越南着力开展绿色增长战略
01:45 |落实2021-2030年和展望2050年国家绿色增长战略(战略)是越南在绿色增长、绿色复苏等方面成为率先本地区的大好机会,赶上世界发展趋势。
在未来将积极落实有关促进绿色增长的具体任务中,计划投资部方面表示,将牵头指导制定部级和地方级绿色增长行动计划。同时,着力建设和完善与投资企业相关的体制和政策;建立监督、评估和报告战略落实的机制和支持落实的管理工具,特别是制定一套国家绿色增长指标,促进资源调集,协调国内外资金来源。
面对诸多挑战和障碍
来自老街省老街市春僧坊的阮氏如琼女士近日在《经济与预报杂志》(计划投资部直属机关)举办题为“促进绿色增长,迈向可持续发展:将国家愿景与地方和企业的行动联系起来”的研讨会上分享当地落实绿色增长的经验教训时表示这是许多同步措施的结果。具体而言,补充制定商品农业发展政策,着力解决土地积累、土地出租、土地使用权出资等问题。
各地根据自身潜力、优势和实际情况,按照“一乡一品”(OCOP)模式发展与新农村建设相结合的地方特色产品。此外,保护生态环境、景观、通过与生态村相结合的乡村景观发展来适应气候变化、发挥各地优势、建设农村经济生态体系等措施是必不可少的。从企业角度来看,PAN集团研发总监阮忠英认为,领导团队的远见和决心是企业走向可持续发展道路的非常重要因素。此外,须找到一个愿意陪伴和分享的合作伙伴,另一个重要因素是劳动者的同心协力。
作为最早建立一套可持续发展指标的企业之一,PAN取得了相当积极的成果,体现在将商品成功出口到世界40多个国家,其中包括日本、欧盟、美国等苛刻市场,并获得大合作伙伴的投资。然而,这并非一帆风顺,因为在实施过程中,该集团面临从意识问题、经营环境因素到投资成本等诸多困难。
研讨会上,专家们提出了值得注意的数字,即如果不保护环境,估计对环境破坏和污染的代价约为GDP的6-7%,若包含治疗人民疾病的医疗费用,将增加到8-10%。因此,若没有实现绿色且可持续发展,即使GDP增长达8%-9%,也没有意义。
疏通各种资源
从2012年开始,政府发布了2011-2020年,展望到2050年国家绿色增长战略。经过近10年落实该战略,人们和社会对绿色增长的作用和意义的认识已经得到明显提高,生产生活行为逐渐改变。出现了许多节省、安全、文明、富有民族特色,与自然和谐相处的生产和消费模式。
然而,在新的背景下,越南经济朝着绿色增长方向转型仍面临诸多困难和挑战,因为该问题尚未获得许多部委、单位、地方和机构的应有重视。值得注意的是,用于绿色增长的资源仍然有限,尤其是在国际组织提供的支持日益减少的情况下、用作为调集私人投资杠杆的公共投资资本。
计划投资部自然资源与环境教育司司长黎越英博士表示,尽管存在一定的障碍,但吸引资本流入越南绿色增长、气候变化和可持续发展的潜力仍有待挖出。
作为政府的综合咨询机构,计划投资部将根据国际国内形势,继续研究并提出总体解决方案,确保国家利益与全球承诺和谐,为未来绿色增长疏通资源。2021年,政府批准了绿色增长行动计划,对细化增长战略发挥了重要作用。该行动计划明确制定了实现整个经济体的经济社会和环境目标的路线图,并与越南到2050年实现净零排放的承诺相一致。
计划中的各项任务和行动是基于选择考虑到所有技术上可行的解决方案的累积影响的高绿色增长情景计算和构建的,其中强调具有共同利益、在执行能力方面准备就绪、确保长期成本效益平衡并且具有辐射效应的优先任务和解决方案,而不是仅仅考虑经济上可行的解决方案的累积影响。
2022年,中央财政将提供约500亿越南盾,各地也将拨出数百亿越南盾,支持企业应用技术,将生产模式朝着绿色循环方向转型。这些是越南企业利用优势,实现生产经营模式转型,满足新形势要求的重要前提和基础。(完)
Triển khai chiến lược tăng trưởng xanh
01:30 |Thực hiện Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh
giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn 2050 (Chiến lược) là cơ hội lớn để Việt Nam có thể
trở thành quốc gia tiên phong trong khu vực về tăng trưởng xanh, phục hồi xanh,
bắt kịp xu thế phát triển của thế giới.
Trong các nhiệm vụ cụ thể thúc đẩy tăng trưởng xanh
được tích cực triển khai trong thời gian tới, Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho biết, sẽ
chủ trì hướng dẫn xây dựng kế hoạch hành động tăng trưởng xanh cấp ngành và địa
phương. Đồng thời, tập trung xây dựng và hoàn thiện thể chế, chính sách liên
quan đầu tư-doanh nghiệp; xây dựng cơ chế giám sát, đánh giá, báo cáo thực hiện
Chiến lược và các công cụ quản lý hỗ trợ thực hiện, nhất là xây dựng bộ chỉ
tiêu quốc gia về tăng trưởng xanh và thúc đẩy huy động nguồn lực, điều phối các
nguồn tài trợ trong nước và nước ngoài.
Đối
mặt nhiều thách thức, rào cản
Chia sẻ bài học kinh nghiệm thực hiện tăng trưởng
xanh ở địa phương trong hội thảo “Thúc đẩy tăng trưởng xanh hướng tới phát triển
bền vững: Kết nối tầm nhìn quốc gia với hành động của địa phương và doanh nghiệp”
do Tạp chí Kinh tế và Dự báo (cơ quan của Bộ Kế hoạch và Đầu tư) tổ chức mới
đây, bà Nguyễn Thị Như Quỳnh đến từ phường Xuân Tăng, thành phố Lào Cai, tỉnh
Lào Cai cho biết, đó là kết quả của nhiều giải pháp đồng bộ. Cụ thể là bổ sung
xây dựng chính sách phát triển nông nghiệp hàng hóa với nội dung tập trung giải
quyết vấn đề tích tụ đất đai, cho thuê đất, góp vốn bằng quyền sử dụng đất.
