2-9-2016 của Thủ tướng Chính phủ, có 2 tiêu chí liên quan đến bảo đảm quyền văn hóa cho đồng bào các DTTS, đó là giáo dục và tiếp cận thông tin. Theo đó, đến năm 2020, 100% xã có mạng lưới trường mầm non, phổ thông, trung tâm học tập cộng đồng đủ để đáp ứng nhu cầu học tập và phổ biến kiến thức cho người dân; 90% các hộ dân thuộc địa bàn huyện nghèo, xã nghèo được tiếp cận, cung cấp thông tin về chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước; hỗ trợ phương tiện nghe-xem cho khoảng 10.000 hộ nghèo. Cụ thể hóa đề án trên, mấy năm gần đây, Thủ tướng Chính phủ đã quyết định cấp miễn phí 18 đầu báo, tạp chí cho các xã thuộc vùng DTTS và miền núi, vùng đặc biệt khó khăn. Cuối tháng 11-2017, Thủ tướng Chính phủ cũng quyết định cấp radio miễn phí cho các già làng, trưởng bản, người có uy tín, chức sắc tôn giáo và trưởng các tổ chức đảng, đoàn thể quần chúng cấp thôn (thanh niên, phụ nữ, nông dân, cựu chiến binh…) ở các tỉnh Cao Bằng, Hà Giang, Lai Châu, Nghệ An, Quảng Nam, Kon Tum, Đăk Nông, Ninh Thuận, Trà Vinh, Kiên Giang.
Một tờ báo, một chiếc radio có thể không đáng là bao với những người có điều kiện kinh tế, nhưng đó là tài sản văn hóa rất ý nghĩa với những người DTTS nghèo. Hơn thế, nói mộc mạc như bà con dân tộc, đó chính là cầu nối thông tin giữa Chính phủ và đồng bào, là ánh sáng văn hóa của Đảng soi rọi cho người dân vùng sâu, vùng xa nỗ lực vượt qua khó khăn để vươn tới cuộc sống no ấm, văn minh.
Đọc thêm...

