Trung Quốc nhòm ngó Bắc Cực

06:25 |
Bắc Cực đang nóng lên không chỉ bởi hệ quả của biến đổi khí hậu, mà còn vì tham vọng của Trung Quốc muốn mở rộng “Con đường tơ lụa” lên tận địa đầu Trái đất, nhằm đón đầu các tuyến vận tải đi qua đây trong tương lai, khi băng tan dần.
 Cuối tuần qua, Trung Quốc đã công bố Sách trắng, kêu gọi hợp tác quốc tế chặt chẽ hơn trong lĩnh vực cơ sở hạ tầng và thiết lập các tuyến đường thủy trong khu vực.
“Cường quốc khu vực địa cực”
Tuyên bố của Trung Quốc cho thấy nước này không có ý định giấu giếm tham vọng địa chính trị tại một địa bàn được xem là “mỏ vàng tài nguyên” cuối cùng trên Trái đất.
Mong muốn trở thành một nước đóng vai trò quan trọng ở Bắc Cực chỉ mới được Trung Quốc nhen nhóm vài năm qua, dưới thời Chủ tịch nước Tập Cận Bình, khi ông ví nước này như một “cường quốc khu vực địa cực” đầy tiềm năng, nhân chuyến công du tới Australia năm 2014.
Tình trạng băng tan ở Bắc Cực đã giúp giải phóng hải trình phương Bắc (phía trên nước Nga), giúp rút ngắn 48 ngày so với tuyến đường phổ biến nhất hiện nay từ miền Bắc Trung Quốc đến Rotterdam qua Kênh đào Suez. Năm ngoái, một tàu chở dầu của Nga đã đi từ Na Uy đến Hàn Quốc trong vòng 19 ngày, mà không cần tàu phá băng hộ tống.
Các chuyên gia nhận định tương lai của thương mại đường thủy ở Bắc Cực không chỉ dừng lại ở những quốc gia có biên giới nằm trong khu vực này.
Chính vì thế, Trung Quốc đã đẩy mạnh xây dựng quan hệ với các nước Scandinavia để tạo tiền đề chạy đua với Canada, Đan Mạch hay Nga - những nước có tuyên bố chủ quyền lãnh thổ và lợi ích địa chính trị chồng chéo nhau trong khu vực.
Trung Quốc đã thành lập ở Thượng Hải một trung tâm nghiên cứu Bắc Cực chung với các viện nghiên cứu thuộc 5 quốc gia Bắc Âu và đã ký thỏa thuận hợp tác thăm dò với Australia.
Không chỉ hé mở tiềm năng thương mại vận tải biển, băng tan ở Bắc Cực còn tạo điều kiện thuận lợi cho tàu ngầm quân sự tiếp cận các quốc gia Scandinavia từ các căn cứ hải quân ở Bắc Cực.
“Con đường tơ lụa” là cấu phần quan trọng của chiến lược “Một vành đai, một con đường” mà Trung Quốc theo đuổi để thúc đẩy đầu tư. Trong đó, tập trung vào các dự án cơ sở hạ tầng hỗ trợ thương mại dọc theo con đường tơ lụa cổ xưa từ Trung Quốc đến châu Âu và tuyến thứ hai kết nối Trung Quốc bằng đường biển đến Đông Nam Á và Đông Phi.
Tài nguyên trù phú
Trung Quốc không có chút biên giới nào ở Bắc cực, nhưng là 1 trong 13 nước giữ vị trí quan sát viên tại Hội đồng Bắc cực - tổ chức quốc tế lớn nhất và có uy tín nhất trong các vấn đề liên quan tới Bắc Cực.
Ước tính Bắc Cực đang có tới 1/4 trữ lượng dầu khí chưa được khai thác của toàn cầu. Chỉ riêng mỏ khí đốt đã được thăm dò Shtokmanov ở biển Baransevo, nếu được khai thác sẽ đủ cho cả thế giới dùng trong 1 năm. Tại đây cũng có những trữ lượng đáng kể về thủy sản, lâm sản, than, nikel, kẽm, đồng, platin, kim cương và nước ngọt…
2/3 diện tích Bắc Cực là Bắc Băng Dương và phần lớn bề mặt Bắc Băng Dương đóng băng suốt năm (độ dày của lớp băng đó có thể lên tới 3m) nên tàu bè không thể đi lại được.
