东海渔业管理与环境保护行动计划
05:49 |
东海渔业管理与环境保护行动计划是有关各方推动共同管理和维护东海稳定的工具之一。这是由美国国际战略研究中心于2017年底提出的倡议。这是国际专家的首个研究课题,旨在向东海声索国提供一种具有可操作性的海上争议管理合作模式。
东海渔业管理与环境保护行动计划由美国国际战略研究中心亚洲海事透明倡议提出,其中将成立由法律、政策与环境资深专家组成的专家组。目的是形成有关东海渔业管理和海洋环境保护的行为准则模板。
所有国家都有义务合作保护海洋环境
据东海战略研究院提供的数据显示,东海是世界上5大渔产区之一,2015年,占全球捕捞量约12%。世界上50%以上的渔船在该海域作业。因此,按照上述行动计划,包括主权和非主权声索国在内的地区各国都有义务合作保护海洋环境和渔业资源。
海事透明倡议主任波林认为,与石油开发只能在沿海各国对大陆架的主权权利范围内实施不同,共同管理海洋生物资源的义务使渔业管理与环保成为东海上更易于推动合作的领域。东海各国完全有能力有效合作保护上述生态系和管理渔业资源,而不影响海上主权主张和重叠领土。
波林表示:“政治方面,这是完全具有可操作性的计划。因为它排除了领土主权争端因素。主权声索国加入上述计划并同意计划内容并不意味着妥协,也不意味着放弃主权要求,不意味着承认其他国家的领土主权或他国要求。计划的主要内容仅涉及东海渔业管理和环保合作”。
《联合国海洋法公约》第123条规定:“闭海或半闭海沿岸国行使和履行协调海洋生物资源的管理和保护海洋环境方面的权利和义务。因为海洋生物资源可自由移动到不同地区而无需各国允许。《联合国海洋法公约》第192条规定:各国有保护和保全海洋环境的一般义务。
通过多边合作保护海洋环境
那么,《公约》已经明文规定关于合作管理渔业及海洋环境的国际法律义务。这也符合实际情况的要求。东海周边居民在粮食安全、生计等方面都依赖东海渔业资源。
不过,渔业捕捞量近几年则出现下降,原因是过度捕捞与故意毁坏环境等因素所致。据美国国际战略研究中心提出的东海渔业管理及环境保护行动计划,通过在争议海域进行多边合作保护海洋环境要成为必然趋势。
波林说:“若只顾解决争端,我们就要面对两个选择。一,解决好领土争端后才能谈到东海渔业管理及环保问题。二,在解决领土争端的同时,我们也要立刻采取措施,因为东海渔业管理及环境保护已刻不容缓。”
东海渔业管理及环境保护行动计划指出,地区内各国要马上启动设立东海渔业与环境管理区;规定有关各方的责任,如:主权声索国要负责管控并阻止违反禁渔规定的船只等工作。此外,有关各方要避免采取吸泥、改造岛屿或在未有任何国家管理的珊瑚礁上新建设施等破坏海洋环境的行为。最后,各国要制定海洋科研合作计划,旨在使环保努力见到成效。
Kế hoạch Hành động về Quản lý nghề cá và bảo vệ Môi trường Biển Đông
05:48 |
Sáng kiến Kế hoạch Hành động về Quản lý nghề cá và bảo
vệ Môi trường Biển Đông của CSIS nhằm cung cấp một mô hình hợp tác khả thi cho
các nước yêu sách ở Biển Đông về quản lý tranh chấp biển.
Kế hoạch Hành động về Quản lý nghề cá và bảo vệ Môi
trường Biển Đông, một phương tiện để các bên thúc đẩy quản lý chung và duy trì ổn
định khu vực Biển Đông, là sáng kiến do Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc
tế (CSIS) Mỹ công bố cuối năm 2017. Đây là một nghiên cứu đầu tiên của các
chuyên gia quốc tế nhằm cung cấp một mô hình hợp tác khả thi cho các nước yêu
sách ở Biển Đông về quản lý tranh chấp biển.
Chương trình Kế hoạch Hành động về Quản lý nghề cá và
bảo vệ Môi trường Biển Đông của tổ chức Sáng kiến Minh bạch Hàng hải châu Á do
CSIS đưa ra, theo đó thành lập một nhóm chuyên gia đến từ các nước khu vực am
hiểu luật pháp, chính sách và môi trường. Mục đích của chương trình là đưa ra
những hình mẫu về quy tắc ứng xử liên quan quản lý nghề cá và bảo tồn môi trường
ở biển Đông.
Tất cả các quốc
gia có nghĩa vụ hợp tác bảo vệ môi trường biển
Theo số liệu từ Viện nghiên cứu chiến lược Biển Đông,
Biển Đông là một trong năm khu vực đánh bắt cá năng suất cao trên thế giới, chiếm
khoảng 12% tổng lượng đánh bắt cá toàn cầu trong năm 2015. Hơn một nửa tàu cá
trên thế giới hoạt động trong vùng biển này. Vì tầm quan trọng như vậy nên việc
các quốc gia trong khu vực, kể cả những quốc gia có yêu sách về chủ quyền hay
không, đều có nghĩa vụ hợp tác bảo vệ môi trường biển và quản lý nguồn cá, theo
nội dung mà sáng kiến Kế hoạch hành động về quản lý nghề cá và bảo vệ môi trường
biển Đông đưa ra.