Các địa phương căn cứ tiềm năng, lợi thế và điều kiện
thực tế của mình để phát triển các sản phẩm đặc sản của địa phương gắn với xây
dựng nông thôn mới theo mô hình Mỗi xã một sản phẩm (OCOP). Bên cạnh đó, không
thể thiếu các giải pháp bảo vệ môi trường sinh thái, cảnh quan, thích ứng biến
đổi khí hậu thông qua phát triển cảnh quan nông thôn gắn với làng sinh thái,
phát huy lợi thế từng địa phương, xây dựng hệ sinh thái kinh tế nông thôn... Từ
góc độ doanh nghiệp, ông Nguyễn Trung Anh, Giám đốc Nghiên cứu Phát triển Tập
đoàn PAN cho rằng, tầm nhìn và sự quyết tâm của đội ngũ lãnh đạo là yếu tố rất
quan trọng để doanh nghiệp đi theo con đường phát triển bền vững. Ngoài ra, cần
tìm được đối tác sẵn sàng đồng hành, chia sẻ với doanh nghiệp và yếu tố quan trọng
khác là sự đồng lòng của người lao động.
Là một trong những doanh nghiệp đầu tiên xây dựng bộ
chỉ số về phát triển bền vững, PAN thu về kết quả khá tích cực, thể hiện ở việc
xuất khẩu thành công hàng hóa đến hơn 40 quốc gia, trong đó có những thị trường
khó tính như Nhật Bản, Liên minh châu Âu (EU), Mỹ... và nhận được đầu tư từ những
đối tác lớn. Thế nhưng, đó không phải là hành trình dễ dàng, vì trong quá trình
triển khai, Tập đoàn phải đối mặt với nhiều khó khăn ngay từ vấn đề nhận thức,
yếu tố môi trường kinh doanh đến chi phí đầu tư.
Tại hội thảo, các chuyên gia nêu những con số đáng
chú ý: Nếu không bảo vệ môi trường, ước tính giá phải trả cho môi trường bị hủy
hoại và ô nhiễm là khoảng 6-7% GDP và tăng lên 8-10% nếu tính cả chi phí y tế để
chữa bệnh cho người dân. Do đó, ngay cả khi tăng trưởng GDP đạt mức 8%-9% cũng
sẽ không có ý nghĩa nếu không phát triển xanh, bền vững.
Khơi
thông các nguồn lực
Ngay từ năm 2012, Chính phủ đã ban hành Chiến lược
quốc gia về tăng trưởng xanh thời kỳ 2011-2020, tầm nhìn 2050. Sau gần 10 năm
triển khai Chiến lược, nhận thức của người dân, cộng đồng về vai trò, ý nghĩa của
tăng trưởng xanh đã được nâng lên rõ rệt, từng bước thay đổi hành vi sản xuất,
sinh hoạt. Đã xuất hiện nhiều mô hình sản xuất và tiêu dùng tiết kiệm, an toàn,
văn minh, mang đậm bản sắc dân tộc, hài hòa và thân thiện với thiên nhiên...
Tuy nhiên, trong bối cảnh mới, chuyển đổi nền kinh tế
theo hướng tăng trưởng xanh ở Việt Nam vẫn còn nhiều khó khăn và thách thức do
vấn đề này chưa nhận được sự quan tâm đúng mức của nhiều bộ, ngành, địa phương
và doanh nghiệp. Đáng lưu ý, nguồn lực cho tăng trưởng xanh còn hạn chế, nhất
là nguồn vốn đầu tư công để thực hiện vốn mồi làm đòn bẩy cho huy động đầu tư
tư nhân trong bối cảnh hỗ trợ từ các tổ chức quốc tế đang giảm dần.
Tiến sĩ Lê Việt Anh, Vụ trưởng Giáo dục Tài nguyên
và Môi trường, Bộ Kế hoạch và Đầu tư nhận định: Mặc dù đang tồn tại một số rào
cản nhất định nhưng tiềm năng thu hút dòng vốn cho tăng trưởng xanh, biến đổi
khí hậu và phát triển bền vững cho Việt Nam là rất lớn.
Với vai trò là cơ quan tham mưu tổng hợp cho Chính
phủ, Bộ Kế hoạch và Đầu tư sẽ tiếp tục nghiên cứu và đề xuất những giải pháp tổng
thể bảo đảm hài hòa lợi ích quốc gia và cam kết toàn cầu, phù hợp bối cảnh quốc
tế và trong nước để khơi thông các nguồn lực cho tăng trưởng xanh trong thời
gian tới. Năm 2021, Chính phủ đã phê duyệt kế hoạch hành động tăng trưởng xanh,
đóng vai trò quan trọng trong việc cụ thể hóa Chiến lược tăng trưởng. Kế hoạch
hành động đã xác định rõ lộ trình nhằm đạt được các mục tiêu về kinh tế-xã hội,
môi trường cho toàn bộ nền kinh tế, đồng thời phù hợp cam kết của Việt Nam về
đưa phát thải ròng về 0 vào năm 2050.
Các nhiệm vụ, hành động tại kế hoạch được tính toán
và xây dựng trên cơ sở lựa chọn kịch bản tăng trưởng xanh cao có tính đến tác động
tích lũy của tất cả các giải pháp khả thi về kỹ thuật, trong đó nhấn mạnh các
nhóm nhiệm vụ, giải pháp ưu tiên có tính đồng lợi ích, sẵn sàng về năng lực thực
thi, bảo đảm cân đối chi phí-lợi ích trong dài hạn và có khả năng lan tỏa, thay
vì chỉ tính đến tác động tích lũy của các giải pháp có tính khả thi về kinh tế.