Mặc dù thời tiết lạnh lẽo bao trùm Bắc Cực suốt năm, nhưng đấy không phải là vùng đất không người. Số dân cư trú trên vùng lãnh thổ mênh mông này lên tới 4 triệu người.
Nhiệt độ trung bình trong năm ở Bắc Cực là -37oC. Tuy nhiên, quá trình nhiệt độ gia tăng trên trái đất lại tác động tới Bắc Cực rõ rệt hơn ở các khu vực khác. Trong 3 thập niên gần đây, diện tích băng ở Bắc Cực đã giảm khoảng 15 - 20%.
Hiện nay, theo luật pháp quốc tế, không một quốc gia nào được sở hữu Bắc Cực và vùng đất liền nằm gần lãnh thổ của mình. Theo Công ước về luật biển của Liên hợp quốc, quyền lợi của 5 quốc gia có lãnh thổ nằm trên Bắc Cực là Nga, Canada, Na Uy, Mỹ (sở hữu Alaska) và Đan Mạch (sở hữu Greenland) được giới hạn bởi các khu kinh tế cách bờ biển 2.000 hải lý (tương đương 370km).


Đọc thêm...

美国特朗普时代对东盟的政策

06:24 |
20179月,美国众议院通过了关于美国对东盟政策的HRES 311号法案。这是特朗普总统政府对亚太地区具有重要地缘战略意义的东盟的新举动。
对东盟的重要作用予以肯定
奥巴马的两届任期中,美国与东盟关系较为活泼并在华盛顿的亚太转轴战略中紧密相连。这充分体现于美国对该地区的特殊承诺。据此,美国通过该国驻菲律宾、泰国、新加坡等国的代表处,实现了东盟与美国经济合作有效配合。值得一提的是,凭借双方联通措施以及相互政策和长期合作计划,奥巴马政府相信,美国与东盟的关系将继续向前迈进。
与前任政府预测相反的是,美国当选总统特朗普上任后决定退出了跨太平洋伙伴关系协定(TPP)——美国在亚太地区实行再平衡政策的关键经济因素,导致东盟各国领导人以及地区舆论的普遍担忧。然而,值得注意的是,尽管特朗普政府宣布放弃“转轴”政策并退出跨太平洋伙伴关系协定,但又颁布了关于美国与东盟关系的HRES 311号法案。与此同时,通过特朗普参与亚太领导人峰会、东盟峰会以及对亚洲五国的访问显示,特朗普对自己的观点进行了调整,目的旨在符合美国立法界的思维。因此,分析界认为,美国众议院通过HRES 311号法案一事体现了特朗普总统对亚洲尤其是东南亚地区的新思想。这充分体现于上述法案的内涵:(1)支持并承诺加强美国与东盟战略合作伙伴关系,再度承诺在遵守法律的基础上,在亚太地区促进建成一个新秩序。(2)充分肯定了东盟对澳大利亚、加拿大、欧盟、印度、日本、新西兰、挪威、韩国、台湾等经济政治安全伙伴的价值。(3)通过取消贸易堡垒,鼓励加强美国与东盟的经济承诺。(4)与东盟合作,实现反恐、反极端暴力活动。(5)支持东盟各国以及中国等地区其他国家在遵守国际法律和平解决海洋领土争端的建设性努力。(6)呼吁亚太地区涉及领海领土争端的有关各方保持克制,不使用武力或以武力相威胁,避免将岛屿予以军事化。(7)再度肯定了美国继续对东盟保持合作的承诺,防止非法拐卖,并呼吁东盟各国进一步努力制定并实施为难民和移民问题提供帮助的地区性机制。如此看来,通过HRES 311号法案的主要内容,美国总统特朗普宣布放弃亚太转轴战略一事仅具有形式意义。
美国众议院在HRES 311号法案之中肯定,自从1977年美国与东盟启动对话关系以来,双方取得了诸多重要成果。此前(2016216日),在美国加州阳光之乡庄园美国与东盟领导人会议上,双方进一步肯定了东盟对地区和平、稳定与安全的重要作用。实际上,东盟是世界上六大经济体之中的一个,年均GDP约达2.4万亿美元,同时也是美国第四大出口市场。东盟各国经济关系也为美国创造了50万个就业机会。此外,美国东盟关系与美国安全利益息息相关,因为美国和东盟各国都十分关注和平解决东海争端并希望就朝鲜半岛无核化达成一致。再加上,在应对恐怖主义、极端主义、暴力主义、环境污染、能源危机、疾病、裁军、不扩散大规模杀伤性武器、网络安全、走私、非法捕鱼等跨过问题上,东盟还是美国的重要伙伴。