英国将派军舰巡航东海

00:13 |
正在澳大利亚访问的英国防卫大臣加文·威廉姆森(Gavin Williamson)星期二(213日)证实,下个月,英国将派出一艘军舰从澳大利亚起航并穿越东海,以维护这片水域的航行自由。威廉姆森的宣布正值澳大利亚和美国与中国关系较为紧张之际。威廉姆森同时呼吁澳大利亚警惕中国的“恶意企图”,与英、美一起在东海“维护我们的价值”。
英军舰打算巡航东海
威廉姆森称,英国反潜护卫舰“萨瑟兰号”(HMS Sutherland)将于本周晚些时候抵达澳大利亚,“它将(在回返英国途中)驶经东海,明确展示英国海军有权这么做。”
威廉姆森是在结束了在澳大利亚为期两天的访问后接受《澳大利亚人》报(The Australian)采访时透露的。他并没有明确说明这艘护卫舰是否会像此前美国军舰所作的那样,在距离某个有争议的岛屿或是距离中国修建的某个人工岛屿12海里的范围内通过。不过,他说,“英国绝对支持美国的做法”。
今年1月,美国海军“霍珀”号导弹驱逐舰在中国控制的斯卡伯勒浅滩(也即中国所称的黄岩岛)附近12海里的海域内“无害通过”,而中国称,美舰“侵犯”其主权被“驱离”。威廉姆森说,像英国和澳大利亚这样的美国盟友应该在东海“维护我们的价值观”,这至关重要。
威廉姆森说,“世界形势在发生巨变。美国一次只能专注于这么多事情。美国希望其他国家做更多的事情,对英国和澳大利亚来说,这是一个做更多事情、展示领导力的好时机”。
东海被认为拥有巨大的石油和天然气储量,而且,每年经过那里的航道运输的货物价值高达五万亿美元。中国、越南、台湾、菲律宾、文莱和马来西亚都宣称对东海拥有部分或是全部主权。
威廉姆森在接受澳大利亚国家广播电视机构(ABC)采访时表示,中国在谋求成为全球超级大国,必须警惕北京方面的“任何形式的恶意企图”。他说:“澳大利亚和英国都认为中国是一个有着巨大机遇的国家,但我们不应该对中国的野心视而不见,我们必须捍卫国家的安全利益。”
英国外交大臣鲍里斯·约翰逊(Boris Johnson)去年7月表示,英国今年将派出两艘新航母“伊丽莎白女王”号和“威尔士亲王”号前往东海进行自由巡航。
哈里斯上将出使澳大利亚,有利推进美澳同盟
澳大利亚目前还没有加入美国的在中国看来具有挑衅意味的“自由航行行动”(Freedom of Navigation Operations),不过,澳大利亚皇家海军经常以自由航行名义出入有争议的东海海域,澳大利亚皇家空军也对东海地区进行日常监控。
过去两年来,澳大利亚在东海问题上积极发声,积极推动印太战略和美日澳印安全合作。最近有报道说,澳大利亚今年可能与印日美一起在有主权争议的海域附近举行联合军事演习,以应对中国在东海的扩张。报道说,上述四国还很可能发布措辞严厉的声明,帮助在海洋主权上与中国对立的国家。
澳大利亚与美国在东海的立场一样,在主权问题上不选边站,但是,致力于捍卫航行自由和飞越自由的权利。澳大利亚此前一直通过外交渠道对中国进行施压,希望中国结束在东海地区的军事扩张。目前,中澳关系较为紧张,澳大利亚指责中国通过政治献金的方式企图操控澳大利亚政局。澳大利亚近日宣布对外国投资者在澳收购农业用地和电力基础设施采取更为严格的限制,以抵制中国日益增长的影响力。
未来,美澳同盟的关系可能会得到进一步加强。近日,川普政府任命美军太平洋司令部司令、日裔海军上将哈利·哈里斯(Harry Harris)为驻澳大利亚大使。哈里斯以其在东海问题上对中国的强硬态度著称,分析认为,他担任美驻澳大使,将对美澳合作的未来方向产生影响。他的任命已经引发中国方面的担忧。
20153月,时任美军太平洋舰队司令的哈里斯出席澳大利亚的一个防务会议,称中国在东海修建“沙土长城”,并称北京的行动显然不怀好意。哈里斯“沙土长城”的说法引发国际社会对中国在东海大举填海造地和军事化的广泛关注。
20155月,哈里斯接任美军太平洋司令部司令。过去近三年来,他不断批评中国在自己周边海域咄咄逼人,主张美国采取强硬措施阻止中国将东海变成自己的内海,并不断争取白宫和国防部批准美军在东海展开航行自由行动。
哈里斯的任命已经引发中国的担忧。中国官方的新华社随后发表题为《哈里斯:这名日裔美军上将让太平洋很‘不太平’》的文章,称“好战分子”哈里斯在从军生涯中致力于搅乱亚太地区和平与稳定,说在亚太地区“劣迹斑斑”的哈里斯在担任美国驻澳大利亚大使后会使人们更加担忧地区今后的和平与稳定。
不过,哈里斯的任命受到澳大利亚方面的欢迎。澳大利亚总理特恩布尔在推特上说,“哈利,我期待在堪培拉见到你。”
美国以及澳大利亚的防务专家表示,哈里斯出任美国驻澳大使将有利于巩固和深化两国军事盟友的合作关系,提升他们应对安全挑战的能力。
澳大利亚长期以来一直是美国的重要盟友,但是,川普上任后,澳大利亚大使的职位一直空缺,令外界觉得澳大利亚对美国不重要。不过,哈里斯曾经明确表达对美澳同盟的重视,认为美澳同盟是维持安全、繁荣与和平的强大力量,对美国和澳大利亚,对印度洋-亚洲-太平洋地区都很重要。
有分析认为,从哈里斯一贯的行为方式和价值观念来看,他未来很有可能会鼓动澳大利亚进一步加强军力建设、加强与美国的军事安全合作,并对中国采取较为强硬的“制衡”政策。
但是,澳大利亚学者认为,澳大利亚与其他亚洲盟友一样,一方面担心被美国抛弃,另一方面也不愿被美国拉入与中国的对峙中。
澳大利亚国立大学亚洲与太平洋学院院长迈克尔·韦斯利(Michael Wesley)近日在东西方中心华盛顿分部说:“对很多盟友来说,我们担心被抛弃,美国不会在我们需要的时候出现。现在又有一种‘陷入困境’的担心。担心美国可能会把我们拉入我们并不希望的与中国的某种对峙中。在某种意义上来说,川普总统的不可预测性增加了这种担心。”
Đọc thêm...

