Thúc đẩy quyền của đồng bào dân tộc thiểu số ở Việt Nam
08:28 |
Ủy
ban Thường vụ Quốc hội vừa đề xuất chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc
gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai
đoạn 2021 – 2030 tại phiên họp ngày 15/5/2020. Đây là bước đi cụ thể mới nhất của
Quốc hội Việt Nam trong việc thúc đẩy thực hiện quyền của đồng bào các dân tộc
thiểu số ở Việt Nam.
Việt
Nam là quốc gia thống nhất với 54 dân tộc cùng chung sống. Đồng bào các dân tộc
thiểu số thuộc 53 dân tộc nhưng chỉ chiếm 14,3% trong tổng số hơn 97 triệu người,
lại cư trú ở nhiều khu vực khó khăn, miền núi và hải đảo. Chính vì vậy, chính
sách dân tộc của Đảng và nhà nước Việt Nam là thực hiện triệt để quyền bình đẳng
về mọi mặt giữa các dân tộc, tạo những điều kiện cần thiết để xoá bỏ tận gốc sự
chênh lệnh về trình độ kinh tế, văn hoá giữa các dân tộc ít người và dân tộc
đông người, làm cho tất cả các dân tộc đều có cuộc sống ấm no, văn minh và hạnh
phúc, đoàn kết giúp nhau tiến bộ, cùng làm chủ và xây dựng Tổ quốc Việt Nam.
Đây
là nguyên tắc cơ bản để thực hiện các quyền của dân tộc thiểu số trong một quốc
gia nhiều dân tộc, khẳng định tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa hướng tới
xây dựng một xã hội dân chủ, hạnh phúc và văn minh mà ở đó, các giá trị quyền
con người được đề cao.
Hiến
pháp năm 1992 của Việt Nam khẳng định: “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người về chính trị,
dân sự, kinh tế, văn hóa và xã hội được tôn trọng, thể hiện ở các quyền công
dân và được quy định trong Hiến pháp và luật”. Các quyền con người liên quan đến
từng nhóm đối tượng xã hội, thành phần xã hội cũng được đề cập, đặc biệt là quyền
được phát triển của các dân tộc thiểu số. Cùng với đó, Hiến pháp năm 2013 cũng
nhấn mạnh: Các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát
triển. Theo Hiến pháp 2013, Nhà nước thực hiện chính sách phát triển toàn diện
và tạo điều kiện để các dân tộc thiểu số phát huy nội lực, cùng phát triển với
đất nước. Nhà nước ưu tiêu đầu tư phát triển sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc sức khỏe
và phát triển giáo dục cho đồng bào dân tộc thiểu số, đồng bào ở miền núi, hải
đảo và vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.
Nhìn
một cách tổng thể, các quy định về quyền của các dân tộc thiểu số trong hệ thống
luật pháp ở Việt Nam thể hiện rõ quan điểm, đường lối chính sách của Đảng, Nhà
nước Việt Nam đối với các dân tộc thiểu số. Xét dưới góc độ quyền con người và
quyền của các dân tộc thiểu số, hệ thống pháp luật của Việt Nam có những bước tiến đáng kể trong quá trình
hòa nhập vào sự phát triển các giá trị tiến bộ của nhân loại.
Bên
cạnh những quy định bảo đảm quyền con người nói chung, pháp luật Việt Nam còn
có những điều luật quy định đặc thù và các chính sách cụ thể như chính sách về
đất đai, giáo dục, y tế, vay vốn tạo việc làm, chính sách bảo tồn và phát triển
kinh tế - xã hội, nhằm bảo đảm quyền và thúc đẩy thực thi quyền cho các đối tượng
đồng bào dân tộc thiểu số, phấn đấu cho mục tiêu chung là thực hiện quyền bình
đẳng giữa các dân tộc.
Các giải pháp bảo đảm các quyền của
đồng bào dân tộc thiểu số hiện nay
Để
tăng cường thúc đẩy thực hiện các quyền của đồng bào dân tộc thiểu số, Quốc hội
Việt Nam đặt mục tiêu tiếp tục xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, bảo đảm
cơ sở pháp lý ngày càng đầy đủ hơn cho việc bảo vệ và thúc đẩy, phát triển các
quyền con người, quyền công dân theo tinh thần Hiến pháp năm 2013 và các công ước
quốc tế mà Việt Nam tham gia.
Quốc
hội Việt Nam đặc biệt tập trung xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật bảo đảm
các quyền con người về dân sự, chính trị; các quyền về kinh tế, xã hội và văn
hóa nói chung và quyền của nhóm đối tượng dân tộc thiểu số nói riêng. Các quy định
của pháp luật và quyền lợi của người dân tộc thiểu số được bảo đảm ở các lĩnh vực
dân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và được thực hiện trên cơ sở nguyên
tắc bình đẳng giữa các dân tộc, bình đẳng trước pháp luật của công dân.
Các
giải pháp thực thi một cách đồng bộ và toàn diện các chương trình, chính sách
phát triển hạ tầng, kinh tế - xã hội, xóa đói giảm nghèo, cải thiện dịch vụ xã
hội và bảo tồn các giá trị văn hóa ở vùng dân tộc của Việt Nam hiện nay hướng tới
thực hiện công bằng xã hội, giảm sự phân cách giàu nghèo giữa các vùng, các
nhóm dân tộc. Việt Nam cũng hướng tới xây dựng những chính sách đặc biệt hơn để
thực thi các quyền của đồng bào dân tộc thiểu số, tạo nên sự thay đổi toàn diện
trong đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa của người dân vùng đồng bào dân tộc
thiểu số. Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng
bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 – 2030 là một ví dụ tiêu biểu mới
nhất về câu chuyện này.
Điều
đáng nói hơn là các chính sách phát triển đồng bào dân tộc thiểu số ở Việt Nam
còn hướng tới xây dựng năng lực nội
sinh, giúp đồng bào các dân tộc thiểu số thực thi, hội nhập hiệu quả trong
chính sách phát triển quốc gia, biết tự chọn lọc, tự bảo vệ các giá trị, bản sắc
dân tộc và quyền lợi cơ bản của cá nhân cũng như cộng đồng nhằm đảm bảo sự đa dạng,
bình đẳng giữa các dân tộc ở Việt Nam.