美国众议院外交事务委员会主席罗伊斯(Ed Royce)在对上述法案作出评价指出,东盟目前要面临柬埔寨“民主”问题、缅甸涉及罗兴亚人的若开邦冲突、东海航行安全等问题,HRES 311号法案肯定了美国东盟战略合作伙伴关系的重要作用,体现了美国对东盟各国关于合作解决问题的承诺,同时也证明了美国对东盟的支持以及美国对东南亚各国的战略关系。
确定了对东南亚的优先政策
分析界认为,美国对东南亚的战略向来围绕着“利益”与“竞争”两个关键词。因此,美国在特朗普政府战略尚未定型之时对东南亚的干预(通过HRES 311号法案)就是为了避免让美国在东南亚五年至十年来所取得的成果烟消云散,再度拉拢传统盟友。HRES 311号法案的通过不仅肯定了东南亚对美国的重要作用,还体现了美国对东盟各国加强护理合作战略关系的承诺。同时证明了美国在该地区频繁出现的愿望,从加强安全到促进经济发展,促进保护人权和维护地区航行安全。
华盛顿对东南亚地区的外交优先政策还体现于特朗普对亚洲五国进行的国事访问。这是特朗普上任后访问时对该地区进行的访问,并成为前美国总统布什政府时代以来对亚洲时间最长的一次访问。分析家认定,特朗普对亚洲的此次访问标志着美国“转轴后”政策的开端。特朗普总统在亚洲之行的第四站岘港确定了美国政府最具概括意义的亚洲政策,那就是实现更自由、更开放的“印度洋-太平洋之梦”。此举的用意被看作对“中国梦”和“一带一路”倡议的取代。尽管美国的印度洋-太平洋框架战略尚未明确,但这也成为该国实施“转轴后”战略开端的事件。因为美国与该地区在经济与安全领域上的合作关系对双方都非常重要。
特朗普在此行中重申,美国盟友国家依然不变。美国将不会退出这些联盟。美国总统特朗普曾在亚太经经合组织峰会、东盟峰会、东亚峰会等地区重大事件中发出了积极的发言与行动。这证明华盛顿对该地区外交政策的改变,同时体现了该地区对美国的重要作用。特朗普在菲律宾马尼拉召开的第三十一次东盟峰会上强调了美国东盟建立合作关系四十年,并重申白宫将保持东盟在亚太地区中核心地位的承诺,并肯定了美国东盟战略合作伙伴关系。
如此看来,美国众议院HRES 311号法案的通过以及美国总统特朗普在岘港亚太领导人会议和马尼拉东盟峰会上的声明可以看出,华盛顿仍在积极干预东南亚,因为美国东盟关系符合特朗普总统“美国第一”的观点。当然,此举的结果如何仍要让时间给出答案
Đọc thêm...

Chính sách của Tổng thống D.Trump đối với ASEAN

06:23 |
Tháng 9 vừa qua, Hạ viện Mỹ đã thông qua Đạo luật HRES 311 về chính sách của Hoa Kỳ đối với ASEAN. Đây là động thái mới của Chính quyền D.Trump đối với khu vực có địa chính trị quan trọng của châu Á - Thái Bình Dương.
Khẳng định vai trò quan trọng của ASEAN
Trong hai nhiệm kỳ của Tổng thống B. Ô-ba-ma, quan hệ Mỹ - ASEAN khá nồng ấm và được gắn kết trong chiến lược “xoay trục” của Oa-sinh-tơn tới châu Á - Thái Bình Dương. Điều đó được thể hiện từ các cam kết đặc biệt của Mỹ đối với khu vực Đông Nam Á. Theo đó, thông qua các văn phòng đại diện của Mỹ ở Phi-líp-pin, Thái Lan và Xin-ga-po, đã tạo sự phối hợp hiệu quả về kinh tế giữa các nước ASEAN với Mỹ. Đặc biệt, với các gói biện pháp kết nối cùng các chính sách, chương trình hợp tác dài hạn giữa hai bên, Chính quyền của Tổng thống B. Ô-ba-ma tin rằng, quan hệ giữa Mỹ và ASEAN tiếp tục phát triển tốt đẹp.