Theo ông Gregory Poling, Giám đốc Chương trình sáng kiến
Minh bạch Hàng hải, Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế (CSIS) Mỹ, khác
với việc khai thác dầu khí chỉ có thể thực hiện dựa trên quyền chủ quyền của quốc
gia ven biển với thềm lục địa, nghĩa vụ cùng nhau quản lý nguồn tài nguyên sinh
vật biển khiến cho việc quản lý nghề cá và bảo vệ môi trường trở thành một lĩnh
vực dễ thúc đẩy hợp tác hơn ở Biển Đông. Các quốc gia xung quanh Biển Đông hoàn
toàn có khả năng hợp tác hiệu quả để bảo vệ những hệ sinh thái này và quản lý
nguồn cá mà không làm ảnh hưởng đến các yêu sách biển và lãnh thổ chồng lấn.
"Về mặt chính trị, đây là một kế hoạch hoàn toàn
khả thi, bởi bản kế hoạch này bỏ ngoài những yếu tố tranh chấp chủ quyền lãnh
thổ. Việc các bên có yêu sách chủ quyền tham gia vào kế hoạch cũng như đồng ý
các nội dung trong bản kế hoạch không đồng nghĩa họ thỏa hiệp với nhau; không đồng
nghĩa với việc họ từ bỏ những yêu sách về chủ quyền của mình, cũng không đồng
nghĩa với việc họ công nhận chủ quyền lãnh thổ hay yêu sách của các quốc gia
khác mà nội dung chính của bản kế hoạch này chúng tôi tập trung vào yêu cầu hợp
tác về quản lý nghề cá, bảo vệ môi trường biển ở Biển Đông" - ông Gregory
Poling nói.
Điều 123 Công ước Liên Hợp Quốc về Luật biển (UCNLOS)
đã quy định: Các quốc gia xung quanh vùng biển nửa kín như Biển Đông có nghĩa vụ
hợp tác bảo vệ môi trường biển và quản lý nguồn cá. Bởi các tài nguyên sinh vật
biển tự do di chuyển đến tất cả các khu vực khác nhau mà không cần sự cho phép
của thẩm quyền quốc gia. Điều 192 UNCLOS
cũng quy định nghĩa vụ chung cho các quốc gia “bảo vệ và bảo tồn môi trường biển”.
Gìn giữ môi trường biển thông qua hợp tác đa phương
Như vậy, nghĩa vụ pháp lý quốc tế về hợp tác quản lý
nghề cá và môi trường biển được quy định rất rõ và hoàn toàn phù hợp với nhu cầu
thực tế. Các cộng đồng dân cư xung quanh Biển Đông hiện đang phụ thuộc mạnh mẽ
vào nguồn cá cả về an ninh lương thực và kế sinh nhai của người dân.
Tuy nhiên tại khu vực, tỷ lệ đánh bắt cá sụt giảm
trong những năm gần đây do sự kết hợp của hai nhân tố gồm đánh bắt cá quá mức
và việc phá hủy môi trường có chủ ý. Gìn giữ môi trường biển thông qua hợp tác
đa phương ở các vùng biển tranh chấp phải là xu thế tất yếu, theo Kế hoạch Hành
động về Quản lý nghề cá và bảo vệ Môi trường Biển Đông mà CSIS đưa ra. Ông
Poling khẳng định thêm: "Nếu chúng ta cứ nhất nhất chú tâm vào câu chuyện
giải quyết tranh chấp thì có lẽ chúng ta sẽ phải đứng trước 2 lựa chọn. Thứ nhất
bao giờ giải quyết xong tranh chấp lãnh thổ thì mới có thời gian nói về quản lý
nghề cá và bảo vệ môi trường Biển Đông. Thứ hai, song song việc giải quyết
tranh chấp lãnh thổ, chúng ta phải có những động thái ngay lập tức vì quản lý,
khai thác nguồn cá và vấn đề môi trường biển Đông không thể đợi được".
Sáng kiến Kế hoạch Hành động về Quản lý nghề cá và bảo
vệ Môi trường Biển Đông của CSIS chỉ ra rằng các quốc gia trong khu vực cần
nhanh chóng triển khai các nội dung như: Thiết lập Khu vực Quản lý Môi trường
và Nghề cá ở Biển Đông; Quy định phạm vi trách nhiệm của các bên ví dụ như các
nước yêu sách cần chịu trách nhiệm kiểm soát và ngăn chặn các tàu vi phạm các quy định hạn chế đánh bắt cá.
Ngoài ra tất cả các nước tránh các hành động phá hủy môi trường biển nào như nạo
vét, cải tạo đảo, hay xây dựng các cơ sở trên các rạn san hô chưa có nước nào
kiểm soát. Cuối cùng tất cả các quốc gia cần có kết hoạch hợp tác về nghiên cứu
khoa học biển nhằm triển khai hiệu quả các nỗ lực bảo tồn.