中国在东海采取毫无道理的行为对中国十分不利
07:35 |
中国近期不断展现其东海政策的变化能力,从默默绘制九段线到敲锣打鼓宣传四沙战略。在国际社会驳斥九段线后,中国立即掉转方向,集中对东海的岛礁、珊瑚礁、滩提出主权声索。中国悍然成立所谓“西沙”和“南沙”,并将飞机降落在越南长沙群岛十字礁上。
加大四沙战略实施力度,中国严重违反联合国宪章和《联合国海洋法公约》的多项条款,在实现对东海的扩张贪欲上“迈进一步”,暴露了中国独占东海的野心。国际社会对此作出强烈反应。
向联合国递交照会以示抗议
美国驻联合国大使克拉夫特日前向联合国秘书长致信,反对中国非法海上主权声索。克拉夫特强调,中国的主权声索不符合《联合国海洋法公约》,并要求联合国秘书长古特雷斯将信件散发给联合国会员国。美国国务卿蓬佩奥也宣布,美国反对中国在东海的非法主权声索,并称,中国的要求是危险和违法的。蓬佩奥同时呼吁联合国会员国团结一致维护国际法秩序和航行自由。
印度尼西亚政府5月26日致函联合国秘书长古特雷斯,反驳中国以九段线声索东海主权的立场。印尼再度重申本国立场,强调印尼支持荷兰海牙常设仲裁法院仲裁庭对菲律宾起诉中国仲裁案作出的裁决。中国的九段线主张缺乏国际法基础,亦违反《联合国海洋公约》。
牟利和代价
不难看出,中国的主张和行动经过了仔细测算。中国无视越南对黄沙和长沙两座群岛无可争辩的主权,忽视世界和地区各国航行与飞越自由的合法权益,蛮横提出毫无道理的主权声索。
观察界认为,中国肆意在东海提出主权要求将带来风险。中国和美国紧张不断加剧。双方在贸易、技术、军事等方方面面的摩擦严重激化。在新冠肺炎疫情严峻的背景下,双方互相攻击、指责。与此同时,在东南亚地区邻国眼中,中国近年来不顾国际法的行为导致其大国形象大大受损。因此,若中国继续在东海采取毫无道理的行为,无视国际法和沿海国家主权,那么地区对抗和冲突加剧将难以避免。同时将导致有关争端的解决更复杂、更难以措手。从大局的角度看,这是威胁地区安全与稳定的因素。
Trung Quốc tự gây bất lợi cho mình khi tiếp tục hành xử vô lý ở Biển Đông
07:24 |
Thời
gian gần đây, Trung Quốc liên tục thể hiện khả năng “biến hóa” trong chính sách
ở Biển Đông, từ cách tự vẽ ra đường 9 đoạn trên Biển Đông đến tuyên truyền về
cái gọi là chiến lược Tứ Sa. Khi cộng đồng quốc tế phản bác đường 9 đoạn, Trung
Quốc lập tức chuyển hướng, tập trung vào cái gọi là tuyên bố chủ quyền vơ vào
các hòn đảo, các rạn san hô nửa chìm nửa nổi, các bãi cát trên biển Đông. Trung
Quốc ngang nhiên thành lập cái gọi là “Tây Sa” và “Nam Sa”, đưa máy bay đậu ở đảo
Đá Chữ thập, thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam.
Đẩy
mạnh chiến lược Tứ Sa, Trung Quốc đã vi phạm nghiêm trọng nhiều điều khoản
trong Hiến chương Liên Hợp Quốc và Công ước LHQ về Luật Biển (UNCLOS 1982), thể
hiện bước leo thang có tính toán trong việc khẳng định chủ quyền phi pháp của
nước này tại khu vực biển Đông, với âm mưu muốn biến Biển Đông thành “ao nhà”.
Dư luận quốc tế tiếp tục có những phản ứng mạnh mẽ trước tham vọng phi lý của
Trung Quốc ở Biển Đông.
Liên
tục trong những ngày qua, các quốc gia, kể cả các quốc gia trong khu vực có
liên quan hay ngoài khu vực, đều lên tiếng phản đối những tham vọng phi lý của
Trung Quốc ở Biển Đông.
Trong
diễn biến mới nhất, Đại sứ Mỹ tại Liên Hợp Quốc Kelly Craft vừa viết thư lên Tổng
thư ký Liên hợp Quốc phản đối các yêu sách chủ quyền trên biển phi pháp của
Trung Quốc. Trong thư, Đại sứ Kelly Craft nhấn mạnh Mỹ phản đối các yêu sách chủ
quyền trên biển của Trung Quốc do không phù hợp với luật pháp quốc tế dược phản
ánh qua Công ước Liên hợp quốc về luật biển năm 1982. Bà Kelly Craft cũng yêu cầu
Tổng thư ký Antonio Guterres lưu hành bức thư của mình tới toàn bộ các thành
viên Liên hợp quốc như một văn bản cho chương trình nghị sự của Đại hội đồng
Liên hợp quốc và của Hội đồng bảo an.
Trong
khi đó, Ngoại trưởng Mỹ Mike Pompeo tuyên bố Mỹ phản đối các yêu sách chủ quyền
phi pháp của Trung Quốc ở Biển Đông, cho rằng các yêu sách của Trung Quốc là
nguy hiểm và trái với pháp luật. Ông Pompeo cũng kêu gọi các nước thành viên
Liên hợp quốc đoàn kết trong việc duy trì luật pháp quốc tế và tự do hàng hải.
Trong
khi đó, Indonesia cũng khẳng định lập trường của nước này về vấn đề Biển Đông
trong công hàm gửi Tổng thư ký LHQ António Guterres ngày 26/5. Indonesia thể hiện
sự ủng hộ của chính phủ nước này đối với phán quyết năm 2016 của Tòa Trọng tài
thường trực ở La Hay, khi tòa án đứng về phía Philippines trong vụ kiện về lãnh
thổ với Trung Quốc. Công hàm tái khẳng định “yêu sách của Trung Quốc về “đường
chín đoạn” là thiếu cơ sở pháp lý và vi phạm nghiêm trọng Công ước Liên Hợp Quốc
về Luật biển (UNCLOS) năm 1982.”
