Thúc đẩy phát triển các ngành công nghiệp văn hóa
03:26 |Ngành công nghiệp văn hóa là khái niệm mới mẻ ở Việt
Nam, nhưng sản phẩm từ các ngành công nghiệp văn hóa đã hiện hữu rõ nét, đạt được
một số thành quả thông qua các hoạt động văn hóa, nghệ thuật gắn với các lĩnh vực
điện ảnh, thiết kế, thời trang, nghệ thuật biểu diễn, thủ công mỹ nghệ, du lịch
văn hóa…
Dấu
ấn của ngành công nghiệp văn hóa
Gia nhập mạng lưới các thành phố sáng tạo của UNESCO
trong lĩnh vực thiết kế từ năm 2019, Hà Nội đang nỗ lực thực hiện cam kết các mục
tiêu với UNESCO, trong đó có xây dựng và củng cố các không gian sáng tạo. Khai
thác và phát huy giá trị của các không gian sáng tạo là thế mạnh của thành phố
vì Hà Nội đang là nơi tập trung nhiều không gian văn hóa sáng tạo nhất cả nước,
với gần 200 không gian cùng cộng đồng sáng tạo và thực hành nghệ thuật đông đảo.
Nơi này thường xuyên diễn ra các hoạt động trưng
bày, triển lãm, biểu diễn âm nhạc, hội thảo, chiếu phim, thu hút đông các bạn
trẻ và những người yêu văn hóa, nghệ thuật. Có thể kể đến Tổ hợp giải trí đa
năng Complex được tái thiết trên nền Nhà máy in Công đoàn cũ, không gian sáng tạo
về thiết kế 282 Design, Hanoi Creative City, Ago Hub, Manzi, Trung tâm hỗ trợ
và phát triển nghệ thuật đương đại (Vicas Art Studio) thuộc Viện Văn hóa Nghệ
thuật quốc gia Việt Nam là những không gian tổ chức trưng bày nghệ thuật với
nhiều chủ đề, Ơ kìa Hà Nội là điểm hẹn của những người yêu thích văn hóa nghệ
thuật, là không gian lưu giữ những ký ức của Hà Nội thời bao cấp và là câu lạc
bộ dành cho người yêu điện ảnh.
Bên cạnh đó là Phố bích họa Phùng Hưng, Không gian
đi bộ chung quanh hồ Gươm, Không gian văn hóa nghệ thuật Phúc Tân… thường xuyên
diễn ra các sự kiện âm nhạc quy mô, lễ hội âm nhạc, trình diễn nghệ thuật, triển
lãm nghệ thuật thị giác. Hà Nội cũng đã xây dựng được nhiều chương trình có tiếng
vang với cộng đồng quốc tế, thu hút công chúng và khách du lịch đến tham quan
như Lễ hội âm nhạc Gió mùa (Monsoon), Lễ hội đường phố Hà Nội, Lễ hội thiết kế
sáng tạo Hà Nội, Liên hoan múa rối quốc tế Hà Nội, Con đường gốm sứ Hà Nội,
chương trình biểu diễn thực cảnh Tinh hoa Bắc Bộ... là những sản phẩm tiêu biểu
của ngành công nghiệp văn hóa.
Từ sự bùng nổ của các không gian sáng tạo của Hà Nội
cho thấy nó đã mang đến một đời sống văn hóa tinh thần sôi động, phong phú với
nhiều trải nghiệm mới mẻ cho những người yêu văn hóa nghệ thuật, thúc đẩy sự
sáng tạo, trao đổi văn hóa. Tuy nhiên, phần lớn các không gian sáng tạo thuộc sở
hữu tư nhân, do cá nhân hoặc một nhóm nghệ sĩ thành lập. Địa điểm chủ yếu đi
thuê, mô hình hoạt động tự phát, thiếu hụt nguồn vốn, kỹ năng vận hành, kiến thức
sáng tạo, thiếu sự hỗ trợ từ chính quyền… là những rào cản khiến các không gian
văn hóa sáng tạo bộc lộ nhiều hạn chế trong quá trình hoạt động.
Nhìn nhận sự phát triển công nghiệp văn hóa ở 12
lĩnh vực, bà Nguyễn Thị Thu Phương, Viện trưởng Viện Văn hóa nghệ thuật quốc
gia Việt Nam cho biết: Trong 5 năm qua, một số ngành công nghiệp văn hóa như điện
ảnh, nghệ thuật biểu diễn, văn hóa du lịch đóng góp vai trò then chốt trong xây
dựng và quảng bá thương hiệu quốc gia, thông qua các hoạt động xúc tiến, quảng
bá phát triển thương hiệu. Tuy nhiên, chúng ta chưa có nhiều thương hiệu đủ sức
vươn ra thị trường quốc tế.
Đi đầu cả nước trong phát triển công nghiệp văn hóa,
Hà Nội đặt mục tiêu phát triển công nghiệp văn hóa trở thành ngành kinh tế mũi
nhọn. Tuy đang từng bước tạo sức hút từ các sản phẩm công nghiệp văn hóa, sự
phát triển của Hà Nội đang tạo động lực cho các thành phố khác như Hội An (Quảng
Nam), Đà Lạt (Lâm Đồng), Thừa Thiên Huế... chuyển mình mạnh mẽ, phát huy thế mạnh
địa phương, tạo ra những sản phẩm văn hóa đặc sắc, đáp ứng mục tiêu có thêm nhiều
thành phố sáng tạo thuộc Mạng lưới các thành phố sáng tạo của UNESCO.
Cũng như Hà Nội, thành phố Hội An đang xây dựng
thành phố sáng tạo ở lĩnh vực thủ công mỹ nghệ và nghệ thuật dân gian. Với nhiều
sản phẩm du lịch văn hóa đặc trưng được hình thành trên nền tảng chất liệu văn
hóa, lịch sử, cộng đồng, Hội An tập trung phát huy các giá trị văn hóa truyền
thống để hình thành các sản phẩm du lịch, tạo đòn bẩy phát triển kinh tế. Tương
tự, Thành phố Hồ Chí Minh đầy tiềm năng để xây dựng và phát triển ngành công
nghiệp điện ảnh, Đà Lạt tràn đầy cảm hứng để xây dựng thành phố âm nhạc, nghệ
thuật biểu diễn…
Tạo
cơ chế để phát triển
Tại hội thảo “Đánh giá 5 năm thực hiện Chiến lược
phát triển các ngành công nghiệp văn hóa 2016-2021” do Viện Văn hóa Nghệ thuật
quốc gia Việt Nam tổ chức, ý kiến các học giả, các chuyên gia, các nghệ sĩ và
người thực hành sáng tạo bàn luận xoay quanh câu chuyện về thể chế, chính sách,
giải pháp thực tế và nhận thức về vai trò quan trọng của công nghiệp văn hóa.
Chia sẻ quan điểm về khuôn khổ chính sách phát triển
công nghiệp văn hóa, ông Trần Hoàng, Cục trưởng Cục Bản quyền tác giả (Bộ Văn
hóa, Thể thao và Du lịch) cho biết: Câu chuyện phát triển công nghiệp văn hóa
hiện nay vẫn là một bài toán khó. Sự chuyển hóa từ chủ trương ra các chính sách
cụ thể cho sự phát triển công nghiệp văn hóa chưa có đột phá mạnh mẽ, thiếu vắng
các biện pháp thực thi, tạo môi trường pháp lý về bản quyền, dẫn đến nhiều
tranh chấp trong một số lĩnh vực như điện ảnh, nghệ thuật biểu diễn…
Bên cạnh đó là sự thiếu vắng các cơ chế thu hút nguồn
lực đầu tư, đặt ra bài toán khó cho sự phát triển bền vững. Việt Nam chưa có
chiến lược phát triển nguồn nhân lực cho công nghiệp văn hóa, chưa có chính
sách cụ thể cho phát triển công nghiệp văn hóa.
Tiến sĩ Lê Thị Cúc công tác tại Trường đại học Văn
hóa cho rằng: Về cả lý luận và thực tiễn, phát triển công nghiệp văn hóa chỉ mới
ở giai đoạn đầu, công nghiệp văn hóa ở nước ta vẫn còn là một vấn đề mới mẻ. Nhận
thức về giá trị, vai trò của công nghiệp văn hóa còn hạn chế. Để nâng cao nhận
thức cộng đồng về vai trò của các ngành công nghiệp văn hóa ở Việt Nam, Bộ Văn
hóa, Thể thao và Du lịch cần hoàn thiện các văn bản pháp luật về phát triển văn
hóa, nghệ thuật trong cơ chế thị trường, bảo đảm cho công nghiệp văn hóa phát
triển lành mạnh.