Trái với dự đoán của chính quyền tiền nhiệm, ngay sau khi nhậm chức, Tổng thống Mỹ đắc cử D.Trump đã quyết định đưa nước Mỹ rời khỏi Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) - nhân tố kinh tế cốt lõi của chính sách tái cân bằng của Mỹ tại châu Á - Thái Bình Dương, khiến các nhà lãnh đạo ASEAN và dư luận khu vực lo ngại. Tuy vậy, điều đáng quan tâm là, mặc dù Chính quyền của Tổng thống D.Trump tuyên bố xóa bỏ chính sách “xoay trục” và rút khỏi TPP, nhưng lại ban hành Đạo luật HRES 311 về quan hệ Mỹ - ASEAN. Cùng với đó, thông qua chuyến công du châu Á, dự hai Hội nghị Thượng đỉnh (APEC, ASEAN) và thăm 05 quốc gia châu Á cho thấy, ông Trăm đã có sự điều chỉnh quan điểm của mình cho phù hợp với tư duy của giới lập pháp Mỹ. Vì thế, giới phân tích cho rằng, việc Hạ viện Mỹ thông qua Đạo luật HRES 311 phản ánh tư duy đổi mới của Tổng thống D.Trump đối với khu vực châu Á nói chung và Đông Nam Á nói riêng. Điều này được thể hiện rõ ở nội hàm của Đạo luật, gồm: (1). Ủng hộ và cam kết tăng cường mối quan hệ đối tác chiến lược Mỹ - ASEAN, Mỹ cũng tái cam kết trong việc thúc đẩy một trật tự dựa trên nền tảng của pháp luật trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương; (2). Công nhận giá trị của ASEAN, với các đối tác kinh tế, chính trị và an ninh, như: Ô-xtrây-li-a, Ca-na-đa, Liên minh châu Âu, Ấn Độ, Nhật Bản, Niu Di-lân, Na Uy, Hàn Quốc và Đài Loan; (3). Khuyến khích tăng cường các cam kết kinh tế giữa Mỹ và ASEAN thông qua việc xóa bỏ các rào cản thương mại; (4). Hỗ trợ hợp tác với ASEAN để thực hiện các hoạt động chống khủng bố, chống chủ nghĩa cực đoan bạo lực; (5). Hỗ trợ nỗ lực của các quốc gia thành viên ASEAN và các quốc gia khác ở khu vực, bao gồm cả Trung Quốc, trong giải quyết các tranh chấp về biển và lãnh thổ một cách xây dựng, theo đuổi các yêu sách thông qua ngoại giao và tuân thủ luật pháp quốc tế; (6). Kêu gọi tất cả các bên tranh chấp lãnh hải và lãnh thổ trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương tự kiềm chế, không sử dụng vũ lực, đe dọa sử dụng vũ lực; tránh các nỗ lực quân sự hóa các đảo; (7). Tái khẳng định cam kết của Mỹ tiếp tục hợp tác với ASEAN để ngăn chặn nạn buôn người trái phép và kêu gọi ASEAN tăng cường nỗ lực nhằm thiết lập, tăng cường các cơ chế khu vực để hỗ trợ người tị nạn và nhập cư. Như vậy, với những nội dung chủ yếu của Đạo luật HRES 311, việc Tổng thống D.Trump tuyên bố xóa bỏ chiến lược “xoay trục” về châu Á - Thái Bình Dương của người tiền nhiệm chỉ mang tính hình thức.
Ngay trong văn kiện của Đạo luật HRES 311, Hạ viện Mỹ khẳng định, kể từ năm 1977, khi Mỹ - ASEAN bắt đầu khởi động quan hệ đối thoại, hai bên đã đạt được nhiều thành quả quan trọng. Trước đó (16-02-2016), tại Hội nghị Thượng đỉnh Xăn-ni-len (Mỹ), hai bên tiếp tục khẳng định vai trò của ASEAN đối với hòa bình, an ninh và ổn định trong khu vực. Trên thực tế, ASEAN là một trong 6 nền kinh tế lớn nhất thế giới với GDP hằng năm ước đạt là 2,4 nghìn tỷ USD và là thị trường xuất khẩu lớn thứ 4 của Mỹ; đồng thời, các quan hệ kinh tế ASEAN đã góp phần tạo ra hơn 500 nghìn việc làm ở Mỹ. Ngoài ra, quan hệ Mỹ - ASEAN là sống còn đối với các lợi ích an ninh của Mỹ, vì Mỹ và các nước thành viên ASEAN đều có mối quan tâm chung trong việc giải quyết hòa bình các tranh chấp trên Biển Đông và đạt được đồng thuận trong vấn đề phi hạt nhân hóa bán đảo Triều Tiên. Hơn thế, ASEAN còn là đối tác của Mỹ trong đối phó với các thách thức xuyên quốc gia, như: khủng bố, chủ nghĩa cực đoan, bạo lực, ô nhiễm môi trường, khủng hoảng năng lượng, dịch bệnh, giải trừ quân bị, phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt, an ninh mạng, buôn lậu, đánh bắt cá bất hợp pháp.