Công
hàm của Indonesia là phản ứng mới nhất trong số những công hàm của các Quốc gia
ASEAN gửi cho Liên Hợp quốc sau công hàm của Việt Nam hồi tháng 3/2020 và của
Malaysia hồi tháng 12/2019 về việc Trung Quốc tuyên bố chủ quyền với thềm lục địa
trên Biển Đông.
Toan tính lợi ích và cái giá phải
trả
Có
thể thấy thời gian qua, quan điểm và hành động của Trung Quốc có tính toán cụ
thể. Trung Quốc bất chấp chủ quyền không thể chối cãi của Việt Nam tại hai quần
đảo Hoàng Sa và Trường Sa ở biển Đông, đồng thời phớt lờ các quyền hợp pháp của
các quốc gia trong khu vực và trên thế giới về tự do hàng hải, hàng không, đòi
hỏi yêu sách chủ quyền phi lý theo cách mà họ muốn. Tuy nhiên, kết quả của việc
tính toán giữa lợi ích mà nó mang lại và cái giá phải trả mới là điều đáng nói.
Theo
các nhà quan sát, những rủi ro gắn liền với việc Trung Quốc tự ý áp đặt các quyền
ở Biển Đông hoàn toàn có thể xảy ra. Căng thẳng giữa Bắc Kinh và Washington vẫn
đang gia tăng đều đặn khi hai bên đụng độ trên nhiều mặt, từ thương mại, công
nghệ đến các vấn đề về quân sự và nay là đổ lỗi, phê phán lẫn nhau về cách xử
lý dịch bệnh cũng như về nguồn gốc virus SARS-CoV-2 gây dịch Covid-19.
Bên
cạnh đó, hình ảnh một nước lớn trong mắt các nước láng giềng Đông Nam Á những
năm gần đây bị tổn hại bởi cách hành xử bất tuân luật pháp quốc tế của Trung Quốc.
Vì vậy, nếu Trung Quốc tiếp tục có những hành xử vô lối ở Biển Đông, coi thường
luật pháp quốc tế và chủ quyền của các quốc gia ven biển, sẽ dẫn đến gia tăng
nguy cơ đối đầu, gia tăng xung đột và những cuộc đụng độ cục bộ trong khu vực.
Đồng thời, tạo ra sự phức tạp, trầm trọng hơn cho việc giải quyết tranh chấp về
các vấn đề liên quan. Xét về toàn cục, điều này là tác nhân nguy hiểm cho an
ninh và ổn định trong khu vực.
越南和缅甸关系面向新台阶
08:13 |
越南和缅甸早在1947年就设立外交关系,那年,越南已在仰光设立常驻机构,1948就设立代表机构,到1957年,两国互设总领事馆。缅甸政府和人民一向对越南人民以前民族解放斗争和现在国家发展事业给以支持。越南南方获得解放,全国统一后,1975年5月28日,越缅两国已将总领事关系提升为大使级外交关系。
从此以来,由胡志明主席和昂山素季(Aung
San)大将建造的越缅团结友谊关系不断得到两国历代领导和人民精心培育。尤其的是,在2017年8月,越共中央总书记阮富仲(今为越共中央总书记、国家主席)对缅甸进行的国事访问中,双方已发表了关于设立全面合作伙伴关系的联合声明,标志着两国关系史上的里程碑,为双方各领域上的关系注入新动力。
越南和缅甸在党际、政府、国会和人民等方面各级代表团互访频繁。通过两个高级领导互访和接触,双方政治互信继续得到深化。2019年12月,越南政府总理阮春福已对缅甸进行正式访问。此外,越缅双边合作委员会与贸易混合小组等双边合作机制得到维持并发挥积极效果,
在地区和国际保护主义增加的背景下,越南和缅甸重视加强两国经济连接。两国贸易合作与投资关系也取得了许多重要成就,2018年双边贸易额达8.6亿美元,2019年达10多亿美元,2020年奋斗超过10亿美元。目前,越南在缅甸有18个项目,注册金额达近22亿美元,是缅甸的第九大贸易伙伴和第七大投资伙伴国。
在政治外交关系基础上,两国经贸、投资关系日趋得到深化,国防安全、农业、交通运输、文化、旅游、人民交流等领域以及两国地方合作也取得了诸多积极进展。
越南和缅甸还在地区和国际论坛上,尤其是在东盟与由东盟为核心的机制上紧密合作;巩固和加强东盟团结和自强;增强东盟的核心作用以及东盟在解决地区各种挑战中的作用。越缅支持透明、自由、开放、包容、以世贸组织规则为基础的多边贸易体制以及世贸组织改革过程,缅方肯定支持越南担任2020年东盟轮值主席国和2020-2021任期联合国安理会非常任理事国。
基于稳固的传统友谊关系,可以肯定说,越缅关系已不断得到两国关心推进。但总体上看,两国关系仍未与各自国家潜力和优势相称。纪念越缅建交45周年纪念是两国共同回顾双边关系,寻找合作措施,将各项合作目标落实到处,促进两国关系深入务实发展,面向更高台阶的良好机会。
Việt Nam - Myanmar hướng tới một tầm cao mới
08:02 |
QĐND
- Việt Nam và Myanmar có mối quan hệ từ rất sớm. Ngay từ năm 1947, Việt Nam đã
đặt cơ quan thường trú tại Yangon, sau đó là cơ quan đại diện vào năm 1948 và đến
năm 1957, hai nước lập tổng lãnh sự quán. Tuy còn nhiều khó khăn, song Chính phủ
và nhân dân Myanmar luôn tích cực ủng hộ nhân dân Việt Nam trong cuộc đấu tranh
giải phóng dân tộc trước đây cũng như trong những nỗ lực phát triển đất nước hiện
nay. Sau khi Việt Nam giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, hai bên đã nâng
quan hệ Tổng lãnh sự lên quan hệ ngoại giao cấp Đại sứ vào ngày 28-5-1975.