Hệ thống trường đại học, cao đẳng cần đẩy mạnh đào tạo
nguồn nhân lực về công nghiệp văn hóa, mở thêm các chuyên ngành, môn học phổ cập
kiến thức công nghiệp văn hóa cho người học. Việc đặt mục tiêu ngành công nghiệp
văn hóa sẽ đóng góp 7% vào tổng GDP năm 2030 trong Chiến lược quốc gia phát triển
các ngành công nghiệp sáng tạo ở Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030
cho thấy đây là thời điểm cần đầu tư mạnh mẽ cho các ngành công nghiệp văn hóa
Việt Nam.
Với tiềm năng dồi dào ở tất cả các lĩnh vực, khi có sự đồng bộ về tư duy, nhận thức và giải pháp cụ thể, các ngành công nghiệp văn hóa ở Việt Nam sẽ phát triển mạnh mẽ, có trọng tâm, kết nối các hoạt động sáng tạo, văn hóa, nghệ thuật với sản xuất, kinh doanh, tạo nên những giá trị bền vững.
在世界复杂多变背景下,越南更强调多边合作
09:23 | (VOV)
- 越南政府常务副总理范平明9月24日在美国纽约出席第77届联合国大会一般性辩论会并发表讲话。讲话中,范平明再次强调越南政府关于重视多边合作的观点,同时呼吁各国本着团结精神加强合作,携手战胜目前相互交织的挑战,实现世界和平与可持续发展的目标。
世界正处在“历史性转折点”,对峙、冲突事件,违反国际法的行为等越来越频繁,说明大国竞争日益加剧,单边主义日益盛行。与此同时,新冠肺炎疫情、气候变化及其他非传统安全危机也正在威胁人类的存亡,延缓了实现可持续发展目标(SDG)的努力。
在此背景下,范平明在联合国大会一般性辩论会上强调,国际社会应根本改变思维,调整对全球性问题的切入方式,其中要将人置于促进发展的所有努力的中心。
加强国际团结与合作,共同应对共同挑战
范平明指出,实际表明,国际团结与合作是克服各种挑战的“关键因素”;因此他提出,各国应扭转对峙趋势,放弃“得失”思维,代之以在开放、包容、公平、互惠基础上促进多边主义和国际合作。据此,联合国宪章和国际法必须得到尊重,其中要特别尊重各国独立、主权和领土完整,通过和平方式解决争端。
与此同时,要建立以联合国为中心的强大且有效的多边机制,要促进形成地区组织发挥不可或缺作用的全球伙伴关系,以应对共同挑战。范平明表示,东盟各国正致力于建设团结强大的共同体,在地区安全架构中发挥中心作用,加强与伙伴方的关系,并努力为地区问题寻求全面的解决方案。
范平明特别强调,要维护东海和平、稳定和航行安全,其中,有关各方要通过和平方式解决争端,尊重符合国际法、联合国宪章及1982年《联合国海洋法公约》的法律和外交程序。
越南特别重视包括联合国在内的多边机制
一般性辩论会上,范平明表示,第32届联合国大会主席拉扎尔·莫伊索夫(Lazar
Mojsov)曾说,“越南加入联合国是巩固世界和平与安全的重要进展”。范平明认为,这句话迄今依旧保持原有的价值,而越南努力维护国际和平与安全,积极参与联合国维和行动,促进平衡、建设性切入方式,共同为国际问题需求长期解决措施,为联合国所有会员国利益而行动等是证明这一观点的铁证。在联合国人权理事会事务中,越南一向促进互相了解、互相尊重及合作与对话,希望得到各国对越南竞选2023至2025年任期联合国人权理事会成员国的支持。
1977年9月20日加入并成为联合国第149个会员国至今,越南一直努力成为本组织可靠且负责任的一员。越南认真执行联合国宪章,致力于捍卫并强调遵守联合国宪章及国际法基本原则的重要性。越南与联合国在基本价值和原则上有着共同的观点,这为双方合作伙伴关系奠定了牢固基础。联合国弘扬的价值也是历代越南人民英勇战斗,甚至不惜牺牲捍卫的价值,那就是和平、民族独立和正义。(完)
Việt Nam đề cao hợp tác đa phương trong bối cảnh thế giới nhiều biến động
07:20 |(VOV5) - Ngày 24/9, Phó Thủ tướng thường trực Phạm
Bình Minh đã tham dự và có bài phát biểu tại Phiên thảo luận chung cấp cao Đại
hội đồng Liên hợp quốc (LHQ) khoá 77 ở New York, Mỹ. Tại đây, một lần nữa, Phó
Thủ tướng Thường trực Phạm Bình Minh nhấn mạnh quan điểm của chính phủ Việt Nam
đề cao hợp tác đa phương, kêu gọi thế giới hợp tác trên tinh thần đoàn kết,
cùng nhau vượt qua những thách thức đan xen hiện nay, vì mục tiêu hòa bình và
phát triển bền vững trên thế giới.
Thế giới đang ở thời khắc "bước ngoặt của lịch
sử" khi tình trạng đối đầu, xung đột và các hành động vi phạm luật pháp quốc
tế tiếp tục gia tăng, phản ánh cạnh tranh giữa các nước lớn và chủ nghĩa đơn
phương. Cùng với đó, tác động của đại dịch COVID-19, biến đổi khí hậu cùng nhiều
thách thức an ninh phi truyền thống khác đang đe dọa sự tồn vong của nhân loại,
đẩy lùi nỗ lực thực hiện các Mục tiêu Phát triển bền vững (SDG).
Trong bối cảnh đó, tại Phiên thảo luận chung cấp cao
Đại hội đồng Liên hợp quốc, Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Bình Minh nhấn mạnh,
cộng đồng quốc tế cần có những thay đổi căn bản về tư duy, định hình lại cách
tiếp cận đối với các vấn đề toàn cầu, trong đó cần đặt con người vào trung tâm
của mọi nỗ lực phát triển.
Đề
cao đoàn kết, hợp tác quốc tế để ứng phó với các thách thức chung
Cho rằng thực tế đã chứng minh đoàn kết và hợp tác
quốc tế chính là "chìa khóa" quan trọng để vượt qua các thách thức,
Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Bình Minh đề xuất, các quốc gia cần loại bỏ xu
hướng đối đầu, tư duy "được-mất", và thay vào đó cần thúc đẩy chủ
nghĩa đa phương và hợp tác quốc tế một cách cởi mở, bao trùm, công bằng, cùng
có lợi. Theo đó, hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế phải được tôn
trọng, đặc biệt là tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của các quốc
gia, giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình.
Đồng thời, cần xây dựng các thể chế đa phương vững mạnh
và hiệu quả, với vai trò trung tâm của Liên hợp quốc, thúc đẩy quan hệ đối tác
toàn cầu, trong đó có vai trò quan trọng của các tổ chức khu vực, để ứng phó với
các thách thức chung. Đại diện Việt Nam cũng nhấn mạnh, các nước Đông Nam Á
đang nỗ lực xây dựng Cộng đồng ASEAN vững mạnh và đoàn kết, có vai trò trung
tâm trong cấu trúc an ninh khu vực và đẩy mạnh hợp tác với các đối tác; đề cao
nỗ lực của ASEAN nhằm tìm giải pháp toàn diện cho các vấn đề trong khu vực. Đặc
biệt, cần duy trì hòa bình, ổn định, an ninh và an toàn hàng hải tại Biển Đông,
trong đó, các bên giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình, tôn trọng các
tiến trình pháp lý và ngoại giao, phù hợp với luật pháp quốc tế, Hiến chương
Liên hợp quốc và Công ước Luật Biển 1982.