Đánh giá vai trò của Đạo luật trên, Chủ tịch Ủy ban Đối ngoại Hạ viện Mỹ, Ét - Roi-xơ cho biết, với rất nhiều thách thức mà khu vực Đông Nam Á đang phải đối mặt hiện nay, như: vấn đề “dân chủ” ở Cam-pu-chia, xung đột tại bang Ra-khin (Mi-an-ma) liên quan đến người Hồi giáo Rô-hinh-ga, an ninh hàng hải ở Biển Đông, việc thông qua an toàn Đạo luật HRES 311 khẳng định tầm quan trọng của quan hệ đối tác chiến lược Mỹ - ASEAN, thể hiện cam kết hợp tác của Mỹ với các nước thành viên ASEAN, nhằm giải quyết các vấn đề trên; đồng thời, chứng tỏ sự ủng hộ của Mỹ đối với ASEAN và quan hệ chiến lược của Mỹ đối với các nước Đông Nam Á.
Sau khi Đạo luật HRES 311 được thông qua, hai Hạ nghị sĩ Mỹ thuộc đảng Cộng hòa, Đoa-quyn Ca-xtro và An Oa-nơ, vốn là những người giới thiệu đạo luật trên cho biết, mục đích của Đạo luật nhằm khẳng định đối tác chiến lược Mỹ - ASEAN và thúc đẩy hợp tác kinh tế giữa hai bên; mong muốn Mỹ tiếp tục hiện diện ngày một “vững chắc” hơn tại khu vực Đông Nam Á, từ tăng cường an ninh đến phát triển kinh tế Mỹ - ASEAN, tới thúc đẩy nhân quyền và bảo vệ các tuyến hàng hải ở Đông Nam Á. Nhóm nghị sĩ Quốc hội về các vấn đề liên quan đến Đông Nam Á sẽ tiếp tục hợp tác chặt chẽ với ASEAN nhằm tăng cường sự can dự của Mỹ.
Xác định các ưu tiên đối với khu vực Đông Nam Á
Theo các nhà phân tích, chiến lược của Mỹ ở khu vực Đông Nam Á từ xưa đến nay vẫn xoay quanh hai cụm từ then chốt là “lợi ích” và “cạnh tranh”. Do đó, để tránh làm tiêu tan thành quả của Mỹ ở Đông Nam Á trong vòng 5 đến 10 năm qua, lôi kéo lại các đồng minh truyền thống và xuất phát từ vai trò quan trọng của ASEAN đối với Mỹ cùng các động thái của Trung Quốc - đối thủ cạnh tranh chiến lược chủ yếu của Hoa Kỳ tại khu vực, không có gì ngạc nhiên khi Oa-sinh-tơn muốn tăng cường can dự vào khu vực này (thông qua Đạo luật HRES 311), nhất là sau một thời gian bị sao nhãng khi chính quyền của Tổng thống D.Trump chưa định hình rõ chiến lược. Việc thông qua Đạo luật HRES 311 không chỉ khẳng định tầm quan trọng của khu vực Đông Nam Á đối với Mỹ, mà còn thể hiện cam kết hợp tác mới của Oa-sinh-tơn với các nước thành viên ASEAN về tăng cường quan hệ đối tác chiến lược vì lợi ích của cả hai bên. Đồng thời, chứng tỏ mong muốn của Mỹ tiếp tục hiện diện ngày một “vững chắc” hơn tại khu vực Đông Nam Á, từ tăng cường an ninh đến phát triển kinh tế, thúc đẩy nhân quyền và bảo vệ các tuyến hàng hải ở khu vực.