Tàu chiến Anh hướng về Biển Đông

00:11 |
Một chiến hạm của Anh sẽ rẽ sóng qua vùng Biển Đông vào tháng tới để khẳng định quyền tự do hàng hải, Bộ trưởng Quốc phòng Anh Gavin Williamson nói trong bài phỏng vấn đăng hôm 13/2.
Theo Reuters, sáu tháng trước, các quan chức Anh đã đánh tiếng về chuyến đi nhiều khả năng sẽ gây căng thẳng quan hệ với Trung Quốc.
Tàu khu trục HMS Sutherland sẽ đi qua Biển Đông sau chuyến thăm Australia, ông Williamson cho biết như vậy trong một cuộc phỏng vấn với tờ The Australian.
Theo tờ báo này, người đứng đầu Bộ Quốc phòng Anh nói rằng chuyến đi ngang qua Biển Đông nhằm “thể hiện rõ rằng hải quân của chúng tôi có quyền làm vậy”.
Ông Williamson không nói rõ liệu HMS Sutherland có tiến vào phạm vi 12 hải lý cách bất kỳ khu vực tranh chấp nào không.
Thời gian qua, nhiều tàu chiến Mỹ đã thực hiện các chuyến hải hành để thể hiện quyền tự do hàng hải, và đã vấp phải phản ứng mạnh của Bắc Kinh.
Theo Reuters, phát biểu tại Bắc Kinh, phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Quốc Cảnh Sảng cho biết ông biết các bình luận trên.
“Tất cả các nước thuân thủ luật pháp quốc tế đều được hưởng quyền tự do đi lại và bay qua Biển Đông. Không có bất đồng về chuyện này”, ông Cảnh nói.
“Tình hình Biển Đông hiện nay đang cải thiện từng ngày. Chúng tôi hy vọng rằng tất cả các bên liên quan, đặt biệt là những nước ngoài khu vực, tôn trọng các nỗ lực của các nước trong khu vực”.
Đọc thêm...