Việt
Nam đặc biệt coi trọng vai trò của các thể chế đa phương trong đó có Liên hợp
quốc
Tại phiên họp, nhắc lại câu nói của Chủ tịch Đại hội
đồng Liên hợp quốc khóa 32 Lazar Mojsor rằng "việc Việt Nam gia nhập Liên
hợp quốc là bước tiến quan trọng củng cố hòa bình và an ninh trên thế giới",
Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Bình Minh cho rằng, nhận định đó vẫn còn nguyên
giá trị, thể hiện qua nỗ lực của Việt Nam trong duy trì hòa bình và an ninh quốc
tế, tăng cường tham gia các hoạt động gìn giữ hoà bình Liên hợp quốc, thúc đẩy
cách tiếp cận cân bằng và xây dựng, cùng tìm kiếm giải pháp lâu dài cho những vấn
đề quốc tế, vì lợi ích chung của tất cả các quốc gia thành viên.
Việt Nam luôn thúc đẩy hiểu biết và tôn trọng lẫn
nhau, hợp tác và đối thoại tại Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc và mong muốn
nhận được sự ủng hộ của các nước đối với ứng cử của Việt Nam vào vị trí thành
viên Hội đồng Nhân quyền nhiệm kỳ 2023-2025.
Kể từ khi Việt Nam trở thành thành viên thứ 149 của Liên hợp quốc vào ngày 20/9/1977, Việt Nam luôn nỗ lực là thành viên tin cậy và có trách nhiệm của Liên hiệp quốc. Việt Nam là quốc gia luôn nghiêm túc thực hiện Hiến chương Liên hiệp quốc, nỗ lực bảo vệ, đề cao sự cần thiết tuân thủ các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hiệp quốc và luật pháp quốc tế. Sự tương đồng về những giá trị và nguyên tắc quan trọng đã tạo nền tảng cho quan hệ hợp tác, đối tác giữa Việt Nam và Liên hợp quốc. Những giá trị mà Liên hợp quốc thúc đẩy cũng chính là những giá trị mà nhân dân Việt Nam qua nhiều thế hệ đã chiến đấu và hy sinh xương máu để bảo vệ - đó là hòa bình, độc lập dân tộc và công lý.
坚持稳定宏观经济大盘的一贯主张
05:58 | (VOV) - 主题为“夯实宏观经济基础,促进复苏并实现可持续发展”的2022年越南经济社会论坛刚于上周末在河内举行。论坛传递了“夯实宏观经济基础,增强经济韧性和抵御力是首要目标”这一重要信息。
越南正在有效管控宏观经济
世界经济低迷,而越南依旧实现较快增长。世界通胀飙升,而越南则保持低通胀。越南经济开放度不断提升,进出口总额今年有望达7500亿美元,相当于国内生产总值的两倍。越南经济韧性、抵御力、适应力等其他指标虽然只处于中等偏上水平,新冠肺炎疫情给越南造成的影响也特别严重,越南宏观经济还要承受巨大的压力……但是,越南仍然良好管控宏观经济。国际评级机构都上调了越南国家信用评级。世行、国际货币基金组织、亚行等组织预测,越南国内生产总值2022年增长6.7%到7.5%,通胀率低于4%。
2022年,越南出台一系列史无前例的财政政策。税收减免、财政支持政策等帮助越南稳定宏观经济,企业和劳动者扶持政策则有助于稳定社会,解决就业问题。显而易见,越南已经合理分析、预测、处理,颁布和组织落实正确的宏观经济政策。
越南胡志明政治学院院长阮春胜表示:“值得一提的是,与世界趋势完全相反,越南在度过了近9个月新冠肺炎疫情席卷的最艰难时间后,依旧保持积极的增长态势。越南稳定宏观经济,控制通胀,确保经济大平衡。而据预测,今年越南增长率极为乐观。”
越南经济实现可持续增长的关键
稳定宏观经济,同时主动、灵活应对复杂多变的不稳定因素是越南继续“逆水行舟”,在世界和地区局势复杂难测的背景下继续成功保持增长态势的关键。实际表明,只有宏观指标保持稳定,经济才能形成韧性,有足够的空间有效应对突发事件,而且在事后快速复苏。
越南胡志明政治学院院长阮春胜认为,释放各种资源,增强增长动力等应成为新切入方式,以巩固宏观经济基础,促进经济复苏和可持续发展。其中,完善关于土地和房地产市场管理的体制、法律框架将有助于开发国家经济这一重要驱动力。
对此,越南资源环境部部长陈红河表示:“第一,土地规划工作在方法、内容、形式等方面都要革新,以有效分配土地这一特殊、宝贵和重要的资源。要确保有关各方公平、平等,满足土地使用需求,解决过去、现在和未来问题。第二,对土地进行正确估值,为实现社会保障性政策提供帮助。第三,建设土地数据库,促进该领域数字化转型。”
此外,证券、企业债券、政府债券、货币等市场都是经济的动脉。因此,要确保其流动畅通。越南财政部副部长阮德志表示,财政部已制定了方向和措施,让公司债券成为有效的中长期资金筹集渠道。他说:“要继续完善市场管理法律框架,审视直接关系到发行企业债券、筹集资源权利的《企业法》、《证券法》等法律。要多样化和改善对企业债券投资的需求。要提高金融中介机构参加企业债券发行过程的能力和质量。”
从总体上看,巩固宏观经济基础还涉及打破瓶颈,助力经济通畅运行问题,从而帮助企业自信地做出经营、投资决定,畅通市场要素流动,有效开发社会各种资源。
革新35年的经验表明,在类似最近两年的任何艰难阶段中,确保宏观经济稳定是能“应万变”的“不变”。坚持稳定宏观经济将助力越南继续有效开发我国经济各大潜力。(完)
Thông điệp nhất quán về kiên định ổn định nền tảng kinh tế vĩ mô
05:50 |(VOV) - Diễn Kinh tế - Xã hội Việt Nam 2022 với chủ
đề “Củng cố nền tảng kinh tế vĩ mô, thúc đẩy phục hồi và phát triển bền vững"
vừa diễn ra hôm cuối tuần, tại Hà Nội. Diễn đàn truyền đi Thông điệp quan trọng:
tăng cường nền tảng kinh tế vĩ mô, tăng cường khả năng chống chịu và tự cường của
nền kinh tế luôn là mục tiêu hàng đầu.
Việt
Nam đang kiểm soát tốt kinh tế vĩ mô
Trong bối cảnh thế giới tăng trưởng thấp, Việt Nam vẫn
tăng trưởng cao. Thế giới lạm phát cao thì Việt Nam duy trì được lạm phát thấp.
Nền kinh tế Việt Nam có độ mở rất lớn, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu ước đạt
750 tỷ USD, gấp khoảng 2 lần GDP. Các chỉ số về khả nắng chống chịu, thích ứng,
năng lực tự cường của nền kinh tế Việt Nam tuy chỉ nằm ở dải trung bình và khá.
Việt Nam cũng chịu tác động rất nặng nề về dịch bệnh,
thiên tai. Áp lực về kinh tế vĩ mô là rất lớn. Nhưng, Việt Nam đã kiểm soát tốt
vĩ mô. Các tổ chức xếp hạng tín nhiệm đã nâng hạng tín nhiệm đối với Việt Nam.
Các tổ chức quốc tế như WB, IMF, ADB... dự báo tăng trưởng GDP năm 2022 của Việt
Nam từ 6,7-7,5%, lạm phát dưới 4%... Năm 2022, Việt Nam có một loạt chính sách
tài khóa được thực hiện chưa có tiền lệ. Việc hỗ trợ giảm thuế và hỗ trợ tài
khóa đã giúp tình hình vĩ mô ổn định; một số gói hỗ trợ liên quan tới việc hỗ
trợ doanh nghiệp cũng như hỗ trợ người lao động góp phần cho việc ổn định về
kinh tế xã hội, giải quyết việc làm.
Rõ ràng, Việt Nam đã có dự báo, phân tích, xử lý hợp
lý, các chính sách vĩ mô đều đúng hướng. Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ
Chí Minh Nguyễn Xuân Thắng cho biết: "Điều hết sức đặc biệt là, ngược dòng
bên ngoài, kinh tế Việt Nam đã vượt qua giai đoạn khó khăn nhất của thời kỳ đại
dịch COVID-19 bùng phát mạnh và trong gần 9 tháng qua duy trì được đà tăng trưởng
rất khả quan, giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát có hiệu quả lạm phát, về
cơ bản bảo đảm được các cân đối lớn và được dự báo có mức tăng trưởng lạc quan
trong năm 2022".