Năm 2022, ngân sách Trung ương hỗ trợ khoảng 50 tỷ đồng và các địa phương cũng dành hàng chục tỷ đồng để hỗ trợ cho các doanh nghiệp ứng dụng công nghệ, chuyển đổi mô hình sản xuất theo hướng xanh và tuần hoàn. Đây là những tiền đề và nền tảng quan trọng để các doanh nghiệp Việt Nam tận dụng, chuyển đổi mô hình sản xuất, kinh doanh của mình đáp ứng yêu cầu tình hình mới .
越南努力减少海洋塑料污染
05:48 |作为一个拥有3260公里海岸线的国家,海洋环境在越南的粮食安全、扶贫和经济发展中发挥着重要作用。
越南广治省成功清除2.75亿平米地雷污染土地越南无塑料污染海洋创意设计运动启动外国驻越南大使馆和国际组织签署《关于防止塑料污染》的行为规范
目前,越南是一个海洋塑料垃圾率较高的国家,加上水污染,预计到
2035 年其对越南国内生产总值
(GDP)造成损失可达
3.5%,同时预计到
2030 年,气候变化和自然灾害将影响越南
GDP 的
11%。
国际自然保护联盟
(IUCN) 越南海洋和海岸项目协调员裴氏秋贤(Bùi
Thị Thu Hiền)女士认为,一次性塑料的易用性以及人们认识不足是导致将塑料废物排放到环境、水域,从而流入海洋环境的主要原因。
来自斯德哥尔摩国际水研究所(SIWI)的高级管理员Ruth Mathews 女士指出,为了实施从源头上排放入海洋的废物管理,今后越南需要集中精力建设各地方的能力,在自然资源管理和经济发展方面能够应用综合方法。与此同时,强化与实施从源头到海洋的塑料废物管理方法相关的机遇和挑战。
谈到防止向海洋排放垃圾行为的解决方案,来自越南岘港大学的乔氏敬(Kiều
Thị Kính)博士认为,目前需要连接来自项目、管理机构、协会和工会的资源;实施减少塑料废物战略;对减少塑料废物的有效性进行独立评估和定期监督。
此外,乔氏敬博士还建议应用试点模型,例如:按量收集垃圾;扩大制造商责任;推广学校里的“我的绿色室”运动;构建低成本解决方案等。
环保专家一致认为,生活固体垃圾是一个复杂的问题,涉及多个领域和多个地方。因此,从管理模式、垃圾处理技术模式提出同步解决方案,以控制和解决垃圾造成的环境污染,进而彻底治理污染问题是一个非常紧迫的课题。
Việt Nam tăng cường quản lý giảm ô nhiễm rác thải nhựa đại dương
02:46 |Là một quốc gia có đường bờ biển dài 3.260 km, môi
trường đại dương đóng vai trò quan trọng đối với an ninh lương thực, xóa đói giảm
nghèo, phát triển kinh tế ở Việt Nam.
Tuy nhiên, Việt Nam hiện đối mặt với tốc độ đáng báo
động về suy thoái môi trường và cạn kiệt nguồn nước.
Thách
thức trong quản lý chất thải rắn
Hiện tại, Việt Nam là nước có tỷ lệ rác thải nhựa đại
dương cao, cộng với ô nhiễm nguồn nước nên dự kiến Việt Nam thiệt hại 3,5% tổng
sản phẩm nội địa (GDP) vào năm 2035, cùng với đó là dự báo biến đổi khí hậu và
thiên tai sẽ ảnh hưởng tới 11% GDP của Việt Nam đến năm 2030.
Tác động tiêu cực các hoạt động phát triển của con
người đến môi trường, các hệ sinh thái trên lưu vực sông và ở vùng bờ biển ngày
càng nhiều, đặc biệt khi dân số, nhu cầu tiêu thụ tài nguyên ngày càng gia
tăng.
Lưu vực sông Vu Gia-Thu Bồn và vùng bờ Quảng Nam-Đà
Nẵng đóng vai trò quan trọng đối với đời sống và phát triển kinh tế-xã hội của
tỉnh Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng.
Bên cạnh nguồn tài nguyên nước, lưu vực sông Vu
Gia-Thu Bồn và vùng bờ Quảng Nam-Đà Nẵng còn rất nhiều tài nguyên khác như
khoáng sản, rừng, nguồn lợi thủy sản, du lịch... làm cơ sở cho đẩy mạnh phát
triển kinh tế, du lịch, tiềm năng phát triển thủy điện… Đây chính là những động
lực cho tăng trưởng vùng kinh tế trọng điểm miền Trung và trở thành hình mẫu
cho tương lai phát triển chuỗi đô thị miền Trung (đô thị hướng biển).
Theo bà Bùi Thị Thu Hiền, điều phối viên Chương
trình Biển và Vùng bờ, Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên quốc tế (IUCN) tại Việt Nam,
trong quá trình khảo sát thực địa tại lưu vực và vùng bờ trên, nghiên cứu nhận
thấy công tác quản lý chất thải rắn còn kém hiệu quả.
Việc dễ dàng sử dụng nhựa dùng một lần cùng với mức
độ nhận thức thấp của người dân là các lý do chính dẫn đến phát thải rác nhựa
ra môi trường, vùng nước và từ đó ra môi trường đại dương. Các bên tái chế
không chính thức (thu gom, mua, bán đồng nát) chỉ thu gom rác thải nhựa có giá
trị cao, không có tác động đáng kể đối với giảm phát thải nhựa tại nguồn.
Hiện nay, các bãi rác thải tại các khu vực trên đều
không còn nhiều diện tích để chứa rác, dẫn đến nguy cơ cao phát thải rác thải rắn,
đặc biệt là rác thải nhựa ra môi trường, từ đó ra các vùng nước và môi trường
biển. Ngoài ra, phân bổ tài chính cho các quận, huyện để tổ chức, quản lý rác
thải đúng cách còn thiếu. Khu vực nông thôn và miền núi vẫn còn vấn nạn đổ rác
trái phép ra đất trống, bờ sông, bờ biển. Đồng thời, tại các khu vực này, việc
sử dụng túi, bao bì nhựa dùng một lần có xu hướng tăng cao do tiện lợi, giá
thành thấp, dẫn đến gia tăng rác thải nhựa dễ đi vào môi trường và các đường thủy.