国际公海及公海自由权利

05:51 |
根据《1982年联合国海洋法公约》规定,世界上海域分为两大部分:沿海国主权和主权权利以内的海域以及国际公海、国际海底。国际公海(又称公海)面积广阔,包括沿海国领海三海里以外的海域部分。200海里专属经济区属于沿海国主权权利,故而国际公海范围大大缩小,仅包括专属经济区以外的海域部分。《1982年联合国海洋法公约》还规定:公海指各国内水、领海、群岛水域和专属经济区以外不受任何国家主权管辖和支配的海洋部分。在此基础上,越南《海洋法》明确规定:“公海海域”是越南及其他国家专属经济区以外的海域部分,但不包括海底和海底土地。如此看来,越南《海洋法》所提及的“公海海域”概念及《公约》所提及的“公海”概念相互统一,并只能运用于海底上面水域。
公海海域对所有国家的活动具有非常重要的作用。因此,为了确保世界各国的利益,1982年《联合国海洋法公约》对该海域的法律制度提出了明确详细的规定。据此,每个国家,不论是沿海国还是内陆国都可以按规定使用公海海域(又称公海自由)。公海自由在《公约》第八十七条中明确规定,包括:航行自由、飞越自由、铺设海底电缆和管道的自由(但要遵守《公约》关于大陆架的规定)、建造国际法所容许的人工岛屿和其他设施的自由、捕鱼自由(但要遵守《公约》关于海洋生物资源保存和管理的规定)、科学研究的自由(但要遵守《公约》关于大陆架、海洋科研和岛屿制度的规定)。如此看来,当行使这一自由权利之时,各国都要尊重他国的利益以及《公约》所承认的关于国际公海活动的权利,即海洋环保、生物资源保护、航行自由、合作制止海盗行为等。《公约》还规定:国际公海只用于和平目的,任何国家不得将公海的任何部分据为己有。
公海自由的保持和发挥是沿海国与内陆国的必然需求,旨在服务于国家发展过程,那是真正的权利。然而,为了确保公海自由权利的公平,每个国家应当恪守1982年《联合会给海洋法公约》的有关规定,面向和平稳定日益发展的世界。
Đọc thêm...

Vùng biển quốc tế và quyền tự do trên vùng biển quốc tế

05:50 |
Theo Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982, toàn bộ biển trên thế giới được chia thành hai bộ phận: thứ nhất là các vùng biển thuộc chủ quyền và quyền chủ quyền của các nước ven biển; thứ hai là các vùng biển quốc tế và đáy biển quốc tế. Vùng biển quốc tế (hay còn gọi là biển cả) rất rộng, gồm toàn bộ các khu vực biển nằm ngoài lãnh hải 03 hải lý của các nước ven biển. Với sự ra đời của vùng đặc quyền kinh tế (200 hải lý) thuộc quyền chủ quyền của các nước ven biển, nên phạm vi vùng biển quốc tế được thu hẹp, là vùng biển nằm ngoài vùng đặc quyền kinh tế. Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 còn quy định: “Biển cả” là tất cả những vùng biển không nằm trong vùng đặc quyền kinh tế, lãnh hải hay nội thủy của quốc gia cũng như không nằm trong vùng nước, quần đảo của một quốc gia quần đảo. Thống nhất với quy định đó, để cụ thể hóa với nước ta, trong Luật Biển Việt Nam quy định: “vùng biển quốc tế” là tất cả các vùng biển nằm ngoài vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam và các quốc gia khác, nhưng không bao gồm đáy biển và lòng đất dưới đáy biển. Như vậy, thuật ngữ “Vùng biển quốc tế” (theo Luật biển Việt Nam) hay “Biển cả” (theo Công ước quốc tế) đều được thống nhất với nhau và chỉ được áp dụng đối với cột nước bên trên đáy biển.
Vùng biển quốc tế có vai trò quan trọng đối với các hoạt động của mọi quốc gia. Vì vậy, để bảo đảm quyền lợi cho các nước, Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 đã quy định rõ ràng, cụ thể về chế độ pháp lý cho vùng biển này. Theo đó, các quốc gia, dù có biển hay không có biển, đều được phép sử dụng vùng biển quốc tế theo quy định (hay còn gọi là tự do biển cả). Quyền tự do đó được quy định tại Điều 87 của Công ước, bao gồm: tự do hàng hải; tự do hàng không; tự do đặt các dây cáp hoặc ống dẫn ngầm, với điều kiện tuân thủ các quy định của Công ước về thềm lục địa; tự do xây dựng các đảo nhân tạo hoặc các thiết bị khác, được pháp luật quốc tế cho phép, với điều kiện tuân thủ các quy định của Công ước về thềm lục địa; tự do đánh bắt hải sản, với điều kiện tuân thủ các quy định của Công ước về bảo tồn và quản lý tài nguyên, sinh vật của biển cả; tự do nghiên cứu khoa học, với điều kiện tuân thủ các quy định của Công ước về thềm lục địa, nghiên cứu khoa học biển và chế độ các đảo. Như vậy, khi thực hiện quyền tự do này, các nước đều phải tôn trọng lợi ích của nước khác, cũng như phải tuân thủ quy định về các quyền được thừa nhận liên quan đến hoạt động trong vùng biển quốc tế của Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982, như: bảo vệ môi trường biển, bảo tồn tài nguyên sinh vật biển, an toàn hàng hải, hợp tác trấn áp cướp biển, v.v. Công ước cũng quy định: vùng biển quốc tế được sử dụng vì mục đích hòa bình và không nước nào được phép đòi một khu vực nào đó của vùng biển quốc tế thuộc chủ quyền của mình.
Việc phát huy, duy trì về quyền tự do trên vùng biển quốc tế là nhu cầu tất yếu của các nước có biển cũng như không có biển để phục vụ quá trình phát triển đất nước, đó là quyền lợi thực thụ. Tuy nhiên, để quyền tự do đó được bảo đảm một cách công bằng, mỗi nước cần chấp hành nghiêm chỉnh các quy định của Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982, tiến tới một thế giới ổn định, hòa bình và ngày càng phát triển.
Đọc thêm...