Chìa khóa để kinh tế Việt Nam tiếp tục tăng trưởng
theo hướng bền vững
Ổn định kinh tế vĩ mô, đồng thời ứng phó chủ động,
linh hoạt với sự thay đổi nhanh chóng là chìa khoá để nền kinh tế Việt Nam tiếp
tục "lội ngược dòng" thành công và duy trì đà tăng trưởng trong bối cảnh
thế giới, khu vực có nhiều biến động. Thực tiễn đã chứng tỏ chỉ khi các chỉ số
vĩ mô được giữ ổn định, nền kinh tế mới hội đủ năng lực chống chịu, có dư địa để
chủ động ứng phó có hiệu quả với các diễn biến bất ngờ và phục hồi nhanh chóng
sau các biến động đó.
Theo Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí
Minh Nguyễn Xuân Thắng, việc giải phóng các nguồn lực và mở rộng các động lực
tăng trưởng trong nước cần trở thành cách tiếp cận mới để củng cố nền tảng kinh
tế vĩ mô, thúc đẩy phục hồi và phát triển kinh tế bền vững. Trong đó, việc tập
trung hoàn thiện khung khổ thể chế, pháp luật về quản lý đất đai và thị trường
bất động sản sẽ khai thác có hiệu quả một trong những nguồn lực quan trọng của
nền kinh tế. Về vấn đê này, Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Trần Hồng Hà
cho biết: "Công tác quy hoạch phải đổi mới về phương pháp, nội dung, hình
thức, để phân bổ nguồn lực tài nguyên hết sức đặc biệt, quý giá và quan trọng
này. Nội dung đổi mới sẽ đảm bảo công bằng, bình đẳng cho các bên, giải quyết
nhu cầu sử dụng đất, giải quyết các vấn đề trong quá khứ, hiện tại và tương
lai. Thứ 2 là tìm cách thu hẹp khoảng cách giữa định giá đất và tài chính đất
đai. Việc định giá đúng sẽ góp phần thực hiện được các chính sách về mặt xã hội.
Thứ 3 là cần xây dựng được dữ liệu đất đai, thúc đẩy chuyển đổi số trong lĩnh vực
này".
Các thị trường chứng khoán, trái phiếu doanh nghiệp,
trái phiếu Chính phủ, tiền tệ, bất động sản…, đều là mạch máu của nền kinh tế.
Do đó phải bảo đảm lưu thông lành mạnh, phát triển bền vững. Ông Nguyễn Đức
Chi, Thứ trưởng Bộ Tài chính cho biết, Bộ đã có định hướng, giải pháp để trái
phiếu doanh nghiệp trở thành một kênh huy động vốn trung và dài hạn hiệu quả.
Ông Nguyễn Đức Chi, Thứ trưởng Bộ Tài chính nhấn mạnh:
"Tiếp tục hoàn thiện khuôn khổ pháp lý của thị trường, rà soát các luật
liên quan trực tiếp đến quyền được phát hành trái phiếu doanh nghiệp, huy động
vốn (Luật Doanh nghiệp và Luật Chứng khoán). Trong đó, có 3 nhóm vấn đề xem xét
báo cáo trình Quốc hội, gồm: điều kiện đối với doanh nghiệp xin chào bán trái
phiếu; điều kiện đối với nhà đầu tư được phép tham gia đầu tư vào trái phiếu của
các doanh nghiệp; cách thức phát hành riêng lẻ và phát hành trái phiếu ra công
chúng. Thứ hai, là đa dạng và cải thiện cầu đầu tư trái phiếu doanh nghiệp. Thứ
ba là nâng cao chất lượng của các định chế trung gian tài chính tham gia vào
quá trình phát hành trái phiếu doanh nghiệp".
Ở góc độ tổng thể với tầm bao quát dài hạn hơn, củng
cố nền tảng kinh tế vĩ mô còn nằm ở việc tháo gỡ những điểm nghẽn để nền kinh tế
vận hành thông suốt, các doanh nghiệp tự tin đưa ra các quyết định kinh doanh
và đầu tư, khơi thông dòng chảy trên thị trường và khai thác có hiệu quả mọi
nguồn lực trong xã hội.
Bài học thực tiễn qua hơn 35 năm Đổi mới, kể cả trong những giai đoạn khó khăn, thử thách khắc nghiệt như trong 2 năm qua, việc bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô là yếu tố “bất biến” để ứng với “vạn biến” của tình hình kinh tế quốc tế. Việc kiên định ổn định nền tảng kinh tế vĩ mô sẽ giúp Việt Nam phát huy các tiềm năng lớn của nền kinh tế.
继续推动和提升联合国维和行动水平
08:40 |参加联合国维和行动是新时期国家和军队的一项重要任务,为实现党的对外政策和融入国际社会,提高党和国家在国际舞台上的地位作出贡献。因此,军队应继续采取同步强有力的措施,提高维和行动的效率,满足建国卫国任务的要求。
深入贯彻落实党的对外政策和国际融合政策,多年来,军队积极建言献策,直接参加维和领域的多项活动,取得了许多重要成果,为提升越南在国际舞台上的威信和地位,创造和平稳定的环境,成功实施国家革新作出了贡献;同时,申明越南是国际社会的朋友、可靠伙伴和负责任的成员。事实上,越南的联合国维和行动给国际友人留下了许多对国家形象和越南人民的良好印象和感受,也向国际友人传播了“胡伯伯部队”的高尚品质。通过这一重要而有意义的活动,传达了一个爱好和平、富有人文价值和同情心的越南的信息,随时携手解决国际社会面临的问题,为以和平方式坚定地保卫祖国贡献力量。
经过8年多的部队形式部署,越南在南苏丹参与了4批二级野战医院的建设。2022年5月,越南向联阿安全部队特派团(阿卜耶伊地区)派出工兵队,共计184人,是二级野战医院规模的三倍。这是越南维和部队人数最多的单位。随着野战医院的运作,越南工兵队提供人道主义援助,帮助联合国维和特派团完成维护和创造和平、恢复和平的使命,重建国家,为所在国人民带来更美好的生活。
至于个人形式,截至2022年8月,越南已派出78名军官和4名警官在南苏丹、中非共和国和联阿安全部队三个特派团参加以下任务:联络、参谋、传媒、信息情报分析、调查、军事观察员。值得注意的是,从2020年至今,虽然选拔过程极其严格,但我们已经有5名军官(4名军官和1名警官)超过了来自其他国家的近200名候选人,可以在美国纽约联合国总部和中非共和国特派团指挥所工作。这是肯定越南对世界维和事业的能力、威望和责任的重大举措。
此外,越南还与9个国家(澳大利亚、中国、美国、日本、韩国、印度、法国、新西兰、俄罗斯)签署了9份双边防务合作谅解备忘录,与联合国签署了2份双边防务合作谅解备忘录:向南苏丹特派团(UNMISS)部署二级野战医院,向联阿安全部队特派团(阿卜耶伊地区)部署工兵队;1份与欧盟签署的技术协议。通过维和领域合作,动员数千万美元资助建设报告厅、采购外语培训设备、专业训练等国际演习和运输部队参加联合国维和行动。
未来一段时间,世界和地区形势将继续快速变化、复杂难测;大国之间既灵活调整战略和外交政策,又展开了激烈的竞争。侵犯主权、领土和资源争端、武装冲突、局部战争、干涉、颠覆、恐怖主义、分裂国家、自然灾害、瘟疫等问题此起彼伏,严重影响世界安全、政治稳定与和平,对联合国维和行动提出新要求。这种情况需要全军,直接参加联合国维和行动的部队,继续深入把握党的国际融合和国防外交的观点和方针。在此基础上,重点研究,把握形势,找准参与领域,以科学、恰当的内容和解决方案不断推动和提高联合国维和行动的水平。