当前东海主权争端的略讲
05:27 |
按照国际社会的观念,目前,面对自然资源枯竭的威胁,海洋被视为人类的食物、能源、原材料的最后一个储备库,其中,东海也不列外。东海自然资丰富但是该地区也存在很多历史长期与复杂的海岛主权争端。
越南位于东海西岸,海岸线长达3260公里,海域面积超过100万平方公里,有3000多个岛屿,还有黄沙群岛和长沙群岛属于前哨的位置并接近地区国家的海域。因此,在两个群岛的海域中特别是在长沙群岛地区长期以来已经存在着各方面之间非常复杂的争端
(1)。根据与获取领土权有关的国际法和国际惯例的原则,越南对黄沙群岛和长沙群岛拥有无可争辩的主权。特别是根据1982年“联合国海洋法公约”,越南对包括黄沙群岛和长沙群岛的海域和大陆架拥有主权,主权权利和管辖权,符合于公约,得到国际社会的承认。
然而,因为多种不同的原因,有一些国家和领土已经与越南对黄沙群岛和长沙群岛存在争议
(2)。另外一个方面,由于东海周边国家关于1982年“联合国海洋法公约”解释和适用不同,所以在东海地区已经形成重叠的海域和大陆架。从这个事实来看,在东海目前存在两种主权争议,主要是:
1.对越南的黄沙群岛和越南的长沙群岛的领土主权争端;
2.东海周边国家的重叠海域和重叠大陆架的海上边界问题争议。
这是长期、复杂并不断增强的双边或多边争端,该争端潜在的不可预测的风险,威胁到该地区和世界的和平与稳定。越南的立场很清楚,就是:即在遵守国际法,特别是1982年“联合国海洋法公约”的基础上,按照国际社会的路线图,用和平方法来解决东海问题,在等公平、客观的一个解决方式的同时,国际舆论认为各方应当约束,维持现状,不使用或威胁使用武力,不采取使争议复杂化、扩大化行动等等旨在促进本地区和世界的和平与稳定。
Khái quát về tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông
05:23 |
Theo quan niệm
của cộng đồng quốc tế, hiện nay, trước nguy cơ cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên
trên đất liền, thì biển và đại dương được coi là nơi dự trữ cuối cùng của loài
người về các nguồn lương thực, thực phẩm, năng lượng, nguyên - nhiên liệu và Biển
Đông cũng không phải là ngoại lệ. Đó là khu vực biển giàu tài nguyên thiên
nhiên, nhưng nơi đây cũng chứa đựng nhiều mâu thuẫn lợi ích liên quan đến các
tranh chấp chủ quyền biển, đảo, phức tạp và kéo dài trong lịch sử.
Việt Nam là
quốc gia nằm ven bờ Tây của Biển Đông, có bờ biển dài 3.260 km, vùng biển rộng
khoảng trên 1 triệu km2, với hơn 3.000 hòn đảo lớn nhỏ, cùng hai quần đảo Hoàng
Sa và Trường Sa nằm ở vị trí tiền tiêu và liền kề với vùng biển của các nước
trong khu vực. Chính vì thế, xung quanh hai quần đảo này, nhất là đối với quần
đảo Trường Sa, từ lâu đã tồn tại các tranh chấp về chủ quyền giữa các bên1 hết
sức phức tạp. Căn cứ vào nguyên tắc của luật pháp và thực tiễn quốc tế có liên
quan đến quyền thụ đắc lãnh thổ, Việt Nam có chủ quyền không thể tranh cãi đối
với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Đặc biệt, căn cứ vào Công ước của Liên
hợp quốc về Luật Biển năm 1982, Việt Nam có chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền
tài phán đối với các vùng biển và thềm lục địa bao hàm cả quần đảo Hoàng Sa và
quần đảo Trường Sa được xác lập là phù hợp với Công ước, được cộng đồng quốc tế
thừa nhận.
Tuy nhiên,
do nhiều nguyên nhân khác nhau, một số nước và vùng lãnh thổ đã tranh chấp chủ
quyền lãnh thổ với Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa2. Mặt
khác, do việc giải thích và áp dụng Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm
1982 của những nước có biển, nằm ven bờ Biển Đông khác nhau, nên đã hình thành
các khu vực biển và thềm lục địa chồng lấn. Từ thực tế đó, tại Biển Đông hiện
đang tồn tại hai loại tranh chấp chủ quyền biển, đảo chủ yếu:
1. Tranh chấp
chủ quyền lãnh thổ đối với quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa thuộc chủ
quyền của Việt Nam.
2. Tranh chấp
trong việc xác định ranh giới các vùng biển và thềm lục địa chồng lấn giữa các
nước có vùng biển liền kề hay đối diện ở xung quanh Biển Đông.
Đây là những
tranh chấp kéo dài, phức tạp và ngày càng gia tăng giữa hai hoặc nhiều bên, tiềm
ẩn nguy cơ khó lường, đe dọa hòa bình, ổn định ở khu vực và thế giới. Quan điểm
của Việt Nam là rất rõ ràng, rằng: giải quyết các tranh chấp này cần tiến hành
bằng biện pháp hòa bình, trên cơ sở tuân thủ luật pháp quốc tế, nhất là Công ước
của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982, theo lộ trình phù hợp với sự chung tay
của cộng đồng quốc tế. Trong khi chờ một giải pháp công bằng, khách quan, dư luận
quốc tế cho rằng, các bên cần kiềm chế, giữ nguyên hiện trạng, không sử dụng hoặc
đe dọa sử dụng vũ lực, không có các hành động làm phức tạp tình hình hay mở rộng
tranh chấp,… nhằm gìn giữ môi trường hòa bình, ổn định cho khu vực và trên thế
giới.