Kể
từ đó, mối quan hệ hữu nghị lâu đời và bền chặt Việt Nam-Myanmar, được Chủ tịch
Hồ Chí Minh và Đại tướng Aung San gây dựng, không ngừng được các thế hệ lãnh đạo,
nhân dân hai nước dày công vun đắp. Đặc biệt, trong chuyến thăm cấp Nhà nước tới
Myanmar của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng vào tháng 8-2017 (nay là Tổng Bí thư,
Chủ tịch nước), hai bên đã ra Tuyên bố chung thiết lập khuôn khổ quan hệ đối
tác hợp tác toàn diện, ghi dấu mốc mới, tạo xung lực mới cho quan hệ hai nước trên
tất cả lĩnh vực.
Việt
Nam và Myanmar thường xuyên trao đổi đoàn các cấp trên tất cả các kênh, bao gồm
kênh đảng, chính phủ, quốc hội và giao lưu nhân dân. Sự tin cậy chính trị giữa
hai nước tiếp tục được thắt chặt thông qua các chuyến thăm và tiếp xúc của lãnh
đạo cấp cao hai nước. Gần đây nhất, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc đã
thăm chính thức Myanmar vào tháng 12-2019. Cùng với đó, các cơ chế hợp tác song
phương được duy trì đều đặn và phát huy hiệu quả, nhất là Ủy ban hỗn hợp về hợp
tác song phương và Tiểu ban hỗn hợp thương mại.
Trong
bối cảnh chủ nghĩa bảo hộ gia tăng trong khu vực và trên thế giới, Việt Nam và
Myanmar coi trọng việc tăng cường liên kết hai nền kinh tế. Hợp tác thương mại
và đầu tư giữa hai nước trong những năm qua đạt được nhiều thành tựu với việc
kim ngạch thương mại đạt 860 triệu USD năm 2018 và khoảng 1,02 tỷ USD năm 2019,
vượt mục tiêu 1 tỷ USD đề ra cho năm 2020. Việt Nam hiện là đối tác thương mại
lớn thứ 9 và là nhà đầu tư nước ngoài lớn thứ 7 của Myanmar với 18 dự án có tổng
vốn đăng ký gần 2,2 tỷ USD.
Trên
cơ sở quan hệ chính trị-ngoại giao, kinh tế-thương mại-đầu tư ngày càng gắn bó,
các lĩnh vực hợp tác khác, như: Quốc phòng, an ninh, nông nghiệp, giao thông vận
tải, văn hóa, du lịch, giao lưu nhân dân và hợp tác giữa các địa phương của hai
nước cũng ghi nhận nhiều tiến triển tích cực.
Việt
Nam và Myanmar thường xuyên duy trì phối hợp và hợp tác chặt chẽ tại các diễn
đàn khu vực và quốc tế, đặc biệt là ASEAN, các cơ chế do ASEAN dẫn dắt, Liên hợp
quốc, Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), Diễn đàn Hợp tác Á-Âu (ASEM), Phong
trào Không liên kết và các cơ chế hợp tác Tiểu vùng sông Mê Công quan trọng như
hợp tác Campuchia-Lào-Myanmar-Việt Nam (CLMV), Tiểu vùng Mê Công mở rộng (GMS)
và Chiến lược hợp tác kinh tế Ayeyawady-Chao Phraya-Mê Công (ACMECS); củng cố
và thúc đẩy ASEAN đoàn kết và tự cường; tăng cường vai trò trung tâm của ASEAN
cũng như vai trò của hiệp hội trong giải quyết các thách thức khu vực. Hai bên ủng
hộ một hệ thống thương mại đa phương minh bạch, tự do, rộng mở, bao trùm và dựa
trên luật lệ do WTO dẫn dắt cũng như quá trình cải tổ WTO đang diễn ra. Myanmar
khẳng định ủng hộ Việt Nam đảm nhiệm vai trò Chủ tịch ASEAN 2020 và Ủy viên
không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2020-2021.
Trên
nền tảng hữu nghị truyền thống vững chắc, có thể thấy rõ rằng thời gian qua,
quan hệ Việt Nam-Myanmar đã không ngừng được hai nước quan tâm thúc đẩy. Tuy
nhiên, xét về tổng thể, mối quan hệ này được đánh giá vẫn còn khiêm tốn, chưa
tương xứng với tiềm năng và thế mạnh của mỗi nước. Dịp kỷ niệm 45 năm thiết lập
quan hệ ngoại giao chính là cơ hội để Việt Nam và Myanmar cùng rà soát, nhìn lại
quan hệ song phương, tìm kiếm giải pháp hiện thực hóa các mục tiêu chung trong
hợp tác, đưa quan hệ hai nước phát triển sâu rộng và thực chất hơn, hướng tới một
tầm cao mới.