首先,在联合国维和行动中,深入把握党关于外交和融入国际的决议和指示。这是确保越南在联合国维和行动严格恪守党的方向和既定方针和方法,取得实际成效的重要解决方案。因此,参加联合国维和活动的部队要着力深入把握、创造性、灵活、有效地贯彻落实党、国家、中央军委、国防部关于国际融合、外事工作等问题的决议、战略、指示和文件、第十一届军队党部代表大会决议,重点是中央政治局于2013年4月10日颁布关于《国际一体化》的22-NQ/TW号决议,中央军委于2013年12月31日颁布关于《2020年及后续年度国际一体化与国防外交》的806-NQ/QUTW号决议;2020年前及2030年愿景国际一体化总体战略,政府于2016年3月31日颁布关于《国防对外工作条例》的22/2016/ND-CP号议定书;国会于2020年11月13日颁布关于《参加联合国维和行动》的130/2020/QH14号决议等。从而,在符合国家利益和国家实际情况、军队和公安实际特点以及联合国具体要求的基础上,将上述文件具体化为科学、具体的决议、行动计划、路线图、解决方案。
二是,着力提高各部队积极有效参与联合国维和行动的工作水平和能力。这是落实国际一体化和国防外交政策,特别是按照中央政治局的22-NQ/TW号决议和中央军委的806-NQ/QUTW号决议精神参加联合国维和活动的突破。为使这一内容深入开展并取得实效,首先,中央军委、中央公安党委要做好参与联合国维和行动的人才培养工作,朝着确保数量、结构和成分合理、优质、积极、创新和负责地执行国际任务。推进培训,将国内培训与派员出国培训紧密结合;重点提高外语技能(英语)与所在国语言相结合,提高对所在国和当地人民的了解,根据作战领域与每个任务的职能和任务相关的专业能力,特别是整合和适应复杂安全的技能,政治和军事条件和环境。积极建议党、国家和政府按照联合国确定并同意的项目,发展力量,扩大范围、领域、层次和行动层次;提高所参与领域的运作效率,逐步扩大参加维和行动范围,如:独立活动的个人、步兵、警察、非军事领域等。
目前,重点做好各方面的准备,以申请联合国常设机构(美国纽约)的工作。定期提高作战参谋、训练、后勤、规划、处理情况、传媒、综合、调查和向特派团指挥官报告的能力。特别是重视总结实践、发展理论、总结经验的工作,在此基础上,针对不同批次、不同课程、不同学期,传授和提出提高运行效率的措施。
积极拓展与世界各国在维和领域的双边防务合作;在此基础上,加大资金动员力度,争取国际友人的支持,为发展、扩大和提高联合国维和行动效力创造前提条件。
三是,加强与中央机构、部委和行业,特别是联合部门工作组和国防部联合国维和行动指导委员会的协调。这是一个重要的内容,建立统一的共识机制,促进各组成部分和力量的协同,为这一重要任务的顺利完成贡献力量。作为常设机构,越南维和局不仅为党、国家、政府、中央军委、国防部提供建议,还直接协调和部署维和任务的实施,应继续创新和提高与相关机构、国际组织和伙伴国家的协调效率。积极与中央对外部、外交部、国会外事委员会、公安部等职能机构及外国合作伙伴协调,与政府签订财政、支付和报销协议。
、设备采购;依照国家法律、国防部规定接收、管理和使用经费来源。加强对联合国维和任务的科学研究,与相关机构在研发、拓展工作领域、范围、层次、具体活动水平等方面进行深入协调;在远离祖国的条件下,在复杂的作战环境中协同工作、指挥、作战和监督,协调参与联合国维和部队和公安人员、士兵的初步、总结、奖励和纪律处分建议。加强与联合国相关机构和有此活动经验的国家的协调,以培训人力资源并合作有效部署部队。在维和行动中,将宣传我们的观点、正义立场和维护世界和平的宗旨与提升越南国家和人民作为负责任的成员国的形象紧密结合起来,以不断提高我国在国际舞台上的威望和地位。
四是,加强宣传教育,提高全党、全民、全军的意识和责任担当,着眼于联合国维和部队。联合国维和行动是一项复杂、高度具体的任务,困难重重、风险大,需要官兵有正确的认识和科学的计划,认真、创新、……在实践中实现高效率。因此,维和部队各机关单位党委和指挥员要注重教育宣传,使广大官兵认识维和任务的目的、意义和重要性。帮助他们具备必要的本领、知识、经验和技能,并在执行任务的过程中明确职责。教育内容全面;其中,深化官兵教育,牢牢把握维和部队工作原则、机制和条件。党、中央军委、国防部关于国际融合和国防外交的观点和指导意见。
注重透彻了解和教育士兵深刻认识和分清联合国维和部队与多国联军的本质区别,确保他们有机会将理论和实践基础传播给国内外爱好和平的人们,明确这一重要活动的目的和意义,以便为保护该地区和世界的和平做出贡献。注重为在联合国总部和特派团工作的越南军队建设在执行任务过程中形成的具有过硬的政治本领、客观思维、公正和中立态度的教育;在任何情况下,都必须绝对忠于祖国,忠于党、国家、军队和人民,不受物质条件的诱惑,有保守军事秘密和国家机密的意识。严格遵守军纪,越南法律、国际法和《联合国宪章》的规定与原则。同时,参加维和行动的各单位要确定自己牺牲的决心和意愿,克服困难和艰辛,奋起完成任务。
为此,各机构和单位,尤其是维和局需要灵活运用教育形式和措施,将教育重点与基础课程和每门课程的单独培训和再培训紧密结合起来,通过在各个责任领域的特派团维和实践,通过对部门的分配任务进行教育,具有自我认识、教育和积累。坚决反对虚假和敌对观点,利用联合国维和行动反对越南革命。
五是,完善机制和政策,为联合国维和行动创造良好的法律条件。参加联合国维和行动是越南的一项新的、全面的、高度特殊的任务,不仅与越南的政策和法律有关,而且必须遵守国际法、联合国宪章和所在国法律。维和部要积极协调有关部门,研究向中央军委、国防部提出建议,建议党和国家继续完善、调整和及时补充机制、政策和法律文件体系,为参加联合国维和行动的部队打下坚实的法律基础。维和部队在研究、建言献策过程中,要彻底把握维和行动置于越南共产党的绝对直接全面领导之下的原则,遵守国防和安全委员会的决定,接受国家主席的统帅和政府的行政管理。继续补充和完善法律文件体系,确保越南宪法、国防法、关于联合国维和行动的法令、指令、通知和指南的完整性、同步性和一致性。研究提出适时调整机制和政策,提高维和部队国家管理效能和效率的建议;以权力下放为重点,明确国防和安全委员会、国防部、公安部在建设、调派、轮换、撤退、扩大范围、扩大领域以及特派团指挥管理要根据越南与联合国之间的协议。完善对联合国维和行动的检查、监督和审查,国防部与有关部门和领域之间的协调,以及越南军队与参加联合国维和行动的其他国家军队之间的协调,为不断提高履行这一重任的质量和效率,为新形势下加强融入国际关系、拓展党和国家对外关系的政策的顺利实施作出贡献。(完)
作者:越共中央委员、中央军委委员、国防部副部长黄春战上将
Tiếp tục đẩy mạnh, nâng tầm hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc
07:38 |Tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc là
nhiệm vụ quan trọng của quốc gia, của Quân đội trong thời kỳ mới, góp phần hiện
thực hóa đường lối đối ngoại và hội nhập quốc tế của Đảng, nâng cao uy tín, vị
thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Vì vậy, Quân đội cần tiếp tục thực hiện đồng
bộ, quyết liệt các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động này, đáp ứng yêu,
nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Quán triệt, triển khai thực hiện nghiêm túc đường lối
đối ngoại và hội nhập quốc tế của Đảng, những năm qua, Quân đội vừa chủ động
tham mưu, vừa trực tiếp triển khai tham gia nhiều hoạt động trong lĩnh vực gìn
giữ hòa bình Liên hợp quốc và đạt được nhiều kết quả quan trọng, góp phần nâng
cao uy tín, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế, kiến tạo môi trường hòa
bình, ổn định, thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới đất nước; đồng thời, khẳng
định Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm của cộng
đồng quốc tế. Trên thực tế, hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc của Việt
Nam đã để lại nhiều ấn tượng và tình cảm tốt đẹp về hình ảnh đất nước, con người
Việt Nam cũng như làm lan tỏa phẩm chất cao quý của “Bộ đội Cụ Hồ” đối với bạn
bè quốc tế. Thông qua hoạt động quan trọng và đầy ý nghĩa này, đã truyền đi
thông điệp về một đất nước Việt Nam yêu chuộng hòa bình, nhân văn, nhân ái, sẵn
sàng chung tay giải quyết các vấn đề mà cộng đồng quốc tế đang phải đối mặt,
góp phần tạo thế và lực, bảo vệ vững chắc Tổ quốc “từ sớm, từ xa” bằng biện
pháp hòa bình.