越南履行人权的成就是不可否认的
05:21 |
2018年1月19日,越南外交部公布了《越南保护和促进人权》白皮书。
这是第二次越南公布人权白皮书。2005年,越南外交部已对外公布《越南保护和促进人权领域的成就》一书。越南国家公布白皮书旨在介绍国家在人权领域的成就,公开表明有关人权的观点、认识与需要克服的不足之处。
此次公布的《越南保护和促进人权》一书的内容编有四章。第二章提及越南在实施公民、政治、社会、文化以及弱势人群等权利所取得的成就。此次公布的《越南保护和促进人权》一书中,越南公开7个优先事项,即继续完善法律系统,确保在符合2013年宪章和越南所签署的国际承诺基础上更好落实人民基本权利和自由;推动经济社会发展,为消除贫困和饥饿、提高人民的物质和精神生活创造便利条件;提高接近各种社会保障类型的能力;改善包括人权教育在内的教育质量以发展人力资源,旨在提高人民对该问题的认识和执法机构的能力;积极促进性别平等,将其视为建设强大的人力资源和提高每个人、每个家庭和全社会的生活质量的重要因素;做好社会保健工作,面向一个健康的社会并充分获得体质和精神保健服务;与世界和地区各国、有关人权的各机制和专业组织加强合作。
越南履行人权的成就和观点是明显和正确的。但仍有些个人和组织在网站上散发歪曲捏造和故意否认越南人权实际情况的文章。他们否认越南国家在完善法律系统与当前反贪反腐斗争所作出的努力。他们错误认为,“近期各部法案的修改只是党意而不是民心的”。他们保卫那些因进行歪曲制度本质的宣传行为受处置的罪犯(诸如在安江挂黄旗的一群青年)。他们甚至表示保卫杀人者(诸如在得农省被判死刑的邓文献)等。关于反贪反腐斗争,他们写道,这仅是“内部争斗和派系清除,而不是为了公理和人民的利益”。
不过,越南社会发展历程表明,过去时间,由于战争漫长的原因,越南对人权的认识还片面。在1975-1986年阶段,越南国家主张建设旧式社会主义社会模式。这导致公民的许多权利,其中有个人自由做经济权利被限制。从1986年建设新式社会主义社会模式以来,越南党和国家已调整政治、经济路线,建设法权社会主义国家和社会主义定向市场经济。值得一提的是,2013年,越南国会通过了新宪法。该重要文件的第二章全部内容都对人权、公民的权利和义务作出规定。其中的公民、政治、经济、社会、文化等权利都符合国际社会的共同准则。
上述“认定”和“宣布”的错误之处在于他们片面地理解国际人权法。正确地说他们仅仅把人权视为个人的权利。在国际人权法中都充分规定个人的权益以及国家民族的权益。1966年《公民权利和政治权利国际公约》第一条规定:“所有人民都有自决权。他们凭这种权利自由决定他们的政治地位,并自由谋求他们的经济、社会和文化的发展。公约缔约各国,应在符合联合国宪章规定的条件下,促进自决权的实现,并尊重这种权利”。民族自决权不是个人的权利,也不是个别社会群体的权利,而是国家、国会和政府的权利。在手续方面,外交部被任命代表机关参加磋商和签署。
1966年《公民权利和政治权利国际公约》第一条规定的主要内容是越南刑事法、宗教法乃至越南法律的制定权属于越南国会。这不仅是政治而且还出于实践要求。
为了充分落实2013年宪法,尤其是关于人权、公民权利和义务的第二章,2015年刑事法得到越南国会朝着尊重人道法、人权法方向进行修改。诸如,从2018年1月1日,被判死刑的贪污、贿赂的人可以得到免死罪若已主动缴纳贪污、受贿财产的四分之三,并积极配合职能机关发现、调查和处理犯罪或立下大功。用折磨、虐待、威胁精神、声索财产或其他手段来阻碍别人离婚的人,若已被行政处罚仍重新再犯就被警告处罚,至3年的不拘留改造处罚,或被判处3个月至3年徒刑。
为了克服交通事故状况,保卫公民的生活权,刑事法规定步行者不在规定的道路上行走,导致严重事故后果将被追究刑事责任。
上述法律规定难道是“内部争斗和派系清除”?
1966年《公民权利和政治权利国际公约》中,不是所有的个人权利都是绝对权,许多权力也被限制。诸如信仰宗教自由权,结社和集会权利。该公约第18条规定:“人人有权享受思想、良心和宗教自由。此项权利包括维持或改变他的宗教或信仰的自由。任何人不得遭受足以损害他维持或改变他的宗教或信仰自由的强迫。表示自己的宗教或信仰的自由,仅受法律所规定的以及为保障公共安全、秩序、卫生或道德、或他人的基本权利和自由所做出的限制”。
关于集会权利(该公约第21条)与结社权利(第22条)规定为维护国家安全或公共安全、公共秩序,保护公共卫生或道德,或他人的权利和自由而被限制。这意味着某个社会组织未得到国家承认将不得到国家保护。类似的,集会、游行活动未经职能机关允许是违反法律,会被镇压。
截至目前,不分政治体系,发展水平、文化传统等,所有国家都设有法律规定,旨在保卫制度、宪法、国家和执政党。2017年2月24日,Janet阮参议员由于在参议院上发表演讲时指责已故参议员Tom Hayden(电影演员Jane Fonda的丈夫——越南战争反对者)已被主持人要求保安力量强制拉出会议室是一个例子。
关于当前越南反腐反贪斗争,法律对郑春清和同犯的审判正在得到人民支持,由于该斗争不仅没有“禁区”,而且还可以使用一切必要方式来斗争。
有的人说人权就像地平线那样越走越远。这意味着人权保障工作是没有界限的,因为人对权益和责任的认识一直得到提高。重要的是人们应对人权给以正确的认识,并朝着正确方向推动其发展。对于越南民族,人权是由越南人民在越南共产党领导下,从1945年八月革命夺来的。越南党和国家绝不与这个革命价值背道而驰。任何人借口“反辩”,企图提出歪曲、否认越南社会主义共和国的人权成就的言论一律是不可接受的。
Không thể phủ nhận được thành quả về quyền con người ở Việt Nam
05:20 |
Ngày
19-1-2018, Bộ Ngoại giao nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa (XHCN) Việt Nam đã công
bố “Sách trắng về quyền con người với chủ đề “Bảo vệ và thúc đẩy quyền con người
ở Việt Nam”.