Bên cạnh đó, nghiên cứu của Tổ chức Bảo tồn Thiên
nhiên quốc tế tại Việt Nam chỉ ra rằng, ở khu vục này, các dịch vụ chất thải rắn
sinh hoạt ở đô thị chưa tích hợp việc phân loại nhựa, các vật liệu tái chế. Các
cơ sở thu gom cũng không thu nhận vật liệu nhựa có giá trị thị trường thấp,
không có giá trị.
Hiện, lượng lớn rác thải rắn từ thượng nguồn lưu vực
sông Vu Gia-Thu Bồn đang gây ảnh hưởng đến các cộng đồng ở hạ nguồn thuộc tỉnh
Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng, đặc biệt là vào mùa mưa, mùa lũ. Cùng với đó,
nhận thức của người dân về rác thải đổ ra biển và ô nhiễm nhựa còn thấp; các
khung quy định và chính sách nhằm hạn chế, giảm thiểu sản xuất và sử dụng nhựa
(đặc biệt là nhựa dùng một lần) chưa được thực thi.
Thạc sỹ Đặng Nguyễn Thục Anh, Sở Tài nguyên và Môi
trường thành phố Đà Nẵng, cho biết những năm gần đây, thực trạng các hoạt động
phát triển kinh tế mạnh mẽ cùng với cách tiếp cận quản lý tài nguyên nước chưa
hoàn toàn phù hợp đang trở thành yếu tố làm suy giảm chức năng của lưu vực, là
yếu tố có thể gây trở ngại cho phát triển kinh tế-xã hội của thành phố Đà Nẵng
và tỉnh Quảng Nam trong tương lai. Đồng thời, việc phát triển thủy điện, mâu
thuẫn trong phân bổ và sử dụng nguồn nước giữa thủy điện và các ngành liên quan
chưa được giải quyết thỏa đáng. Bên cạnh đó, sự thay đổi lớn về chế độ dòng chảy
tự nhiên theo chiều hướng bất lợi, tăng khả năng đe dọa lũ mùa mưa, thiếu nước
và xâm nhập mặn sâu hơn mùa khô.
Cùng với đó, việc phần lớn lượng phù sa và bùn cát vận
chuyển xuống hạ du và vùng bờ đã bị thay đổi, làm mất cân bằng động lực dòng
sông, dòng hải văn ven bờ, là một trong những nguyên nhân chính làm gia tăng
quá trình sạt lở bờ sông và xâm thực bờ biển.
Ngoài ra, nạn phá rừng đầu nguồn, khai thác vàng và
cát, sỏi trái phép trên sông cũng là những tác nhân gây nên sự suy thoái và cạn
kiệt nguồn nước, gây biến đổi dòng chảy, xói lở bờ sông, ảnh hưởng lớn không chỉ
cho nguồn nước mà còn đến hệ sinh thái tự nhiên…
Trong thời gian tới, Ủy ban Nhân dân tỉnh Quảng Nam
và Ủy ban Nhân dân thành phố Đà Nẵng sẽ thành lập Ban Điều phối chung để giải
quyết các vấn đề liên tỉnh, liên vùng trong quản lý lưu vực sông Vu Gia-Thu Bồn
và vùng bờ Quảng Nam-Đà Nẵng.
Cần
giải pháp đồng bộ
Để triển khai quản lý rác thải đổ ra biển từ nguồn,
theo bà Ruth Mathews, Quản lý cấp cao Viện nước Quốc tế Stockholm, vai trò trước
mắt của chính phủ các quốc gia là tăng cường năng lực thể chế để cải thiện công
tác quản lý các hệ sinh thái nước ngọt và nước ngầm, xem xét các mối liên kết hệ
thống từ nguồn tới biển và mối liên kết với các lĩnh vực khác.
Thời gian tới, Việt Nam cần tìm hiểu rõ hơn về các hạn
chế đối với phát triển bền vững tại địa phương; tăng cường nhận thức về mối
liên hệ giữa các hoạt động thượng nguồn-hạ nguồn và tác động của các hoạt động
này; xây dựng năng lực của địa phương để áp dụng cách tiếp cận toàn diện đối với
quản lý tài nguyên thiên nhiên và phát triển kinh tế; làm nổi bật các cơ hội,
thách thức liên quan đến việc thực hiện phương pháp quản lý từ nguồn tới biển.
Đề xuất giải pháp ngăn chặn rác thải ở biển, điển
hình ở Hội An (Quảng Nam), Tiến sỹ Kiều Thị Kính, Đại Học Đà Nẵng, cho rằng trước
hết cần kết nối các nguồn lực từ các dự án, cơ quan quản lý, các hội-đoàn thể;
thực hiện Chiến lược về giảm rác nhựa; thực hiện đánh giá độc lập, giám sát định
kỳ, đánh giá tính hiệu quả trong công tác giảm rác thải nhựa. Ngoài ra, các cơ
quan quản lý cần áp dụng mô hình ký gửi đối với du khách khi đến Hội An (du
khách tham gia tour cần đóng tiền bảo lãnh để được phát một số đồ dùng cá nhân
thân thiện với môi trường, sau khi kết thúc tour sẽ trả lại).
Bên cạnh đó, Tiến sỹ Kiều Thị Kính cũng đề xuất cần
áp dụng các mô hình thí điểm như: thu gom rác theo khối lượng; mở rộng trách
nhiệm nhà sản xuất; “Ngôi nhà xanh của em” trong trường học; xây dựng giải pháp
chi phí thấp... Các chuyên gia về môi trường đều nhận định chất thải rắn sinh
hoạt là vấn đề phức tạp, liên quan đến nhiều lĩnh vực, nhiều địa phương. Do đó,
việc đề xuất được các giải pháp đồng bộ từ mô hình quản lý, mô hình công nghệ xử
lý chất thải nhằm kiểm soát, giải quyết được bài toán xử lý triệt để tình trạng
ô nhiễm môi trường do chất thải là vấn đề hết sức cấp thiết.