2020年东盟年:充满韧性的东盟提高其适应能力
16:43 |
自2020年1月1日起,越南正式担任东盟轮值主席。在2020年东盟轮值主席国岗位上,越南将“齐心协力与主动适应”确定为2020东盟年的主题,并通过各优先事项将其具体化,为地区和平、安全与稳定做出积极的贡献;加强地区互联互通,提高适应能力,充分利用第四次工业革命带来的机遇;增强共同体意识、突显东盟特色;促进与世界各国的致力于和平、可持续发展的伙伴关系,发挥东盟在国际社会中的作用和贡献以及提高东盟适应能力和活动效率等。
“主动适应”是《东盟共同体愿景2025》的内涵之一,它首次被纳入东盟年主题内容,展现了东盟提高主动性与创造性,实现转变与强劲增长以及携手前行的能力。
新冠肺炎疫情的爆发给2020年东盟轮值主席国越南带来了不小的考验。
在对2020年东盟主题做出评价时,原外交部副部长、原越南驻美国大使范光荣表示,与各国进行磋商之后越南将“齐心协力与主动适应”确定为2020年东盟的主题内容,获得了各国的欢迎和赞成并表明该主题适逢其时。首先,世界正处于快速发展的阶段,世界地缘政治与经济格局正处于新一轮巨大变革之中以及地区形势正发生巨大且迅速的变化。其二,“齐心协力”就是团结、坚持东盟各项优先、原则及目标,包括以政治安全、经济与文化社会为三大支柱的东盟共同体建设,同时提高东盟在与各伙伴国关系中的主动作用,共同致力于维护地区的和平、稳定与发展。此外,“齐心协力”还意味着在东盟共同体建设各项原则、目标、优先事项、方向的基础上以及在东盟与各伙伴国关系中等达成一致,致力于该地区的和平、稳定与发展。
东盟各国应主动适应包括大国之间地缘战略竞争在内的地区乃至世界的复杂形势。在新冠肺炎疫情爆发之前,中国和美国发生了贸易战,世界科学技术飞速发展。为了推进经济发展,各国要进行革新,以适应全球供应链的变化。此外,各国也要面对海平面上升、气候变化、自然灾害等非传统安全问题的挑战。
范光荣大使表示,2020年东盟“齐心协力与主动适应”这一主题就是给东盟轮值主席国越南的考验,新冠肺炎疫情于2019年12月底爆发,仅仅一个月后新冠肺炎疫情已扩散到了全球201个国家和地区,影响范围遍及全球。在有史以来发生最为严重的疫情背景下,世界各国要如何主动适应成为了当前的一大考验。受疫情影响,世界各国关闭大部分的边境口岸、陆地边界和限制国际航班往来。其给东盟带来了巨大的挑战,需要东盟各国加强团结,既要推进东盟共同体建设又要适应地区和世界当前的变化。齐心协力与主动适应意味着在面对挑战时能够及时采取各项应对措施。
新冠肺炎疫情于2020年1月爆发。疫情对东盟区域内的经济,尤其是占东盟GDP的30%的经营服务业产生了直接的影响,导致地区和全球供应链陷入断裂状态。东南亚地区数百万名劳动者因疫情而面临失业危机,社会保障工作也面临着巨大挑战。2020年年初,东盟多个活动被迫暂停或推迟举行,其中包括东盟-美国领导人峰会和第36届东盟峰会等。
当新冠肺炎疫情爆发时,作为2020年东盟主席,越南已主动、积极加强团结,发挥好东盟共同努力应对疫情的组织协调作用。在同东盟领导人进行磋商之后,越南政府总理阮春福于2月14日发表了东盟主席声明,强化东盟控制和防止疫情传播的高度决心和强有力的政治承诺。由东盟各国外长组成的东盟协调理事会在越南政府副总理兼外长范平明的主持下分别于2月20日和4月9日召开了两场会议,就东盟内部以及东盟与各伙伴对应对新冠肺炎疫情协调配合的措施进行了深入讨论。
此外,东盟与中日韩三个伙伴国启动了应对新冠肺炎疫情的应急机制。东盟各国外长和中国已于2020年2月20日发表了《东盟—中国关于新冠肺炎问题特别外长会联合声明》。东盟各国防长于2020年2月19日发表了《东盟国防部长关于抗击新冠肺炎疫情中防务合作的联合声明》。东盟经济部长于2020年3月10日发表了关于致力于增强东盟经济恢复能力,以应对新冠肺炎的联合声明。
另一方面,越南主持成立了东盟公共卫生协调委员会紧急情况工作组(ACCWG-PHE)并召开了相关会议,为促进东盟与中国、美国和欧盟的合作作出了积极的贡献。东盟领导人特别会和东盟与中日韩(10
3)抗击新冠肺炎疫情领导人特别会议于4月14日以视频方式在河内举行,这是一项必要的措施,并被视为彰显东盟在应对新冠肺炎疫情工作中做出的不懈努力的机会。
东盟主动适应融入并参与全球供应链
范光荣大使表示,全球和地区形势的变化也带来了许多新机遇,主动适应需要把握好全球供应链的变化所带来的机遇,使东盟共同体要更好地融入及参与全球供应链。
东盟正大力推动《区域全面经济伙伴关系协定》(RCEP)谈判进程,力争使其成为全球最大自由贸易协定,RCEP谈判由东盟十国于2012年11月发起,该协定完成之后将有助于巩固东盟在推动地区融合中的核心作用。当东盟各国要应对美中贸易战以及当前新冠肺炎疫情爆发等所带来的经济影响时,东盟各国要加倍努力力争尽早完成RCEP谈判。
越南外交部副部长、东盟高官会越方代表团团长阮国勇表示,RCEP是东盟和其他合作伙伴国的优先事项之一。目前由于印度暂时退出RCEP谈判以及遭受新冠肺炎疫情的影响等因素,RCEP谈判或将面临推迟的可能。然而,东盟各国坚定决心,在当前新冠肺炎疫情带来严重影响的背景下,各国更需要尽早完成RCEP协定。希望RCEP谈判能在年内完成。
东盟主动适应非传统安全的挑战
东盟仍面临着诸多挑战,包括区域内大国之间的竞争;东海问题等海洋安全问题;非传统安全问题突发性挑战增多和疫病等。非传统安全挑战包括生态环境安全、高科技犯罪、非法移民等,尤其是新冠肺炎疫情的爆发和迅速扩散给包括东盟在内的地区和世界带来了巨大的挑战。此外,各国要携手应对虚假信息,以及应对疫病、人口贩卖、海盗、自然灾害救助、人道主义救援等的共同挑战。非传统威胁不仅是紧迫性的问题,更是人类当前所面临的日常性、长期性的一大难题。
越南外交部副部长阮国勇表示,面对非传统挑战时,没有任何一个国家能够孤军奋战,其需要各国加强团结和紧密配合。因此,东盟可以毫无疑义地确定,最重要的是东盟要加强团结、密切配合、全力以赴,同时加强信息沟通、政策协调、行动配合,形成合力,同时要制定相互支持的各项机制。
东盟已制定了应对紧急情况发生的应急机制以应对自然灾害或人道主义问题的协作机制。在新冠肺炎疫情爆发的背景下,东盟各国同意成立应对新冠肺炎疫情基金会。越南建议成立医疗物资储备库,以及时应对紧急情况的发生。之前,东盟已制定了应对自然灾害的流程,现在,东盟需要制定应对紧急卫生事件的类似流程,从而更加主动地应对各种突发事件并起到未雨绸缪的作用。
总之而言,“齐心协力与主动适应”是2020年东盟年内一个千真万确的主题。齐心协力意味着加强团结,携手努力实现东盟的各个目标,同时应对全球趋势与地区格局的变化。新冠肺炎疫情的爆发正是对2020年东盟轮值主席国越南的一次考验,因此“齐心协力与主动适应”这一主题有助于越南同东盟各国及时协调配合,共同行动,携手应对新冠肺炎疫情。
2020年东盟主题“齐心协力与主动适应”再次强调了团结对东盟可持续发展的重要性。齐心协力且发展的东盟共同体才能有效地适应外部因素的影响,同时,主动适应将有助于加强东盟团结,从而增强东盟的综合实力。(未完待续)
ASEAN đóng góp cho môi trường hòa bình, an ninh và ổn định khu vực
15:42 |
Hòa
bình và ổn định, đoàn kết và thống nhất, thịnh vượng và bền vững tiếp tục là mục
đích, là bản sắc và cũng là mục tiêu phấn đấu của Cộng đồng ASEAN nhằm tạo dựng
vị thế, hình ảnh, vai trò mới với tinh thần chủ động đóng góp có trách nhiệm
cho đối thoại và hợp tác trên “sân chơi” toàn cầu.