Đây là lần
thứ hai Việt Nam công bố sách trắng về quyền con người (QCN). Năm 2005, lần đầu,
Bộ Ngoại giao Việt Nam đã công bố cuốn sách “Thành tựu bảo vệ và phát triển các
quyền con người ở Việt Nam”. Việc Nhà nước Việt Nam công bố sách trắng không chỉ
nhằm nêu lên những thành quả về nhân quyền của đất nước mà còn công khai quan
điểm, nhận thức và cả những hạn chế cần được khắc phục trong thời gian tới.
Sách trắng về
QCN năm nay của Việt Nam gồm 4 chương, trong đó Chương II đề cập tới thành tựu
của Việt Nam trong thực hiện quyền dân sự, chính trị, xã hội, văn hóa, quyền của
các nhóm dễ bị tổn thương… Điều mới mẻ của sách trắng năm nay là Nhà nước Việt
Nam đã công khai 7 hướng ưu tiên, đó là: (1) Tiếp tục kiện toàn hệ thống pháp
luật nhằm bảo đảm thực hiện tốt hơn các quyền và tự do cơ bản của người dân
trên cơ sở phù hợp với Hiến pháp 2013 và các cam kết quốc tế của Việt Nam; (2)
Đẩy mạnh phát triển kinh tế-xã hội nhằm nâng cao điều kiện, nguồn lực phục vụ
công tác xóa đói, giảm nghèo, nâng cao chất lượng đời sống vật chất và tinh thần
cho người dân; (3) Nâng cao khả năng tiếp cận với các loại hình an sinh xã hội;
(4) Cải thiện chất lượng giáo dục nhằm phát triển nguồn nhân lực, trong đó có
giáo dục về quyền con người nhằm nâng cao nhận thức của người dân và các cơ
quan thực thi pháp luật trong vấn đề này; (5) Thúc đẩy bình đẳng giới, nâng cao
chất lượng cuộc sống cho mỗi cá nhân, mỗi gia đình; (6) Chăm sóc sức khỏe cộng
đồng, hướng đến một xã hội được chăm sóc sức khỏe đầy đủ cả về thể chất và tinh
thần; (7) Tăng cường hợp tác về quyền con người với tất cả các quốc gia, các cơ
chế và tổ chức chuyên môn của khu vực và toàn cầu.
Những thành quả
và quan điểm của Việt Nam về QCN là rất rõ ràng, đúng đắn. Thế nhưng trên một số
trang mạng vẫn có những cá nhân, tổ chức tán phát bài viết xuyên tạc, bác bỏ, cố
tình phủ nhận những thực tế về QCN ở Việt Nam. Họ phủ nhận tất cả, từ những nỗ
lực của Nhà nước Việt Nam trong việc hoàn thiện pháp luật đến cuộc đấu tranh chống
tham nhũng hiện nay. Họ “nhận định” rằng “các đạo luật sửa đổi vừa qua chỉ theo
“ý Đảng chứ không theo lòng dân” (!?). Họ bảo vệ những kẻ bị pháp luật trừng phạt
do có những hành vi tuyên truyền xuyên tạc bản chất chế độ (như nhóm thanh niên
treo cờ vàng ở An Giang). Thậm chí họ lên tiếng bảo vệ cả kẻ giết người (đã bị
tòa án tuyên phạt tử hình như Đặng Văn Hiến ở Đắc Nông)... Về cuộc đấu tranh chống
tham nhũng, họ viết: Đó chỉ là cuộc “đấu đá nội bộ và thanh trừng phe nhóm, chứ
không phải vì công lý và ích lợi nhân dân”.
Không phủ nhận
trong nhiều thời kỳ lịch sử đã qua, do điều kiện chiến tranh kéo dài nên nhận
thức về QCN của Việt Nam còn phiến diện. Trong giai đoạn 1975-1986, Nhà nước Việt
Nam chủ trương xây dựng mô hình xã hội XHCN kiểu cũ với nhà nước chuyên chính
vô sản và mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung bao cấp, xóa bỏ kinh tế tư bản,
tư nhân… Điều này, dẫn đến nhiều QCN, trong đó có quyền tự do làm kinh tế của
cá nhân bị hạn chế. Trong mô hình xã hội XHCN kiểu mới (từ năm 1986 đến nay), Đảng,
Nhà nước Việt Nam đã điều chỉnh đường lối chính trị, kinh tế với Nhà nước pháp
quyền XHCN và nền kinh tế thị trường định hướng XHCN… Đặc biệt, năm 2013, Quốc
hội Việt Nam thông qua Hiến pháp mới-Hiến pháp 2013. Văn kiện quan trọng này
dành cả một chương (Chương II), quy định về “Quyền con người, quyền và nghĩa vụ
công dân”. Chương này quy định đầy đủ các QCN, từ quyền dân sự, chính trị đến
các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa theo những chuẩn mực chung của cộng đồng
quốc tế mà Việt Nam là một thành viên có trách nhiệm.