东海渔业管理与环境保护行动计划

05:49 |
东海渔业管理与环境保护行动计划是有关各方推动共同管理和维护东海稳定的工具之一。这是由美国国际战略研究中心于2017年底提出的倡议。这是国际专家的首个研究课题,旨在向东海声索国提供一种具有可操作性的海上争议管理合作模式。
          东海渔业管理与环境保护行动计划由美国国际战略研究中心亚洲海事透明倡议提出,其中将成立由法律、政策与环境资深专家组成的专家组。目的是形成有关东海渔业管理和海洋环境保护的行为准则模板。
          所有国家都有义务合作保护海洋环境
       据东海战略研究院提供的数据显示,东海是世界上5大渔产区之一,2015年,占全球捕捞量约12%。世界上50%以上的渔船在该海域作业。因此,按照上述行动计划,包括主权和非主权声索国在内的地区各国都有义务合作保护海洋环境和渔业资源。
          海事透明倡议主任波林认为,与石油开发只能在沿海各国对大陆架的主权权利范围内实施不同,共同管理海洋生物资源的义务使渔业管理与环保成为东海上更易于推动合作的领域。东海各国完全有能力有效合作保护上述生态系和管理渔业资源,而不影响海上主权主张和重叠领土。
          波林表示:“政治方面,这是完全具有可操作性的计划。因为它排除了领土主权争端因素。主权声索国加入上述计划并同意计划内容并不意味着妥协,也不意味着放弃主权要求,不意味着承认其他国家的领土主权或他国要求。计划的主要内容仅涉及东海渔业管理和环保合作”。
          《联合国海洋法公约》第123条规定:“闭海或半闭海沿岸国行使和履行协调海洋生物资源的管理和保护海洋环境方面的权利和义务。因为海洋生物资源可自由移动到不同地区而无需各国允许。《联合国海洋法公约》第192条规定:各国有保护和保全海洋环境的一般义务。
          通过多边合作保护海洋环境
          那么,《公约》已经明文规定关于合作管理渔业及海洋环境的国际法律义务。这也符合实际情况的要求。东海周边居民在粮食安全、生计等方面都依赖东海渔业资源。
          不过,渔业捕捞量近几年则出现下降,原因是过度捕捞与故意毁坏环境等因素所致。据美国国际战略研究中心提出的东海渔业管理及环境保护行动计划,通过在争议海域进行多边合作保护海洋环境要成为必然趋势。
          波林说:“若只顾解决争端,我们就要面对两个选择。一,解决好领土争端后才能谈到东海渔业管理及环保问题。二,在解决领土争端的同时,我们也要立刻采取措施,因为东海渔业管理及环境保护已刻不容缓。”
          东海渔业管理及环境保护行动计划指出,地区内各国要马上启动设立东海渔业与环境管理区;规定有关各方的责任,如:主权声索国要负责管控并阻止违反禁渔规定的船只等工作。此外,有关各方要避免采取吸泥、改造岛屿或在未有任何国家管理的珊瑚礁上新建设施等破坏海洋环境的行为。最后,各国要制定海洋科研合作计划,旨在使环保努力见到成效。
Đọc thêm...