ASEAN
đã giữ vững đoàn kết, thống nhất, thể hiện lập trường tại nhiều hội nghị, diền
đàn trong khu vực và trên thế giới, đề cao tầm quan trọng của hòa bình, ổn định,
thượng tôn luật pháp quốc tế, bảo đảm an ninh, an toàn tự do hàng hải, hàng
không, nhấn mạnh kiềm chế, không có các hành động làm phức tạp tình hình, thực
hiện đầy đủ Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) và xây dựng Bộ quy
tắc ứng xử ở Biển Đông (COC) hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với luật pháp quốc tế,
trong đó có Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển 1982 (UNCLOS 1982).
Trong
bối cảnh đại dịch COVID-19 diễn biến phức tạp trong khu vực và trên thế giới,
những thách thức về an ninh vẫn đang tồn tại, ASEAN vẫn có những cách hoạt động
tham vấn của mình để có thể phát huy được vai trò trung tâm ở mức cao nhất có
thể.
Theo
Đại sứ Phạm Quang Vinh, nguyên Thứ trưởng Bộ Ngoại Giao, Đại sứ Việt Nam tại Mỹ
đã có 7 năm đảm nhiệm ví trí Trưởng SOM của ASEAN, khi dịch bệnh COVID-19 bùng
phát và lây lan tại nhiều nước trên thế giới, các nước đều phải dồn sức vào chống
dịch, kể cả đóng cửa biên giới với nhau.
Bản
thân các nước ASEAN cũng vậy. Điều này cũng đã ảnh hưởng đến hoạt động của
ASEAN, như việc không thể tổ chức các cuộc họp theo lịch, hay tham vấn, giao
lưu theo cách thông thường.
Tuy
nhiên, hòa bình và an ninh vẫn luôn là nghị sự ưu tiên và quan trọng hàng đầu của
ASEAN. Đây là điều kiện cho hợp tác, liên kết, phát triển và xây dựng lòng tin ở
khu vực.
Mặt
khác, khu vực vẫn đang phải đối diện với các thách thức về an ninh, cả về truyền
thống và phi truyền thống, như biến đổi khí hậu, an ninh nguồn nước, dịch bệnh.
Vấn
đề Biển Đông hay bán đảo Triều Tiên vẫn đang diễn ra hết sức phức tạp.
Do
đó, trong mọi trường hợp, ASEAN vẫn phải đồng thời tiếp tục tham vấn và đóng
góp vào hoà bình an ninh ở khu vực bằng nhiều nỗ lực khác nhau, trong đó có việc
thúc đẩy hợp tác, đối thoại, liên kết, củng cố các diễn đàn của ASEAN, tạo ra
những nguyên tắc ứng xử chung và xây dựng các cấu trúc khu vực dựa trên vai trò
trung tâm của ASEAN.
Đáng
chú ý, vừa qua, ASEAN đã triệt để sử dụng công nghệ thông tin và thúc đẩy tham
vấn ở các cấp và các kênh bằng trực tuyến, đặc biệt trong phòng chống dịch bệnh
COVID-19.
Với
tư cách Chủ tịch ASEAN, Việt Nam đã chủ động chủ trì các tham vấn thường xuyên
trong và ngoài ASEAN, trong đó có kênh chuyên môn y tế.
Việt
Nam cũng đã triệu tập một loạt các hội nghị quan trọng về vấn đề này, như Hội
nghị Bộ trưởng Hội đồng Điều phối ASEAN, các Hội nghị Cấp cao đặc biệt ASEAN và
ASEAN+3 về ứng phó dịch bệnh COVID-19.
ASEAN
có những nguyên tắc, những tuyên bố về những vấn đề liên quan đến hòa bình, an
ninh, ổn định ở khu vực. Khi có vấn đề gì xảy ra phải có những tham vấn, dựa
trên luật pháp quốc tế và ASEAN đã liên tục trao đổi với nhau.
ASEAN
vẫn duy trì được mối quan hệ với các đối tác của mình, cùng đóng góp vào xây dựng
hòa bình an ninh, ổn định ở khu vực.
Thứ
trưởng Ngoại giao Nguyễn Quốc Dũng, Trưởng SOM ASEAN của Việt Nam, cho biết
ASEAN hiện nay đang đóng vai trò nòng cốt, có thể nói là giữ vai trò trung tâm
trong kết cấu an ninh ở khu vực bằng cách ASEAN hình thành nên và dẫn dắt các
cơ chế mà có sự tham gia của rất nhiều đối tác các nước lớn tham gia vào đây.
Điều
này đòi hòi sự đoàn kết thống nhất của ASEAN để thực hiện nhiệm vụ vai trò của
mình và trên thực tế ASEAN đã đang đẩy mạnh đàm phán bộ quy tắc ứng xử với
Trung Quốc.