Sai lầm của
những người soạn thảo ra những “nhận định” và “tuyên bố” tán phát trên mạng là:
(1) Trước hết họ đã hiểu Luật quốc tế về QCN một cách phiến diện. Nói cho đúng
hơn họ chỉ xem QCN là quyền của cá nhân. Trong khi Luật quốc tế về QCN quy định
đầy đủ, gồm quyền và lợi ích của cá nhân và quyền và lợi ích của quốc gia, dân
tộc. Điều 1 (Phần I), “Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị"
năm 1966, quy định: “1. Mọi dân tộc đều có quyền tự quyết. Xuất phát từ quyền
đó, các dân tộc tự do quyết định thể chế chính trị của mình và tự do phát triển
kinh tế, xã hội và văn hóa… Các quốc gia thành viên Công ước này … phải thúc đẩy
việc thực hiện quyền tự quyết dân tộc và phải tôn trọng quyền đó phù hợp với
các quy định của Hiến chương Liên hợp quốc”. Quyền dân tộc tự quyết không phải
là quyền của cá nhân, cũng không phải là phép cộng của các nhóm xã hội mà là
quyền của nhà nước, của quốc hội, chính phủ. Về mặt thủ tục thì bộ ngoại giao
được giao làm cơ quan đại diện, trong thương thuyết và ký kết.
Trở lại nội
dung của Điều I, quy định nói trên có nghĩa: Pháp luật Việt Nam nói chung, Luật
Hình sự, Luật Tôn giáo nói riêng mà những người soạn thảo “nhận định"… phê
phán là thuộc quyền của Quốc hội Việt Nam. Điều này không chỉ về mặt chính trị
mà còn từ thực tế.
Nhằm thực hiện
đầy đủ hơn những quy định của Hiến pháp 2013, trong đó có Chương II về QCN, quyền
và nghĩa vụ công dân, Bộ luật Hình sự (năm 2015) được Quốc hội Việt Nam sửa đổi
theo hướng tôn trọng luật nhân đạo và luật nhân quyền hơn so với Bộ luật Hình sự
1999. Chẳng hạn: Từ ngày 1-1-2018, người tham ô, hối lộ bị kết án tử hình có thể
được miễn tội chết “nếu đã chủ động nộp lại ít nhất ba phần tư tài sản tham ô,
nhận hối lộ và hợp tác tích cực với cơ quan chức năng trong việc phát hiện, điều
tra, xử lý tội phạm hoặc lập công lớn”. Hoặc người “cản trở người khác ly hôn bằng
cách hành hạ, ngược đãi, uy hiếp tinh thần, yêu sách của cải hoặc bằng thủ đoạn
khác, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt
cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến
03 năm”.
Nhằm khắc phục
tình trạng tai nạn giao thông, bảo vệ quyền sống của con người, bộ luật này quy
định người đi bộ “Không đi đúng phần đường quy định (trường hợp vượt qua dải
phân cách; đi qua đường không đúng nơi quy định hoặc không bảo đảm an toàn…)
gây hậu quả nghiêm trọng sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự”… Chẳng lẽ những
quy định pháp luật như trên là vì “đấu đá nội bộ và thanh trừng phe nhóm” như
những người soạn thảo “nhận định” và "tuyên bố” rêu rao hay sao?
Trong
"Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị" năm 1966, không
phải tất cả các quyền cá nhân đều là quyền tuyệt đối mà nhiều quyền bị hạn chế.
Chẳng hạn quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; quyền về lập hội và hội họp là những
ví dụ. Điều 18, quy định: “Mọi người đều có quyền tự do tư tưởng, tự do tín ngưỡng
và tôn giáo. Quyền này bao gồm tự do có hoặc theo một tôn giáo hoặc tín ngưỡng…
Không ai bị ép buộc làm những điều tổn hại đến quyền tự do lựa chọn hoặc tin
theo tôn giáo… Quyền tự do bày tỏ tôn giáo hoặc tín ngưỡng có thể bị giới hạn bởi
pháp luật và khi sự giới hạn đó là cần thiết để bảo vệ an ninh, trật tự công cộng,
sức khỏe hoặc đạo đức xã hội, hoặc để bảo vệ các quyền và tự do cơ bản của người
khác…”.
Về quyền hội họp (Điều 21) và quyền lập hội
(Điều 22) Công ước nói trên quy định “có thể bị hạn chế “vì lợi ích an ninh quốc
gia, an toàn và trật tự công cộng, và để bảo vệ sức khỏe và đạo đức xã hội hoặc
bảo vệ quyền và tự do của những người khác”. Điều này có nghĩa những tổ chức xã
hội nào đó chưa được nhà nước thừa nhận sẽ không được nhà nước bảo hộ. Tương tự
như vậy những cuộc hội họp, biểu tình chưa được các cơ quan chức năng cho phép
là vi phạm pháp luật và có thể bị trấn áp.
Cho đến nay tất cả quốc gia dân tộc, không
phân biệt chế độ chính trị, trình độ phát triển, bản sắc văn hóa đều có những
quy định pháp luật để bảo vệ chế độ, bảo vệ hiến pháp, bảo vệ nhà nước và bảo vệ
đảng cầm quyền. Còn nhớ, ngày 24-2-2017, Thượng nghị sĩ Janet Nguyễn đã bị lực
lượng bảo vệ cưỡng chế đưa ra khỏi phòng họp, theo lệnh của chủ tọa vì trong diễn
văn đọc trước Thượng viện đã chỉ trích Thượng nghị sĩ quá cố Tom Hayden (chồng
của nghệ sĩ điện ảnh Jane Fonda, người phản đối chiến tranh Việt Nam) là một ví
dụ.
Về cuộc đấu
tranh chống tham nhũng hiện nay, phiên tòa xét xử Trịnh Xuân Thanh và đồng phạm
đang được nhân dân hoan nghênh vì chứng tỏ cuộc đấu tranh này là cuộc đấu tranh
không chỉ “không có vùng cấm” mà còn được sử dụng tất cả những phương thức cần
thiết để đấu tranh.