Qua hơn 08 năm triển khai lực lượng đối với hình thức
đơn vị, Việt Nam đã tham gia 04 lượt bệnh viện dã chiến cấp 2 tại Nam Xu-đăng.
Tháng 5/2022, Việt Nam cử Đội Công binh tới Phái bộ UNISFA (khu vực Abyei) với
quân số 184 người, đông gấp ba lần quy mô của một bệnh viện dã chiến cấp 2. Đây
là đội hình cấp đơn vị có số lượng thành viên lớn nhất từ trước đến nay của Việt
Nam tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc. Cùng với hoạt động của Bệnh
viện dã chiến, Đội Công binh của Việt Nam cung cấp các hoạt động hỗ trợ nhân đạo,
giúp các phái bộ gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc hoàn thành sứ mệnh gìn giữ, kiến
tạo hòa bình, tái thiết đất nước, mang lại cuộc sống tốt đẹp hơn cho người dân
nước sở tại.
Đối với hình thức cá nhân, tính đến tháng 8/2022, Việt
Nam đã cử 78 lượt sĩ quan của Quân đội và 04 sĩ quan Cảnh sát tham gia các nhiệm
vụ: liên lạc, tham mưu, truyền thông, phân tích thông tin tình báo, điều tra,
quan sát viên quân sự,... tại 03 phái bộ: Nam Xu-đăng, Cộng hòa Trung Phi và
UNISFA. Đáng chú ý là, từ năm 2020 đến nay, mặc dù quy chế tuyển chọn vô cùng
nghiêm ngặt, nhưng chúng ta đã có 05 sĩ quan (04 quân nhân và 01 cảnh sát) vượt
qua gần 200 sĩ quan ứng thi từ các nước thành viên khác của Liên hợp quốc trúng
tuyển vào làm việc tại trụ sở Liên hợp quốc (New York, Hoa Kỳ) và Sở Chỉ huy
Phái bộ Cộng hòa Trung Phi. Đây là bước tiến vượt bậc khẳng định năng lực, uy
tín, trách nhiệm của Việt Nam đối với sự nghiệp gìn giữ hòa bình thế giới.
Bên cạnh đó, Việt Nam đã ký: 09 bản ghi nhớ về hợp
tác quốc phòng song phương với 09 nước (Australia, Trung Quốc, Hoa Kỳ, Nhật Bản,
Hàn Quốc, Ấn Độ, Pháp, Newzealand, Liên bang Nga), 02 bản ghi nhớ với Liên hợp
quốc về triển khai Bệnh viện dã chiến cấp 2 tới Phái bộ Nam Xu-đăng (UNMISS) và
triển khai Đội Công binh đến Phái bộ UNISFA (khu vực Abyei), 01 bản thỏa thuận
kỹ thuật với Liên minh châu Âu (EU). Thông qua hợp tác trong lĩnh vực gìn giữ
hòa bình, chúng ta đã vận động tài trợ được hàng chục triệu USD để xây dựng giảng
đường, mua sắm trang thiết bị phục vụ đào tạo ngoại ngữ, tập huấn, huấn luyện
chuyên ngành, diễn tập quốc tế và vận chuyển lực lượng tham gia hoạt động gìn
giữ hòa bình Liên hợp quốc.
Mặc dù tham gia muộn hơn so với một số quốc gia khác
và phải đối mặt với muôn vàn khó khăn, thử thách, nhưng với cam kết chính trị mạnh
mẽ, đóng góp lâu dài cho sứ mệnh chung, sự chủ động, tích cực, sáng tạo, nhạy
bén trong quá trình hoạt động, lực lượng gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc của Việt
Nam luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ, được Liên hợp quốc, bạn bè, đồng nghiệp quốc
tế đánh giá cao cả về hiệu quả hoạt động, trình độ, năng lực cán bộ và lĩnh vực
tham gia. Đây chính là tiền đề, động lực quan trọng thúc đẩy quá trình hội nhập
quốc tế, đối ngoại quốc phòng, gia tăng nguồn lực, tiếp thu khoa học công nghệ,
kỹ thuật tiên tiến, chia sẻ kinh nghiệm xây dựng và phát triển lực lượng quân sự,
quốc phòng, an ninh của các nước đối tác, góp phần đẩy nhanh tiến trình hiện đại
hóa Quân đội, Công an, tăng cường tiềm lực, sức mạnh quốc phòng, an ninh, bảo vệ
Tổ quốc.
Thời gian tới, tình hình thế giới, khu vực tiếp tục
có biến chuyển nhanh, diễn biến phức tạp, khó dự báo; các nước lớn vừa linh hoạt
điều chỉnh chiến lược, chính sách đối ngoại, vừa cạnh tranh nhau gay gắt. Tình
trạng xâm phạm chủ quyền, tranh chấp lãnh thổ, tài nguyên, xung đột vũ trang,
chiến tranh cục bộ, can thiệp, lật đổ, khủng bố, ly khai,… thiên tai, dịch bệnh
có xu hướng gia tăng, diễn ra gay gắt ở nhiều khu vực, tác động mạnh đến tình
hình an ninh, chính trị và nền hòa bình thế giới, đặt ra những yêu cầu mới đối
với hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc. Tình hình đó đòi hỏi toàn quân,
trực tiếp là các lực lượng tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc cần
tiếp tục quán triệt sâu sắc quan điểm, đường lối của Đảng về hội nhập quốc tế
và đối ngoại về quốc phòng; trên cơ sở đó, tập trung nghiên cứu, nắm chắc tình
hình, xác định đúng lĩnh vực tham gia, không ngừng đẩy mạnh, nâng tầm hoạt động
gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc bằng những nội dung, giải pháp khoa học, phù hợp.
Trước hết, quán triệt sâu sắc các nghị quyết, chỉ thị
của Đảng về đối ngoại, hội nhập quốc tế trong hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp
quốc. Đây là giải pháp quan trọng bảo đảm cho hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp
quốc của Việt Nam tuân thủ đúng định hướng của Đảng, cũng như phương châm,
phương pháp đã xác định và đạt hiệu quả thiết thực. Vì vậy, các lực lượng tham
gia hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc cần tập trung quán triệt sâu sắc,
vận dụng sáng tạo, linh hoạt, hiệu quả các nghị quyết, chiến lược, chỉ thị, văn
bản của Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng về hội nhập quốc tế,
đối ngoại, đối ngoại quốc phòng được thể hiện trong Nghị quyết Đại hội đại biểu
toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đội lần
thứ XI, mà trọng tâm là Nghị quyết số 22-NQ/TW, ngày 10/4/2013 của Bộ Chính trị
về “Hội nhập quốc tế”; Nghị quyết số 806-NQ/QUTW, ngày 31/12/2013 của Quân ủy
Trung ương về “Hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng đến năm 2020 và những
năm tiếp theo”; Chiến lược tổng thể hội nhập quốc tế đến năm 2020, tầm nhìn đến
năm 2030, Nghị định số 22/2016/NĐ-CP, ngày 31/3/2016 của Chính phủ “Quy định về
công tác đối ngoại quốc phòng”; Nghị quyết số 130/2020/QH14, ngày 13/11/2020 của
Quốc hội về “Tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc”, v.v. Trên cơ sở
đó, cụ thể hóa thành các nghị quyết, chương trình, kế hoạch, đề án với mục
tiêu, yêu cầu, nhiệm vụ, giải pháp, lộ trình, bước đi cụ thể, khoa học, phù hợp
với lợi ích quốc gia - dân tộc, điều kiện của đất nước, của Quân đội, Công an,
yêu cầu của Liên hợp quốc, khả năng của lực lượng gìn giữ hòa bình và tổ chức
triển khai đồng bộ, quyết liệt, hiệu quả.