Chiến lược Quốc gia về quản lý tổng hợp chất thải rắn đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2050, đã đặt mục tiêu đến năm 2025, 90% tổng lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh tại các đô thị được thu gom và xử lý đáp ứng yêu cầu về bảo vệ môi trường. Tất cả các đô thị loại đặc biệt và loại I, 85% các đô thị còn lại có công trình tái chế chất thải rắn phù hợp với việc phân loại tại hộ gia đình. Do vậy, để đạt được các mục tiêu trên, thời gian tới, các chuyên gia nhấn mạnh cần có hệ thống quản lý chất thải rắn hiện đại, công nghệ và kết cấu hạ tầng mới, đặc biệt phải có tài chính bền vững và mức thu phí chất thải hợp lý./.
昏果岛的历史、自然条件与发展潜力
07:43 |昏果岛是广治省昏果县的沿岸岛屿,距离海岸15海里,总面积约2.2平方公里,人口约400余人。这是经济社会与国防安全领域上的战略要冲,是维护国家领土主权的重要前哨,也是确定越南领海基线的基础之一。
地理上,昏果岛平均海拔7-10米。岛上有两个高地:东部的37号高地(平均海拔约37米),西部平均海拔63米的高地。昏果岛又称草屿、老虎岛。
据考古学家称,公元初期,昏果岛被越南人所发现并确定管辖权力。岛上码头发现了曾经在此居住的越南人所使用的石器工具。十七世纪到十八世纪,大越居民在交流经商之路上将昏果岛视为落脚点之一。阮朝时期,相传这里还是囚禁囚犯的地方。1954年日内瓦协议签署之后,昏果岛成为无人岛。1959年,面临美帝国主义者入侵占领的背景下,永灵特区270号团下属单位由杨德善少尉指挥的12.7毫米高射机枪排冲在浪尖上岛守护。1959年8月8日11时整,金星红旗再到上飘扬,再次肯定了越南对昏果岛的神圣主权。抗美救国战争中,昏果岛与永灵铁一般的堡垒一样,成为革命英雄主义精神的象征,东海上永远不会被屈服的“战舰”,成为英雄岛屿并得到胡伯伯致信夸奖。
昏果岛地质上具有很高的价值,景观丰富多样,距离海岸不太远,具有极大的旅游发展潜力。昏果岛被看做是独特的自然博物馆,奇特的玄武岩以及纯自然的沙滩,海水清澈、水温较高,非常适合旅游度假。与此同时,岛上森林也非常丰富,包括花草、植被、藤蔓三层植物。此外,昏果岛还是广治省一系列著名的历史圣地之一,与抗美救国战争密切联系,诸如:麦克那马拉线、永木地道、贤良桥、九号公里烈士陵园、长山烈士陵园等。
由于昏果岛在国防安全具有极为重要的战略意义,并且在经济、旅游服务业、农林渔业等领域上具有极大的发展潜力,我国政府于2004年10月1日颁布了174/2004/ND-CP号议定书,设立广治省昏果岛县,并将昏果岛建设成为祖国前哨旅游岛屿。昏果岛县建立之后,在政府和广治省的关心领导和大量投入之下,加上昏果岛县党部、政府、军民共同努力,昏果岛逐步肯定自己的定位,不断发展壮大,无愧是东海上文化旅游“明珠”。(完)
Lịch sử, điều kiện tự nhiên và tiềm năng phát triển của đảo Cồn Cỏ
06:41 |Cồn Cỏ là hòn đảo ven bờ và là huyện đảo cùng tên
thuộc tỉnh Quảng Trị, cách đất liền khoảng 15 hải lý, có diện tích khoảng 2,2
km2, dân số trên 400 người. Đây là địa bàn có vị trí chiến lược cả về kinh tế -
xã hội và quốc phòng, an ninh; là tiền đồn quan trọng bảo vệ chủ quyền lãnh thổ
của Tổ quốc và là một trong những điểm mốc để xác định đường cơ sở của lãnh hải
Việt Nam.
Về kiến tạo địa lý, đảo Cồn Cỏ có độ cao trung bình
từ 07 m - 10 m so với mực nước biển, trên đảo có 02 điểm cao nhất là điểm phía
Đông - Điểm cao 37 (cao khoảng 37 m) và điểm phía Tây nằm gần chính giữa đảo
(cao hơn 63 m). Đảo Cồn Cỏ còn có tên gọi khác là: Hòn Cỏ, Thảo Phù, Con Hổ hay
Hòn Mệ.
Theo các nhà khảo cổ học, vào những thế kỷ đầu công
nguyên, đảo Cồn Cỏ được cư dân người Việt khám phá và đặt nền móng cho sự xác lập
quyền quản lý. Điều đó được minh chứng, khi tại khu vực Bến Nghè đã tìm thấy
nhiều công cụ bằng đá của cư dân Việt đã từng sinh sống tại đây. Trong khoảng
thế kỷ XVII - XVIII, trên con đường giao lưu buôn bán, cư dân Đại Việt coi Cồn
Cỏ là một điểm dừng chân. Dưới thời nhà Nguyễn, tương truyền nơi đây còn được
dùng để giam giữ những người có tội.
Sau hiệp định Giơnevơ (1954), đảo Cồn Cỏ chưa có dân
sinh sống. Đến năm 1959, trước âm mưu của đế quốc Mỹ và chính quyền tay sai lăm
le chiếm đảo, được lệnh của trên, Trung đội súng máy phòng không 12,7 mm của
Trung đoàn 270 thuộc Đặc khu Vĩnh Linh do Thiếu úy Dương Đức Thiện chỉ huy đã vượt
sóng ra giữ đảo. Đúng 11 giờ ngày 08/8/1959, lá cờ đỏ sao vàng được cắm lên
trên đảo, một lần nữa khẳng định chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của Việt Nam.