Có người
nói, QCN như đường chân trời… người ta càng đi tới thì đường chân trời càng lùi
xa hơn. Điều đó có nghĩa việc bảo đảm QCN là không bao giờ đủ vì nhận thức về
quyền, lợi ích và trách nhiệm của người dân luôn luôn được nâng cao. Điều quan
trọng là mọi người cần nhận thức đúng về QCN và thúc đẩy phát triển nó đúng hướng.
Đối với dân tộc Việt Nam, QCN là do nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng
Cộng sản Việt Nam đứng lên giành lại từ cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945.
Không có lý do gì Đảng và Nhà nước Việt Nam đi ngược lại những giá trị của cuộc
cách mạng đó. Những ai kiếm cớ “phản biện” để đưa ra những "nhận định"
xuyên tạc, phủ nhận thành quả về QCN của Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam là
không thể chấp nhận được.
和平解决海上争端的“国际共识”
05:14 |
长期以来,通过和平手段解决各国间的争端一直是一个必然趋势,且深受世界各国的支持。1982年联合国海洋法公约(以下简称为1982公约)肯定了所有缔约国通过和平手段解决争端问题的基本原则。这也完全符合联合国宪章。那么,和平手段的内涵包括哪些问题?
根据国际法律、惯例和实践,通过和平手段解决各国间的海上争端可以理解为:(1)在尊重国际法律与实践和相互平等、相互尊重的基础上,通过(双边或多边)和平谈判,以求达成与各方公平的解决办法;(2)通过国际公理仲裁、国际海洋法法庭等仲裁等中介和解机构解决争端。具体说,1982公约规定:缔约国间的任何争端首先要通过交换意见与和解等办法解决。如经过一定的时间,争端仍未得到解决,有关各方有义务通过司法手段解决问题。1982公约允许有关各方有权利选择以下四个机制:国际公理仲裁、国际海洋法法庭、第七号附录国际仲裁、第八号国际仲裁。如果有关各方未能选择上述四个机制,将采用第七号附录的国际仲裁——强迫机制来解决争端。
国际实践表明,世界上诸多国家(甚至包括相互关系友好的国家)经过谈判无果而终后,把争端问题送到国际仲裁机构仲裁并认真执行,但也有个别场合不承认、不执行国际仲裁的裁决。通过国际仲裁得到解决的典型例子包括:1984年美国与加拿大缅因湾专属经济区划界问题、2003年马来与印尼诸岛主权争端问题、2008年马来与新加坡诸岛主权争端等。菲律宾就东海争端问题提出仲裁一事根据1982公约第七号附录得以成立。2016年所得出的仲裁结果也是通过和平手段解决海上争端,深受国际社会的欢迎和赞赏。
可以肯定说,通过和平手段解决海上争端一直并将是国际社会所支持的时代必然趋势。这是世界各国遵守1982公约等国际法律的重要依据,也有助于维护和平稳定的环境,维护世界各海域上的安全与航行安全。
“Nhận thức quốc tế” về giải quyết tranh chấp trên biển bằng biện pháp hòa bình
05:10 |
Đã từ lâu,
việc giải quyết tranh chấp giữa các quốc gia bằng các biện pháp hòa bình là xu
hướng tất yếu, được đa số các nước trên thế giới ủng hộ. Công ước của Liên hợp
quốc về Luật Biển năm 1982 (sau đây gọi tắt là Công ước 1982) đã khẳng định
nguyên tắc cơ bản trong giải quyết tranh chấp giữa các quốc gia thành viên là
thông qua các biện pháp hòa bình. Điều này cũng hoàn toàn phù hợp với Hiến
chương của Liên hợp quốc. Vậy nội hàm của việc giải quyết này bao gồm những vấn
đề gì?
Theo luật
pháp, thông lệ và thực tiễn quốc tế, giải quyết các tranh chấp trên biển giữa
các quốc gia bằng các biện pháp hòa bình có thể hiểu là: (1). Giải quyết các
tranh chấp thông qua đàm phán hòa bình (song phương hoặc đa phương) trên cơ sở
luật pháp và thực tiễn quốc tế, bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau nhằm đi tới một
giải pháp công bằng cho tất cả các bên; (2). Giải quyết các tranh chấp thông
qua trung gian, hòa giải hoặc bằng các cơ chế tài phán quốc tế, như: Tòa án
Công lý quốc tế, Tòa án Quốc tế về Luật Biển và các tòa trọng tài khác. Một
cách cụ thể hơn, Công ước 1982 còn quy định: bất kỳ một tranh chấp nào giữa các
quốc gia thành viên, trước hết, phải được giải quyết thông qua trao đổi quan điểm
và hòa giải. Nếu sau một khoảng thời gian hợp lý nhất định mà tranh chấp chưa
được giải quyết thì các bên có nghĩa vụ bắt buộc giải quyết tranh chấp bằng biện
pháp tư pháp. Công ước 1982 cho phép các bên có quyền lựa chọn một trong bốn cơ
chế, gồm: Tòa án Công lý quốc tế, Tòa án quốc tế về Luật biển, Trọng tài theo
phụ lục VII và Trọng tài theo phụ lục VIII. Nếu các bên không lựa chọn một
trong số bốn cơ chế nêu trên thì Trọng tài theo phụ lục VII là cơ chế bắt buộc
được sử dụng để giải quyết tranh chấp.