Hai là, tập trung nâng cao trình độ, năng lực công
tác của từng lực lượng để chủ động, tích cực tham gia có hiệu quả hoạt động gìn
giữ hòa bình Liên hợp quốc. Đây là khâu đột phá trong thực hiện chủ trương hội
nhập quốc tế và đối ngoại về quốc phòng, nhất là trong tham gia hoạt động gìn
giữ hòa bình Liên hợp quốc theo tinh thần Nghị quyết số 22-NQ/TW của Bộ Chính
trị và Nghị quyết số 806-NQ/QUTW của Quân ủy Trung ương. Để nội dung này đi vào
chiều sâu và đạt hiệu quả thiết thực, trước hết Quân ủy Trung ương, Đảng ủy
Công an Trung ương cần làm tốt công tác tạo nguồn nhân lực tham gia hoạt động
gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc theo hướng bảo đảm số lượng, cơ cấu, thành phần
hợp lý, chất lượng cao, chủ động, sáng tạo, trách nhiệm trong thực hiện nhiệm vụ
quốc tế. Đẩy mạnh công tác đào tạo, kết hợp chặt chẽ giữa đào tạo trong nước với
gửi cán bộ đi đào tạo, tập huấn ở nước ngoài; chú trọng nâng cao trình độ ngoại
ngữ (tiếng Anh) kết hợp với tiếng bản địa, nâng cao kiến thức về đất nước, con
người, năng lực chuyên môn gắn với chức năng, nhiệm vụ từng phái bộ theo lĩnh vực
hoạt động, nhất là kỹ năng hòa nhập, thích ứng với điều kiện, môi trường an
ninh, chính trị, quân sự diễn biến phức tạp. Chủ động tham mưu cho Đảng, Nhà nước,
Chính phủ phát triển lực lượng, mở rộng phạm vi, địa bàn, lĩnh vực, mức độ, cấp
độ hoạt động theo Đề án đã xác định và thống nhất với Liên hợp quốc; nâng cao
hiệu quả hoạt động các lĩnh vực đang tham gia và từng bước mở rộng lực lượng,
như: cá nhân hoạt động độc lập ở các phái bộ, bộ binh, quân cảnh, công an, dân
sự, v.v.
Trước mắt, tập trung chuẩn bị tốt mọi mặt tham gia ứng
thi vào làm việc tại cơ quan thường trực của Liên hợp quốc (New York, Hoa Kỳ).
Thường xuyên nâng cao năng lực tham mưu tác chiến, huấn luyện, bảo đảm hậu cần,
xây dựng kế hoạch, xử lý tình huống, truyền thông, tổng hợp, điều tra, báo cáo
với chỉ huy các phái bộ. Đặc biệt, coi trọng công tác tổng kết thực tiễn, phát
triển lý luận, rút ra bài học kinh nghiệm, trên cơ sở đó, truyền thụ và đề xuất
biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động cho các đợt, khóa, nhiệm kỳ công tác tiếp
theo. Tích cực mở rộng hợp tác quốc phòng song phương về lĩnh vực gìn giữ hòa
bình với các đối tác trên thế giới; trên cơ sở đó, đẩy mạnh việc vận động tài
trợ, tranh thủ sự ủng hộ của bạn bè quốc tế, tạo tiền đề, động lực mới để phát
triển, mở rộng, nâng cao hiệu quả hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc của
Việt Nam.
Ba là, tăng cường phối hợp với các cơ quan, ban, bộ,
ngành Trung ương, nhất là Tổ Công tác liên ngành và Ban Chỉ đạo Bộ Quốc phòng
trong triển khai thực hiện nhiệm vụ gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc. Đây là nội
dung quan trọng, tạo cơ chế thống nhất, đồng thuận, phát huy sức mạnh tổng hợp
của các thành phần, lực lượng, góp phần hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ quan trọng
này. Với tư cách là Cơ quan thường trực, vừa tham mưu cho Đảng, Nhà nước, Chính
phủ, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, vừa trực tiếp hiệp đồng, điều phối, triển
khai thực hiện nhiệm vụ gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc, Cục Gìn giữ hòa bình Việt
Nam cần tiếp tục đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác phối hợp với các cơ quan
liên quan trong nước, các tổ chức quốc tế và các quốc gia đối tác. Chủ động phối
hợp với cơ quan chức năng của Ban Đối ngoại Trung ương, Bộ Ngoại giao, Ủy ban đối
ngoại của Quốc hội, Bộ Công an và các đối tác nước ngoài thực hiện thỏa thuận
tài chính, thanh toán, bồi hoàn với Liên hợp quốc, mua sắm trang thiết bị; tiếp
nhận, quản lý, sử dụng các nguồn tài trợ theo đúng pháp luật Nhà nước, quy định
của Bộ Quốc phòng. Tăng cường nghiên cứu khoa học về nhiệm vụ gìn giữ hòa bình
Liên hợp quốc, trong đó đi sâu phối hợp với các cơ quan liên quan nghiên cứu,
phát triển, mở rộng các lĩnh vực công tác, phạm vi, mức độ, cấp độ tham gia hoạt
động cụ thể; công tác hiệp đồng, chỉ huy, điều hành, giám sát hoạt động của các
bộ phận trong điều kiện ở xa nước chủ quản, môi trường hoạt động phức tạp; phối
hợp trong sơ kết, tổng kết, đề xuất khen thưởng, kỷ luật đối với cán bộ, nhân
viên, chiến sĩ trong Quân đội, Công an tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình Liên
hợp quốc. Tăng cường phối hợp với các cơ quan chức năng của Liên hợp quốc, các
nước có kinh nghiệm về hoạt động này để đào tạo nguồn nhân lực và hợp tác trong
triển khai lực lượng tại các phái bộ đạt hiệu quả. Kết hợp chặt chẽ giữa tuyên
truyền quan điểm, lập trường chính nghĩa, mục đích bảo vệ hòa bình thế giới của
chúng ta với quảng bá hình ảnh đất nước, con người Việt Nam với tư cách là một
quốc gia thành viên có trách nhiệm của Liên hợp quốc trong quá trình thực hiện
nhiệm vụ gìn giữ hòa bình, nhằm không ngừng nâng cao uy tín, vị thế của nước ta
trên trường quốc tế.
Bốn là, tăng cường tuyên truyền, giáo dục nâng cao
nhận thức, trách nhiệm cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, trọng tâm là lực lượng
tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc trong thực hiện nhiệm vụ quan
trọng này. Hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc là nhiệm vụ tổng hợp, mang
tính đặc thù cao, với nhiều khó khăn, rủi ro, phức tạp, nên đòi hỏi cán bộ, chiến
sĩ phải có nhận thức đúng, kế hoạch khoa học, hành động cẩn trọng, sáng tạo,...
thì mới đạt hiệu quả cao trong thực tiễn. Vì thế, cấp ủy, chỉ huy các cơ quan,
đơn vị thuộc lực lượng gìn giữ hòa bình cần tập trung giáo dục, tuyên truyền
làm cho bộ đội nhận thức rõ mục đích, ý nghĩa, tầm quan trọng của nhiệm vụ gìn
giữ hòa bình Liên hợp quốc; giúp họ có bản lĩnh, kiến thức, kinh nghiệm, kỹ
năng cần thiết và xác định rõ trách nhiệm trong quá trình thực hiện nhiệm vụ. Nội
dung giáo dục bảo đảm toàn diện; trong đó, đi sâu giáo dục cho cán bộ, chiến sĩ
nắm chắc nguyên tắc, cơ chế, điều khoản hoạt động của lực lượng gìn giữ hòa
bình; quan điểm, đường lối hội nhập quốc tế, đối ngoại quốc phòng của Đảng,
Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng.
Tập trung quán triệt, giáo dục cho bộ đội nhận thức
sâu sắc và phân biệt rõ sự khác nhau về bản chất giữa lực lượng gìn giữ hòa
bình Liên hợp quốc với các lực lượng liên quân đa quốc gia, bảo đảm cho họ có
cơ sở lý luận, thực tiễn để tuyên truyền cho nhân dân trong nước và nhân dân
yêu chuộng hòa bình thế giới hiểu rõ mục đích, ý nghĩa hoạt động quan trọng này
nhằm góp phần bảo vệ hòa bình ở khu vực và thế giới. Chú trọng giáo dục xây dựng
cho các lực lượng của Việt Nam công tác tại Trụ sở Liên hợp quốc và tại các
phái bộ có bản lĩnh chính trị vững vàng, có quan điểm, tư duy khách quan, thái
độ không thiên vị, trung lập trong quá trình thực hiện nhiệm vụ; bất luận trong
điều kiện nào cũng phải tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước,
Quân đội và Nhân dân, không bị cám dỗ bởi điều kiện vật chất, có ý thức giữ gìn
bí mật quân sự, bí mật quốc gia, chấp hành nghiêm kỷ luật Quân đội, pháp luật
Việt Nam, luật pháp quốc tế và điều lệ, nguyên tắc của Hiến chương Liên hợp quốc.