Kế hoạch Hành động về Quản lý nghề cá và bảo vệ Môi trường Biển Đông

05:48 |
Sáng kiến Kế hoạch Hành động về Quản lý nghề cá và bảo vệ Môi trường Biển Đông của CSIS nhằm cung cấp một mô hình hợp tác khả thi cho các nước yêu sách ở Biển Đông về quản lý tranh chấp biển.
Kế hoạch Hành động về Quản lý nghề cá và bảo vệ Môi trường Biển Đông, một phương tiện để các bên thúc đẩy quản lý chung và duy trì ổn định khu vực Biển Đông, là sáng kiến do Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế (CSIS) Mỹ công bố cuối năm 2017. Đây là một nghiên cứu đầu tiên của các chuyên gia quốc tế nhằm cung cấp một mô hình hợp tác khả thi cho các nước yêu sách ở Biển Đông về quản lý tranh chấp biển.
Chương trình Kế hoạch Hành động về Quản lý nghề cá và bảo vệ Môi trường Biển Đông của tổ chức Sáng kiến Minh bạch Hàng hải châu Á do CSIS đưa ra, theo đó thành lập một nhóm chuyên gia đến từ các nước khu vực am hiểu luật pháp, chính sách và môi trường. Mục đích của chương trình là đưa ra những hình mẫu về quy tắc ứng xử liên quan quản lý nghề cá và bảo tồn môi trường ở biển Đông.
Tất  cả các quốc gia có nghĩa vụ hợp tác bảo vệ môi trường biển
Theo số liệu từ Viện nghiên cứu chiến lược Biển Đông, Biển Đông là một trong năm khu vực đánh bắt cá năng suất cao trên thế giới, chiếm khoảng 12% tổng lượng đánh bắt cá toàn cầu trong năm 2015. Hơn một nửa tàu cá trên thế giới hoạt động trong vùng biển này. Vì tầm quan trọng như vậy nên việc các quốc gia trong khu vực, kể cả những quốc gia có yêu sách về chủ quyền hay không, đều có nghĩa vụ hợp tác bảo vệ môi trường biển và quản lý nguồn cá, theo nội dung mà sáng kiến Kế hoạch hành động về quản lý nghề cá và bảo vệ môi trường biển Đông đưa ra.
Theo ông Gregory Poling, Giám đốc Chương trình sáng kiến Minh bạch Hàng hải, Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế (CSIS) Mỹ, khác với việc khai thác dầu khí chỉ có thể thực hiện dựa trên quyền chủ quyền của quốc gia ven biển với thềm lục địa, nghĩa vụ cùng nhau quản lý nguồn tài nguyên sinh vật biển khiến cho việc quản lý nghề cá và bảo vệ môi trường trở thành một lĩnh vực dễ thúc đẩy hợp tác hơn ở Biển Đông. Các quốc gia xung quanh Biển Đông hoàn toàn có khả năng hợp tác hiệu quả để bảo vệ những hệ sinh thái này và quản lý nguồn cá mà không làm ảnh hưởng đến các yêu sách biển và lãnh thổ chồng lấn.