Trong những năm kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, cùng với lũy thép Vĩnh Linh, Cồn
Cỏ đã trở thành biểu tượng sáng ngời của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, tượng
đài bất khuất sừng sững giữa biển khơi - chiến hạm không bao giờ bị đánh chìm
trên Biển Đông - Đảo Anh hùng và được Bác Hồ gửi thư khen.
Đảo Cồn Cỏ có giá trị về địa chất cùng hệ sinh thái
và cảnh quan đa dạng, lại không quá xa bờ, có tiềm năng du lịch hết sức phong
phú, đa dạng. Đảo được ví như một bảo tàng thiên nhiên độc đáo, với các thềm đá
bazan kỳ vĩ cùng các bãi tắm nhỏ hoang sơ được tạo thành từ những đụn cát, san
hô, sò điệp và những mùa tắm kéo dài khi nước biển ở đây luôn trong và ấm. Cùng
với đó, rừng trên đảo cũng là khá hiếm của đảo núi lửa ở Việt Nam với ba tầng
cây cỏ, dây leo và thảm thực vật phong phú. Ngoài ra, Cồn Cỏ nằm trong chuỗi địa
danh lịch sử nổi tiếng của tỉnh Quảng Trị, gắn liền với cuộc kháng chiến chống
Mỹ, cứu nước hào hùng của dân tộc, như: hàng rào Macnamara, địa đạo Vĩnh Mốc, cầu
Hiền Lương, nghĩa trang Liệt sĩ Đường 9, nghĩa trang Liệt sĩ Trường Sơn, v.v.
Do có vị trí chiến lược về quốc phòng, an ninh cũng như tiềm năng, lợi thế trong phát triển kinh tế, dịch vụ du lịch, lâm, nông, thủy sản,… ngày 01/10/2004, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 174/2004/NĐ-CP về việc thành lập huyện đảo Cồn Cỏ (thuộc tỉnh Quảng Trị) và xây dựng thành đảo du lịch - đảo tiền tiêu của Tổ quốc. Sau khi thành lập, được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, đầu tư của Trung ương và tỉnh Quảng Trị, cùng sự nỗ lực vượt khó của Đảng bộ, chính quyền, quân và dân trên đảo, Cồn Cỏ đã, đang tự khẳng định mình và có bước phát triển mạnh mẽ, vững chắc, xứng đáng là “hòn ngọc” - đảo văn hóa, du lịch - mắt thần trên Biển Đông - đảo tiền tiêu của Tổ quốc.
绿色经济发展的新纪元
08:48 |尽管与发达国家相比,越南的能力、水平和资源仍然有限,
但越南在努力将经济转向绿色增长中步入新阶段,
设立高端的战略目标和国际承诺。
政府批准了《 2021-2030 年阶段国家绿色增长战略及至2050年展望》、
国家绿色增长行动计划和最近成立的国家绿色增长指导委员会,
为绿色经济发展新时代确立了重要里程碑。
确定关键问题
除了选择性继承《2011-2020年绿色增长战略》成果外,《2021-2030年绿色增长战略》还增加了许多新的方面,包括科技、创新、数字技术应用、数字化转型和社会方面等。
与该战略同时实施的一项特别重要的内容是越南在联合国气候变化框架公约第
26 次缔约方大会(COP 26)上承诺至2050年实现净零排放。这一目标主要通过强有力、低排放的能量转换来的,而第一个重要变化是朝着逐步减少对燃煤发电的依赖、高度优先发展可再生能源的方向,研究提出对八号电力规划草案进行调整和更新的方案。
关于这个问题,越南工贸部电力和可再生能源司司长黄进勇表示,越南在COP
26上的承诺彻底改变了对未来电力发展的看法。因此,第八号电力总体规划草案虽然之前已提交总理批准,但必须根据COP
26承诺的目标对至2045年电力发展计划进行更新和调整。其迫使能源向绿色增长的转变过程要满足确保国家中长期能源安全的要求,确定国家最优先和可持续的能源结构;大力吸引能源基础设施投资;破除瓶颈,促进更为清洁、绿色、可再生能源发展。同时,要进一步提高能源利用效率,降低经济用能和用电强度,为所有社会群体和人民都有机会以合理价格用电、从可持续能源中受益创造条件。
越南计划投资部副部长阮氏碧玉强调,能源转型绿色和可持续的方向是必然和不可逆转的趋势。能源的高效利用在能源向绿色和可持续的转型中非常重要,因此要在全国范围内采取更积极的措施,并加强地方能力。越南这一转型过程需要得到国际组织、繁荣伙伴和世界大型企业的充分陪伴和支持;具有巨大的政治决心、有关部门的同步和全面协调、民众和企业界的共识。
需要调集大量资源
随着针对每项具体任务和活动的计划和政策的大规划,绿色经济增长所需调集的资源规模也开始计算和公布。
同时,越南自然资源和环境部气候变化司表示,越南需要约1000亿美元来适应气候变化,到2050年实现净排放量为零需要3730亿美元。因此,除了内部资源,需要通过强有力的资金和技术支持,加强与繁荣伙伴的合作。
COP26会议结束后,繁荣伙伴和国际金融机构表达了合作的愿望和承诺,并愿与越南政府一道履行承诺。世行专家拉胡尔•基奇卢先生表示,世行愿意通过知识共享、国际经验和低成本资本调动为能源转型、气候变化、帮助越南高效、可持续地向绿色能源转型提供支持。
为绿色增长调集和分配资源是新时代有效实施绿色增长战略的重要任务。 2021-2030年期间的资源结构来自国家预算、国际金融支持,包括官方发展援助 (ODA)、支持资本和绿色增长优惠贷款。在资源结构上,还有商业贷款和绿色信贷、绿色公司债券等私人投资;用于绿色增长的外国直接投资(FDI)、温室气体排放配额和碳信用的交换收入,以及其他社会资本来源,如绿色项目筹集公私资金、实现绿色增长的国内投资基金,减少和适应气候变化。(完)
Kỷ nguyên mới cho phát triển kinh tế xanh
08:37 |Mặc dù năng lực, trình độ và nguồn lực còn nhiều hạn
chế so với các quốc gia phát triển nhưng Việt Nam đang bước vào giai đoạn mới
trong nỗ lực chuyển dịch nền kinh tế theo hướng tăng trưởng xanh với những mục
tiêu chiến lược và cam kết quốc tế rất cao.