Đồng thời, từng bộ phận, lực lượng tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình cần xác
định quyết tâm, tinh thần sẵn sàng hy sinh, vượt qua khó khăn, gian khổ, vươn
lên hoàn thành tốt nhiệm vụ.
Để làm được điều đó, các cơ quan, đơn vị, trực tiếp
là Cục Gìn giữ hòa bình (cả trong nước và nước ngoài) cần vận dụng linh hoạt
các hình thức, biện pháp giáo dục, kết hợp chặt chẽ giữa giáo dục tập trung
theo chương trình cơ bản với huấn luyện, đào tạo, bồi dưỡng riêng theo từng
khóa, nhiệm kỳ công tác; giáo dục thông qua giao nhiệm vụ cho các bộ phận với tự
quán triệt, giáo dục, tích lũy qua thực tiễn hoạt động gìn giữ hòa bình tại các
phái bộ theo từng lĩnh vực đảm nhiệm. Kiên quyết đấu tranh chống quan điểm sai
trái, thù địch, lợi dụng hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc để chống phá
cách mạng Việt Nam.
Năm là, hoàn thiện cơ chế, chính sách, tạo hành lang
pháp lý thuận lợi cho hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc. Tham gia lực lượng
gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc của Việt Nam là nhiệm vụ mới, mang tính tổng hợp,
đặc thù cao, không chỉ liên quan đến chính sách, pháp luật của Việt Nam, mà còn
phải tuân thủ luật pháp quốc tế, Hiến chương Liên hợp quốc và phù hợp với luật
pháp của nước sở tại, v.v. Vì thế, Cục Gìn giữ hòa bình cần chủ động phối hợp với
các cơ quan chức năng nghiên cứu, đề xuất với Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng
tham mưu cho Đảng, Nhà nước tiếp tục hoàn thiện và điều chỉnh, bổ sung kịp thời
hệ thống cơ chế, chính sách, văn bản pháp luật, tạo hành lang pháp lý vững chắc
cho lực lượng tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc đạt hiệu quả
thiết thực. Quá trình nghiên cứu, tham mưu, đề xuất lực lượng gìn giữ hòa bình
cần quán triệt sâu sắc nguyên tắc: hoạt động gìn giữ hòa bình “đặt dưới sự lãnh
đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng Cộng sản Việt Nam; quyết định của
Hội đồng Quốc phòng và An ninh; sự thống lĩnh của Chủ tịch nước và quản lý nhà
nước của Chính phủ”1. Tiếp tục bổ sung, hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm
pháp luật bảo đảm đầy đủ, đồng bộ, thống nhất từ Hiến pháp, Luật Quốc phòng, Quốc
phòng Việt Nam, các nghị định, chỉ thị, thông tư, hướng dẫn về hoạt động gìn giữ
hòa bình Liên hợp quốc. Nghiên cứu, đề xuất, tham mưu điều chỉnh kịp thời các
cơ chế, chính sách nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lực lượng
gìn giữ hòa bình; chú trọng phân cấp, phân định rõ thẩm quyền của Hội đồng Quốc
phòng và An ninh quốc gia, Bộ Quốc phòng, Bộ Công an trong xây dựng, cử mới, điều
chỉnh, thay thế, rút lực lượng, mở rộng vị trí, địa bàn, lĩnh vực hoạt động,
công tác quản lý chỉ huy tại các phái bộ theo thỏa thuận giữa Việt Nam và Liên
hợp quốc. Hoàn thiện quy chế, chế tài kiểm tra, giám sát, thanh tra, phúc tra
hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc, công tác phối hợp giữa Bộ Quốc phòng
với các bộ, ngành, lĩnh vực liên quan, giữa Quân đội Việt Nam với Quân đội các
nước tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc, nhằm không ngừng nâng
cao chất lượng, hiệu quả trong thực hiện nhiệm vụ quan trọng này, góp phần thực
hiện thắng lợi chủ trương tăng cường hội nhập quốc tế, mở rộng đối ngoại của Đảng
và Nhà nước trong tình hình mới .
Thượng tướng HOÀNG XUÂN CHIẾN, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Ủy viên Quân ủy Trung ương, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng
Hot (焦点)
-
胡志明是二十世纪越南革命杰出的马克思主义思想家。他老人家的思想是马克思列宁主义在符合越南的条件和历史背景基础上的运用、发展与创新,体现着时代精神及现代与当代世界的运动与发展趋势。 1 、胡志明思想、道德、风格体系的道德榜样。他老人家的思想合成了越南革命及革命之路的战略策...
-
为维护国家海岛主权,越南历代封建王朝都着重投资建设强大的水军力量。越南丁、李、陈、黎、阮等王朝的水军力量不断得到加强和完善。这支水军为捍卫祖国事业作出了巨大贡献,在各个阶段留下了历史烙印。 至今还收藏的古籍显示,越南历代封建王朝早已对黄沙群岛和长沙群岛确立主权、实施...
-
1954 年《日内瓦协议》签署之后,越南暂时被分成南北两方不同政治制度的政体。据此,越南北纬 17 度以南的领土(包括黄沙、长沙两群岛)由越南共和国政府管辖。根据《协议》规定,法国殖民者被迫撤离越南之后,西贡政权立即派遣海军力量接管黄沙、长沙两群岛并对其行使主权。与此同时,...
-
(VOVWORLD) - 越南伟大领袖胡志明主席的思想、道德、作风、革命生涯是越南全党、全民学习和实践胡志明道德榜样的生动和具有说服力的楷模。至今,越南开展学习和实践胡志明道德榜样运动已有 8 年并取得多项重要结果。 胡志明主席在其革命生涯中牺牲个人利益,为祖国和人...
-
越南的黄沙群岛位于东海(中国称南海)北边,处于北纬 15°45′ 至 17°15′ 、东经 110° 至 113° ,距越南广义省李山岛约 120 海里。黄沙群岛由 37 多个岛、洲、礁和沙滩组成,分为西面和东面两个群岛。东面为安永群岛(中国称宣德群岛),由 12 个岛、洲...
-
数十年来,中国人拿出大量书籍、资料和史料,企图证明从两千年前的汉朝起,中国人就发现了西沙和南沙(即越南的黄沙群岛和长沙群岛),从而说古代中国发现西沙南沙群岛就足够证明中国对西沙和南沙的不可争议的领土主权。据说,中国人最迟于唐宋发现南沙群岛至今,就一直在岛上及其海域从事生产活...
-
越南对黄沙、长沙两座群岛的主权不仅在越南古籍和古文献中有记载,而且还出现在西方航海家和传教士等的书籍、报纸、地图、日记、航路指南等外国资料中。这些资料描述黄沙、长沙“是越南中部海上的一块沙渚…”,这和越南同一历史时期资料和古地图描述的类似。法国 1936 年在印度支那建立的...
-
BDN - 位于东海边国土陆地呈 “S” 字形的越南,无形中拥有沿着国土走向三千公里海岸及依照 1982 年《联合国海洋法公约》从岸边向外延伸的辽阔海域。这意味着从越南 1982 年 11 月确定和公布的垂直基线算起往外延伸 200 海里宽的海域属越南的主权,被称作专属经济...
-
从十六、十七世纪至今,西方国家的轮船日益频繁来往于东海。他们来到这里,不只为了扩大贸易还为了传教和传播西方文化。在来往东海期间,西方航海家和传教士们以当时最现代的技术很详细地描述和绘画黄沙群岛和长沙群岛,以避免这两个群岛的礁石给来往的船舶造成危害。为此,他们很仔细地研究东海...
-
香港媒体最近透露中国在东海划分“新边界线”的海洋研究项目,为“资源研究”创造了条件,北京对这片海域的主权主张“增添了筹码”。这条新边界线是一条与囊括了蕴藏着丰富矿产和能源资源的东海海域九段线相吻合的实线,九段线内的海域就是北京声索主权的那片海域。 从国际法的角度来看实线...




.jpg)