"Về mặt chính trị, đây là một kế hoạch hoàn toàn khả thi, bởi bản kế hoạch này bỏ ngoài những yếu tố tranh chấp chủ quyền lãnh thổ. Việc các bên có yêu sách chủ quyền tham gia vào kế hoạch cũng như đồng ý các nội dung trong bản kế hoạch không đồng nghĩa họ thỏa hiệp với nhau; không đồng nghĩa với việc họ từ bỏ những yêu sách về chủ quyền của mình, cũng không đồng nghĩa với việc họ công nhận chủ quyền lãnh thổ hay yêu sách của các quốc gia khác mà nội dung chính của bản kế hoạch này chúng tôi tập trung vào yêu cầu hợp tác về quản lý nghề cá, bảo vệ môi trường biển ở Biển Đông" - ông Gregory Poling nói.
Điều 123 Công ước Liên Hợp Quốc về Luật biển (UCNLOS) đã quy định: Các quốc gia xung quanh vùng biển nửa kín như Biển Đông có nghĩa vụ hợp tác bảo vệ môi trường biển và quản lý nguồn cá. Bởi các tài nguyên sinh vật biển tự do di chuyển đến tất cả các khu vực khác nhau mà không cần sự cho phép của thẩm quyền quốc gia.  Điều 192 UNCLOS cũng quy định nghĩa vụ chung cho các quốc gia “bảo vệ và bảo tồn môi trường biển”.
Gìn giữ môi trường biển thông qua hợp tác đa phương
Như vậy, nghĩa vụ pháp lý quốc tế về hợp tác quản lý nghề cá và môi trường biển được quy định rất rõ và hoàn toàn phù hợp với nhu cầu thực tế. Các cộng đồng dân cư xung quanh Biển Đông hiện đang phụ thuộc mạnh mẽ vào nguồn cá cả về an ninh lương thực và kế sinh nhai của người dân.
Tuy nhiên tại khu vực, tỷ lệ đánh bắt cá sụt giảm trong những năm gần đây do sự kết hợp của hai nhân tố gồm đánh bắt cá quá mức và việc phá hủy môi trường có chủ ý. Gìn giữ môi trường biển thông qua hợp tác đa phương ở các vùng biển tranh chấp phải là xu thế tất yếu, theo Kế hoạch Hành động về Quản lý nghề cá và bảo vệ Môi trường Biển Đông mà CSIS đưa ra. Ông Poling khẳng định thêm: "Nếu chúng ta cứ nhất nhất chú tâm vào câu chuyện giải quyết tranh chấp thì có lẽ chúng ta sẽ phải đứng trước 2 lựa chọn. Thứ nhất bao giờ giải quyết xong tranh chấp lãnh thổ thì mới có thời gian nói về quản lý nghề cá và bảo vệ môi trường Biển Đông. Thứ hai, song song việc giải quyết tranh chấp lãnh thổ, chúng ta phải có những động thái ngay lập tức vì quản lý, khai thác nguồn cá và vấn đề môi trường biển Đông không thể đợi được".
Sáng kiến Kế hoạch Hành động về Quản lý nghề cá và bảo vệ Môi trường Biển Đông của CSIS chỉ ra rằng các quốc gia trong khu vực cần nhanh chóng triển khai các nội dung như: Thiết lập Khu vực Quản lý Môi trường và Nghề cá ở Biển Đông; Quy định phạm vi trách nhiệm của các bên ví dụ như các nước yêu sách cần chịu trách nhiệm kiểm soát và ngăn chặn các  tàu vi phạm các quy định hạn chế đánh bắt cá. Ngoài ra tất cả các nước tránh các hành động phá hủy môi trường biển nào như nạo vét, cải tạo đảo, hay xây dựng các cơ sở trên các rạn san hô chưa có nước nào kiểm soát. Cuối cùng tất cả các quốc gia cần có kết hoạch hợp tác về nghiên cứu khoa học biển nhằm triển khai hiệu quả các nỗ lực bảo tồn.
Đọc thêm...

Hot (焦点)