Những dấu mốc quan trọng cho kỷ nguyên mới về phát
triển kinh tế xanh đang được thiết lập thông qua việc Chính phủ phê duyệt Chiến
lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn 2050 (Chiến lược);
Kế hoạch hành động quốc gia về tăng trưởng xanh và gần đây nhất là thành lập
Ban Chỉ đạo quốc gia về tăng trưởng xanh.
Xác
định những vấn đề then chốt
Bên cạnh việc kế thừa có chọn lọc những thành tựu của
Chiến lược tăng trưởng xanh giai đoạn 2011-2020, Chiến lược tăng trưởng xanh của
giai đoạn 2021-2030 được bổ sung nhiều khía cạnh mới, bao gồm khoa học-công nghệ,
đổi mới sáng tạo, ứng dụng công nghệ số, chuyển đổi số và một số khía cạnh xã hội.
Một nội dung đặc biệt quan trọng được thực hiện song
hành với Chiến lược là cam kết của Việt Nam về đạt mức phát thải ròng bằng 0
vào năm 2050 tại Hội nghị lần thứ 26 các bên tham gia Công ước khung của Liên hợp
quốc về biến đổi khí hậu (COP 26). Mục tiêu này được thực hiện chủ yếu thông
qua chuyển đổi năng lượng mạnh mẽ, phát thải thấp và thay đổi quan trọng đầu
tiên là những nghiên cứu, đề xuất phương án điều chỉnh, cập nhật dự thảo Quy hoạch
điện VIII theo hướng giảm dần phụ thuộc nhiệt điện than, dành sự ưu tiên cao
cho phát triển năng lượng tái tạo với cơ cấu và sự phân bố hợp lý.
Thông tin về vấn đề này, ông Hoàng Tiến Dũng, Cục
trưởng Ðiện lực và Năng lượng tái tạo (Bộ Công thương) cho biết, cam kết của Việt
Nam tại COP 26 đã làm thay đổi hoàn toàn quan điểm phát triển điện lực trong
tương lai. Vì vậy, dự thảo Quy hoạch điện VIII mặc dù trước đó đã trình Thủ tướng
Chính phủ phê duyệt nhưng phải hiệu chỉnh lại toàn bộ phương án phát triển điện
tới năm 2045 để cập nhật, điều chỉnh theo mục tiêu cam kết tại COP 26. Các yêu
cầu mới buộc quá trình chuyển dịch năng lượng theo hướng tăng trưởng xanh phải
đáp ứng các yêu cầu về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia trong trung và dài hạn;
xác định cơ cấu năng lượng tối ưu và bền vững của đất nước; thu hút mạnh mẽ đầu
tư vào cơ sở hạ tầng năng lượng; tháo gỡ các điểm nghẽn, thúc đẩy phát triển
các nguồn năng lượng sạch hơn, xanh hơn và các nguồn năng lượng tái tạo. Ðồng
thời phải nâng cao hơn nữa hiệu quả sử dụng năng lượng, giảm cường độ sử dụng
năng lượng và sử dụng điện của nền kinh tế, tạo điều kiện để các đối tượng
trong xã hội, mọi tầng lớp nhân dân đều được tiếp cận và thụ hưởng lợi ích từ
các chính sách phát triển năng lượng bền vững với chi phí hợp lý.
Nêu những vấn đề then chốt để chuyển dịch năng lượng
theo hướng tăng trưởng xanh, tiến tới hiện thực hóa khát vọng tăng trưởng xanh
của nền kinh tế, Thứ trưởng Kế hoạch và Ðầu tư Nguyễn Thị Bích Ngọc nhấn mạnh:
Chuyển dịch năng lượng theo hướng xanh, bền vững là xu thế tất yếu và không thể
đảo ngược. Việc sử dụng năng lượng hiệu quả là hết sức quan trọng trong chuyển
dịch năng lượng theo hướng xanh, bền vững nên cần có các biện pháp chủ động hơn
nữa trên phạm vi toàn quốc cũng như tăng cường năng lực tốt hơn cho địa phương.
Quá trình chuyển dịch này của Việt Nam cần nhận được sự đồng hành và hỗ trợ thỏa
đáng từ các tổ chức quốc tế, các đối tác phát triển và doanh nghiệp lớn của thế
giới; với quyết tâm chính trị lớn; sự phối hợp đồng bộ, toàn diện từ tất cả các
bên liên quan; sự đồng lòng của người dân và cộng đồng doanh nghiệp.
Cần
huy động nguồn lực lớn
Cùng với những hoạch định lớn về phương án, chính
sách cho từng nhiệm vụ và hoạt động cụ thể, quy mô về nguồn lực cần thiết huy động
cho tăng trưởng kinh tế xanh cũng bắt đầu được tính toán và công bố.
Trong Báo cáo quốc gia về khí hậu và phát triển cho
Việt Nam công bố mới đây, Ngân hàng Thế giới (WB) dự kiến Việt Nam sẽ cần đầu
tư thêm khoảng 6,8% GDP, tương đương 368 tỷ USD từ nay đến năm 2040 để thực hiện
lộ trình phát triển thích ứng khí hậu và phát thải ròng bằng 0. WB cũng lưu ý,
nếu có các chính sách và chiến lược phù hợp, Việt Nam có thể tận dụng những hoạt
động khử carbon của mình để đạt được mục tiêu phát triển sao cho phát thải khí
nhà kính ròng bằng 0 mà không làm giảm tốc độ tăng trưởng GDP. Các cam kết của
Chính phủ có thể và cần được củng cố bằng sự tham gia của khu vực tư nhân trong
nước và thông qua các nguồn lực tài chính nước ngoài, nhà nước và tư nhân.