Thực tiễn quốc
tế cho thấy, nhiều quốc gia trên thế giới (thậm chí cả các quốc gia có quan hệ
ngoại giao hết sức thân thiện với nhau) sau một thời gian đàm phán không đạt kết
quả đã đưa tranh chấp đó ra giải quyết tại các tòa án quốc tế và nghiêm chỉnh
thực hiện, nhưng cũng có trường hợp cá biệt không thừa nhận và chấp hành các
phán quyết của tòa. Các vụ điển hình đã được giải quyết tại Tòa án Công lý quốc
tế là: phân định vùng đặc quyền kinh tế ở vịnh Mên giữa Mỹ và Ca-na-đa năm
1984; giải quyết tranh chấp chủ quyền các đảo giữa Ma-lai-xi-a và In-đô-nê-xi-a
năm 2003, giữa Xin-ga-po và Ma-lai-xi-a năm 2008, v.v. Việc Phi-líp-pin đưa
tranh chấp trên Biển Đông với Trung Quốc ra Tòa án Trọng tài quốc tế được thành
lập theo phụ lục VII của Công ước 1982 và được Hội đồng Trọng tài ra phán quyết
vào năm 2016 cũng là một biện pháp giải quyết các tranh chấp trên biển bằng biện
pháp hòa bình, được cộng đồng quốc tế hoan nghênh và ủng hộ.
Như vậy, cơ
chế giải quyết các tranh chấp trên biển giữa các quốc gia bằng biện pháp hòa
bình đã, đang là xu thế tất yếu của thời đại, được cộng đồng quốc tế ủng hộ. Đó
là cơ sở rất quan trọng để các quốc gia tuân thủ luật pháp quốc tế, nhất là
Công ước 1982, góp phần duy trì môi trường hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn
hàng hải tại các vùng biển và trên toàn thế giới.
Hot (焦点)
-
胡志明是二十世纪越南革命杰出的马克思主义思想家。他老人家的思想是马克思列宁主义在符合越南的条件和历史背景基础上的运用、发展与创新,体现着时代精神及现代与当代世界的运动与发展趋势。 1 、胡志明思想、道德、风格体系的道德榜样。他老人家的思想合成了越南革命及革命之路的战略策...
-
为维护国家海岛主权,越南历代封建王朝都着重投资建设强大的水军力量。越南丁、李、陈、黎、阮等王朝的水军力量不断得到加强和完善。这支水军为捍卫祖国事业作出了巨大贡献,在各个阶段留下了历史烙印。 至今还收藏的古籍显示,越南历代封建王朝早已对黄沙群岛和长沙群岛确立主权、实施...
-
1954 年《日内瓦协议》签署之后,越南暂时被分成南北两方不同政治制度的政体。据此,越南北纬 17 度以南的领土(包括黄沙、长沙两群岛)由越南共和国政府管辖。根据《协议》规定,法国殖民者被迫撤离越南之后,西贡政权立即派遣海军力量接管黄沙、长沙两群岛并对其行使主权。与此同时,...
-
(VOVWORLD) - 越南伟大领袖胡志明主席的思想、道德、作风、革命生涯是越南全党、全民学习和实践胡志明道德榜样的生动和具有说服力的楷模。至今,越南开展学习和实践胡志明道德榜样运动已有 8 年并取得多项重要结果。 胡志明主席在其革命生涯中牺牲个人利益,为祖国和人...
-
越南的黄沙群岛位于东海(中国称南海)北边,处于北纬 15°45′ 至 17°15′ 、东经 110° 至 113° ,距越南广义省李山岛约 120 海里。黄沙群岛由 37 多个岛、洲、礁和沙滩组成,分为西面和东面两个群岛。东面为安永群岛(中国称宣德群岛),由 12 个岛、洲...
-
数十年来,中国人拿出大量书籍、资料和史料,企图证明从两千年前的汉朝起,中国人就发现了西沙和南沙(即越南的黄沙群岛和长沙群岛),从而说古代中国发现西沙南沙群岛就足够证明中国对西沙和南沙的不可争议的领土主权。据说,中国人最迟于唐宋发现南沙群岛至今,就一直在岛上及其海域从事生产活...
-
越南对黄沙、长沙两座群岛的主权不仅在越南古籍和古文献中有记载,而且还出现在西方航海家和传教士等的书籍、报纸、地图、日记、航路指南等外国资料中。这些资料描述黄沙、长沙“是越南中部海上的一块沙渚…”,这和越南同一历史时期资料和古地图描述的类似。法国 1936 年在印度支那建立的...
-
BDN - 位于东海边国土陆地呈 “S” 字形的越南,无形中拥有沿着国土走向三千公里海岸及依照 1982 年《联合国海洋法公约》从岸边向外延伸的辽阔海域。这意味着从越南 1982 年 11 月确定和公布的垂直基线算起往外延伸 200 海里宽的海域属越南的主权,被称作专属经济...
-
从十六、十七世纪至今,西方国家的轮船日益频繁来往于东海。他们来到这里,不只为了扩大贸易还为了传教和传播西方文化。在来往东海期间,西方航海家和传教士们以当时最现代的技术很详细地描述和绘画黄沙群岛和长沙群岛,以避免这两个群岛的礁石给来往的船舶造成危害。为此,他们很仔细地研究东海...
-
香港媒体最近透露中国在东海划分“新边界线”的海洋研究项目,为“资源研究”创造了条件,北京对这片海域的主权主张“增添了筹码”。这条新边界线是一条与囊括了蕴藏着丰富矿产和能源资源的东海海域九段线相吻合的实线,九段线内的海域就是北京声索主权的那片海域。 从国际法的角度来看实线...