Trước
những sáng kiến của khu vực như Vành đai đón đường, sáng kiến về khu vực Ấn Độ
Dương, Thái Bình Dương thì ASEAN đã xây dựng nên bộ tài liệu quan điểm của mình
về Ấn Độ Dương, Thái Bình Dương thể hiện nguyên tắc môi trường ASEAN cũng như
mong muốn của ASEAN trong sự phát triển ở khu vực cũng như hòa bình, ổn định ở
khu vực, những nỗ lực của ASEAN được đánh giá tốt và đánh giá cao bởi các nước
đối tác ASEAN.
Theo
Đại sứ Phạm Quang Vinh, duy trì hoà bình, an ninh, an toàn hàng hải trên Biển
Đông luôn là quan tâm ưu tiên của ASEAN. ASEAN đã có những nguyên tắc rất quan
trọng về Biển Đông và các nguyên tắc này đã nhận được sự ủng hộ rộng rãi của
các nước trong khu vực và trên thế giới.
ASEAN
đã và sẽ luôn kiên trì những nguyên tắc cơ bản đó. Trước hết, đó là phải đảm bảo
cho được hoà bình, ổn định, an ninh trong đó có an ninh an toàn và tự do hàng hải.
Thứ
hai, tất cả các nước phải tôn trọng pháp luật quốc tế, đặc biệt là Công ước Luật
Biển năm 1982, bao gồm cả việc tôn trọng vùng thềm lục địa và đặc quyền kinh tế
hợp pháp của các quốc gia ven biển.
Thứ
ba, các nước phải thực hiện đúng cam kết trong thoả thuận của ASEAN cũng như
ASEAN-Trung Quốc về thực hiện đầy đủ Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông
(DOC), không được có những hành vi hoặc những việc làm làm gia tăng căng thẳng.
Cuối
cùng là các nước có trách nhiệm đóng góp vào việc xây dựng lòng tin, thúc đẩy
những nguyên tắc chuẩn mực ở khu vực, thực hiện DOC và xây dựng COC.
Trên
tinh thần đó, việc Trung Quốc vừa qua có những hoạt động như xâm phạm vào vùng
thềm lục địa và đặc quyền kinh tế của các nước; công bố thành lập cái gọi là
"quận đảo Tây Sa và Nam Sa” xâm phạm chủ quyền Việt Nam, hay trái phép
công bố các "danh xưng tiêu chuẩn" áp dụng cho "25 đảo, đá và 55
thực thể địa lý dưới biển ở Biển Đông," là trái với luật pháp quốc tế,
trái với mong đợi của khu vực về duy trì hòa bình ổn định và xây dựng lòng tin.
ASEAN
và từng nước thành viên đều cần phải có tiếng nói, cần phải khẳng định thêm nữa
việc tôn trọng các nguyên tắc chung và luật pháp quốc tế.
Các
hoạt động như trên ở Biển Đông không chỉ gây thêm phức tạp, mà còn xói mòn lòng
tin, khi khu vực đang rất cần hợp tác, hỗ trợ lẫn nhau để tập trung phòng chống
dịch bệnh.
Sắp
tới, ASEAN sẽ tiếp tục có các cuộc họp của mình, trong đó có các Hội nghị cấp
cao ASEAN, dự kiến vào tháng sáu, chắc chắn Biển Đông sẽ trong nghị sự và ASEAN
sẽ có tiếng nói về vấn đề này.
Đại
sứ Phạm Quang Vinh chia sẻ xét trên phương diện hòa bình, ổn định ở Biển Đông
chúng ta có thể thấy ASEAN đã và sẽ tiếp tục có những đóng góp quan trọng.
Trước
hết, thúc đẩy hợp tác tại các kênh trong ASEAN và giữa ASEAN với các đối tác nhằm
thúc đẩy môi trường hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn và tự do hàng hải ở khu
vực này.
Thứ
hai, thông qua các kênh tham vấn, bao gồm cả với Trung Quốc và với các nước đối
tác khác, nhấn mạnh các nguyên tắc, việc tuân thủ luật pháp quốc tế, hợp tác
xây dựng lòng tin.
Thứ
ba, khi có những vấn đề nảy sinh, ASEAN tham vấn, đưa ra quan điểm của mình, nhấn
mạnh các nguyên tắc về tuân thủ luật pháp quốc tế và Công ước Luật Biển 1982, bảo
đảm hòa bình an ninh, xây dựng lòng tin và không làm phức tạp thêm tình hình.
Khi
khu vực và ASEAN có tiếng nói chung như vậy, chắn chắn sẽ được thế giới, các nước
trong và ngoài khu vực ủng hộ, từ đó càng nhân lên sức mạnh của công lý và áp lực
dư luận vì hòa bình, an ninh và phát triển ở khu vực.
Đồng
thời, ASEAN có nhiều cơ chế có thể phát huy hơn nữa tiếng nói và đóng góp cho
hòa bình và ổn định khu vực.
Đáng
chú ý là các khuôn khổ hợp tác trong ASEAN, giữa ASEAN với các đối tác như với
Trung Quốc, Mỹ, EU, Nhật, Hàn Quốc, Ấn Độ và các nước khác.
Tiếp
đó là các cơ chế như Diễn đàn khu vực ASEAN (ARF), diễn đàn Bộ trưởng Quốc
phòng ASEAN (ADMM) và ASEAN mở rộng (ADMM+), Hội nghị cấp cao Đông Á (EAS).
Thông
qua các diễn đàn, cơ chế đó, ASEAN vừa phát huy được vai trò trung tâm của mình
ở khu vực, vừa thúc đẩy hợp tác với các đối tác trong việc duy trì hòa bình, an
ninh khu vực, trong đó có Biển Đông.
Thông
qua các cơ chế đó, ASEAN cũng có thể góp phần vào thúc đẩy đối thoại, xây dựng
lòng tin, trung gian hòa giải, tìm cách tháo gỡ bất đồng, làm giảm căng thẳng
bao gồm cả về chính trị, an ninh, hay tranh chấp trên biển.
Tựu
trung lại, ASEAN và các cơ chế do ASEAN dẫn dắt đóng vai trò tích cực trong việc
giải quyết các tranh chấp trên Biển Đông.