Trong khi đó, Cục Biến đổi khí hậu (Bộ Tài nguyên và
Môi trường) cho biết, Việt Nam cần thêm khoảng 100 tỷ USD cho thích ứng biến đổi
khí hậu và 373 tỷ USD để đưa mức phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050. Vì vậy,
bên cạnh tinh thần phát huy nội lực cần tăng cường sự hợp tác từ các đối tác
phát triển thông qua những hỗ trợ đủ mạnh về tài chính và kỹ thuật. Sau hội nghị
COP26, các đối tác phát triển, các định chế tài chính quốc tế đã thể hiện mong
muốn và cam kết hợp tác, đồng hành Chính phủ Việt Nam để triển khai thực hiện
các cam kết. Ông Rahul Kitchlu, chuyên gia của WB cho biết, WB sẵn sàng hỗ trợ
Việt Nam trong nỗ lực chuyển dịch năng lượng thông qua hoạt động chia sẻ kiến
thức, kinh nghiệm quốc tế và huy động nguồn vốn chi phí thấp dành cho biến đổi
khí hậu, giúp Việt Nam chuyển dịch năng lượng xanh hiệu quả, bền vững.
Huy động và bố trí nguồn lực cho tăng trưởng xanh là nhiệm vụ quan trọng, có tính chất quyết định đến hiệu quả thực thi chiến lược tăng trưởng xanh trong kỷ nguyên mới. Cơ cấu nguồn lực cho giai đoạn 2021-2030 được huy động từ ngân sách nhà nước, nguồn tài chính hỗ trợ quốc tế, gồm vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA), vốn hỗ trợ và vay ưu đãi cho tăng trưởng xanh. Trong cơ cấu nguồn lực còn có vốn vay thương mại và đầu tư tư nhân thông qua các khoản cấp tín dụng xanh, trái phiếu doanh nghiệp xanh; vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) cho tăng trưởng xanh, thu từ trao đổi hạn ngạch phát thải khí nhà kính và tín chỉ carbon và nguồn vốn cộng đồng, vốn xã hội khác như vốn huy động công-tư cho các dự án xanh, các quỹ đầu tư trong nước nhằm thực hiện mục tiêu tăng trưởng xanh, giảm và thích ứng biến đổi khí hậu.
Hot (焦点)
-
胡志明是二十世纪越南革命杰出的马克思主义思想家。他老人家的思想是马克思列宁主义在符合越南的条件和历史背景基础上的运用、发展与创新,体现着时代精神及现代与当代世界的运动与发展趋势。 1 、胡志明思想、道德、风格体系的道德榜样。他老人家的思想合成了越南革命及革命之路的战略策...
-
为维护国家海岛主权,越南历代封建王朝都着重投资建设强大的水军力量。越南丁、李、陈、黎、阮等王朝的水军力量不断得到加强和完善。这支水军为捍卫祖国事业作出了巨大贡献,在各个阶段留下了历史烙印。 至今还收藏的古籍显示,越南历代封建王朝早已对黄沙群岛和长沙群岛确立主权、实施...
-
1954 年《日内瓦协议》签署之后,越南暂时被分成南北两方不同政治制度的政体。据此,越南北纬 17 度以南的领土(包括黄沙、长沙两群岛)由越南共和国政府管辖。根据《协议》规定,法国殖民者被迫撤离越南之后,西贡政权立即派遣海军力量接管黄沙、长沙两群岛并对其行使主权。与此同时,...
-
(VOVWORLD) - 越南伟大领袖胡志明主席的思想、道德、作风、革命生涯是越南全党、全民学习和实践胡志明道德榜样的生动和具有说服力的楷模。至今,越南开展学习和实践胡志明道德榜样运动已有 8 年并取得多项重要结果。 胡志明主席在其革命生涯中牺牲个人利益,为祖国和人...
-
越南的黄沙群岛位于东海(中国称南海)北边,处于北纬 15°45′ 至 17°15′ 、东经 110° 至 113° ,距越南广义省李山岛约 120 海里。黄沙群岛由 37 多个岛、洲、礁和沙滩组成,分为西面和东面两个群岛。东面为安永群岛(中国称宣德群岛),由 12 个岛、洲...
-
数十年来,中国人拿出大量书籍、资料和史料,企图证明从两千年前的汉朝起,中国人就发现了西沙和南沙(即越南的黄沙群岛和长沙群岛),从而说古代中国发现西沙南沙群岛就足够证明中国对西沙和南沙的不可争议的领土主权。据说,中国人最迟于唐宋发现南沙群岛至今,就一直在岛上及其海域从事生产活...
-
越南对黄沙、长沙两座群岛的主权不仅在越南古籍和古文献中有记载,而且还出现在西方航海家和传教士等的书籍、报纸、地图、日记、航路指南等外国资料中。这些资料描述黄沙、长沙“是越南中部海上的一块沙渚…”,这和越南同一历史时期资料和古地图描述的类似。法国 1936 年在印度支那建立的...
-
BDN - 位于东海边国土陆地呈 “S” 字形的越南,无形中拥有沿着国土走向三千公里海岸及依照 1982 年《联合国海洋法公约》从岸边向外延伸的辽阔海域。这意味着从越南 1982 年 11 月确定和公布的垂直基线算起往外延伸 200 海里宽的海域属越南的主权,被称作专属经济...
-
从十六、十七世纪至今,西方国家的轮船日益频繁来往于东海。他们来到这里,不只为了扩大贸易还为了传教和传播西方文化。在来往东海期间,西方航海家和传教士们以当时最现代的技术很详细地描述和绘画黄沙群岛和长沙群岛,以避免这两个群岛的礁石给来往的船舶造成危害。为此,他们很仔细地研究东海...
-
香港媒体最近透露中国在东海划分“新边界线”的海洋研究项目,为“资源研究”创造了条件,北京对这片海域的主权主张“增添了筹码”。这条新边界线是一条与囊括了蕴藏着丰富矿产和能源资源的东海海域九段线相吻合的实线,九段线内的海域就是北京声索主权的那片海域。 从国际法的角度来看实线...