Đại
sứ Phạm Quang Vinh nhấn mạnh cần hiểu rằng vấn đề Biển Đông có nhiều khía cạnh.
Thứ
nhất là về bảo đảm hòa bình, ổn định và hợp tác ở khu vực này trong đó có bảo đảm
hòa bình, an ninh, an toàn và tự do hàng hải, cũng như tuân thủ, thì đây là
nguyên tắc, lợi ích chung, tất cả các nước cần phải có tiếng nói.
Thứ
hai, tại khu vực này tồn tại những chồng lấn và tranh chấp về đòi hỏi chủ quyền,
thì phải làm sao quản lý, bảo đảm các tranh chấp đó phải được giải quyết bằng
giải pháp hoà bình trên cơ sở luật pháp quốc tế, không được gây căng thẳng, ảnh
hưởng đến hoà bình an ninh khu vực.
Thứ
ba, khi có tranh chấp, các bên có trách nhiệm tuân thủ luật pháp quốc tế, các
quy tắc ứng xử như đã nêu trong DOC và tham gia vào xây dựng lòng tin.
ASEAN
đã và tiếp tục có thể đóng góp về tất cả các khía cạnh này. Đơn cử, Tuyên bố về
Ứng xử của các Bên ở Biển Đông (DOC) đến nay vẫn là văn kiện quan trọng duy nhất
có thể đạt được giữa ASEAN và Trung Quốc liên quan đến Biển Đông.
Như
vậy, ASEAN đã và tiếp tục có vai trò, tiếng nói và đóng góp quan trọng về hoà
bình, an ninh và tuân thủ luật pháp quốc tế trong vấn đề Biển Đông nói riêng và
ở khu vực nói chung.
Trong
hơn nửa thế kỷ qua, các cơ chế đa phương khu vực do ASEAN thành lập và dẫn dắt
đã không ngừng phát triển, mở rộng về quy mô và nội hàm hợp tác; đóng góp thiết
thực vào thúc đẩy hợp tác, duy trì hòa bình, ổn định và an ninh khu vực; đưa những
nguyên tắc chủ đạo và chuẩn mực của ASEAN trở thành một cấu phần then chốt của
cấu trúc khu vực./.
Hot (焦点)
-
胡志明是二十世纪越南革命杰出的马克思主义思想家。他老人家的思想是马克思列宁主义在符合越南的条件和历史背景基础上的运用、发展与创新,体现着时代精神及现代与当代世界的运动与发展趋势。 1 、胡志明思想、道德、风格体系的道德榜样。他老人家的思想合成了越南革命及革命之路的战略策...
-
为维护国家海岛主权,越南历代封建王朝都着重投资建设强大的水军力量。越南丁、李、陈、黎、阮等王朝的水军力量不断得到加强和完善。这支水军为捍卫祖国事业作出了巨大贡献,在各个阶段留下了历史烙印。 至今还收藏的古籍显示,越南历代封建王朝早已对黄沙群岛和长沙群岛确立主权、实施...
-
1954 年《日内瓦协议》签署之后,越南暂时被分成南北两方不同政治制度的政体。据此,越南北纬 17 度以南的领土(包括黄沙、长沙两群岛)由越南共和国政府管辖。根据《协议》规定,法国殖民者被迫撤离越南之后,西贡政权立即派遣海军力量接管黄沙、长沙两群岛并对其行使主权。与此同时,...
-
(VOVWORLD) - 越南伟大领袖胡志明主席的思想、道德、作风、革命生涯是越南全党、全民学习和实践胡志明道德榜样的生动和具有说服力的楷模。至今,越南开展学习和实践胡志明道德榜样运动已有 8 年并取得多项重要结果。 胡志明主席在其革命生涯中牺牲个人利益,为祖国和人...
-
越南的黄沙群岛位于东海(中国称南海)北边,处于北纬 15°45′ 至 17°15′ 、东经 110° 至 113° ,距越南广义省李山岛约 120 海里。黄沙群岛由 37 多个岛、洲、礁和沙滩组成,分为西面和东面两个群岛。东面为安永群岛(中国称宣德群岛),由 12 个岛、洲...
-
数十年来,中国人拿出大量书籍、资料和史料,企图证明从两千年前的汉朝起,中国人就发现了西沙和南沙(即越南的黄沙群岛和长沙群岛),从而说古代中国发现西沙南沙群岛就足够证明中国对西沙和南沙的不可争议的领土主权。据说,中国人最迟于唐宋发现南沙群岛至今,就一直在岛上及其海域从事生产活...
-
越南对黄沙、长沙两座群岛的主权不仅在越南古籍和古文献中有记载,而且还出现在西方航海家和传教士等的书籍、报纸、地图、日记、航路指南等外国资料中。这些资料描述黄沙、长沙“是越南中部海上的一块沙渚…”,这和越南同一历史时期资料和古地图描述的类似。法国 1936 年在印度支那建立的...
-
BDN - 位于东海边国土陆地呈 “S” 字形的越南,无形中拥有沿着国土走向三千公里海岸及依照 1982 年《联合国海洋法公约》从岸边向外延伸的辽阔海域。这意味着从越南 1982 年 11 月确定和公布的垂直基线算起往外延伸 200 海里宽的海域属越南的主权,被称作专属经济...
-
从十六、十七世纪至今,西方国家的轮船日益频繁来往于东海。他们来到这里,不只为了扩大贸易还为了传教和传播西方文化。在来往东海期间,西方航海家和传教士们以当时最现代的技术很详细地描述和绘画黄沙群岛和长沙群岛,以避免这两个群岛的礁石给来往的船舶造成危害。为此,他们很仔细地研究东海...
-
香港媒体最近透露中国在东海划分“新边界线”的海洋研究项目,为“资源研究”创造了条件,北京对这片海域的主权主张“增添了筹码”。这条新边界线是一条与囊括了蕴藏着丰富矿产和能源资源的东海海域九段线相吻合的实线,九段线内的海域就是北京声索主权的那片海域。 从国际法的角度来看实线...