Sự ưu tiên trong chính sách đối ngoại mới của Oa-sinh-tơn đối với khu vực Đông Nam Á còn được thể hiện rõ qua chuyến công du dài ngày của Tổng thống Mỹ D.Trump tới 05 nước châu Á. Đây là chuyến công du đầu tiên của Tổng thống D.Trump tới khu vực này kể từ khi lên nắm quyền và là chuyến đi dài nhất đến châu Á mà bất kỳ tổng thống Mỹ nào từng thực hiện, kể từ thời chính quyền G. Bu-sơ. Theo các nhà phân tích, chuyến công du này đánh dấu sự khởi đầu của chiến lược “hậu xoay trục” của Mỹ. Tại Đà Nẵng, điểm dừng chân thứ tư trong chuyến đi, Tổng thống Mỹ D.Trump đã vạch ra chính sách châu Á bao quát của chính quyền Mỹ, đó là “giấc mơ Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương” tự do và cởi mở. Điều này có dụng ý như một lựa chọn thay thế cho “Giấc mơ Trung Hoa” và Sáng kiến “Vành đai và Con đường” của Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình. Mặc dù chi tiết về chiến lược khung Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương của Mỹ vẫn còn chưa rõ ràng, nhưng đây cũng là sự kiện đánh dấu sự mở đầu cho chiến lược “hậu xoay trục” của Mỹ. Vì những mối quan hệ kinh tế và an ninh giữa Mỹ và khu vực này rất quan trọng đối với cả hai bên.
Trong chuyến công du này, Tổng thống Mỹ D.Trump cũng nhắc lại rằng mạng lưới các liên minh của Mỹ vẫn không thay đổi và sẽ không rút khỏi những liên minh này. Tổng thống Mỹ D.Trump - người được xem là chỉ nhấn mạnh quan hệ thương mại song phương với chủ nghĩa biệt lập, đã có những phát biểu và hành động tích cực khi tham dự các sự kiện lớn của khu vực, gồm: Hội nghị cấp cao Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC), Hội nghị cấp cao ASEAN và Hội nghị cấp cao Đông Á (EAS). Điều đó cho thấy những điểm mới trong chính sách đối ngoại của Oa-sinh-tơn đối với khu vực cũng như vai trò quan trọng của khu vực này đối với Mỹ. Tại Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 31 ở Ma-ni-la (Phi-líp-pin), Tổng thống Mỹ D.Trump đã đề cao mốc 40 năm thiết lập quan hệ giữa Mỹ và ASEAN, nhấn mạnh rằng, Nhà Trắng duy trì các cam kết về vai trò trung tâm của ASEAN như là một diễn đàn hợp tác toàn diện tại khu vực, khẳng định mối quan hệ đối tác chiến lược Mỹ - ASEAN.
Như vậy, thông qua Đạo luật HRES 311 cùng với những tuyên bố của Tổng thống Mỹ D.Trump tại hai Hội nghị Thượng đỉnh (APEC ở Đà Nẵng và ASEAN ở Ma-ni-la) có thể nhận thấy, Oa-sinh-tơn vẫn can dự tích cực vào khu vực Đông Nam Á, bởi quan hệ Mỹ - ASEAN là phù hợp với quan điểm “Nước Mỹ trên hết” của Tổng thống Mỹ D.Trump. Tất nhiên, kết quả thực tế ra sao thời gian sẽ trả lời.
Đọc thêm...

关于独立、自主与融入国际社会之间的关系

19:56 |
基于理论意识和实践活动,我党确定:在国家革新、建设和保卫事业中应尤其注重贯彻并处理好独立、自主与融入国际社会之间的关系。本着此精神,党的十二大继续强调并具体化各原则方针,旨在准确认识并处理好这一关系,确保国家的最高利益。
1.独立、自主与融入国际社会之间的关系:本质及内涵
这一客观关系产生并成熟于我国革新、发展及融入国际社会的过程中。它们在彼此互动中形成一种辩证关系。其本质及内涵体现在以下几个方面:
首先,独立自主为积极主动融入国际社会奠定基础。其表现为:第一,独立自主并不意味着与世界隔绝、与国际社会保持距离。独立是国家民族的自决权。自主是实现自决权的实际能力。独立自主体现在政治、经济、文化、国防、安全、外交等所有领域。我国人民骨子里一直渴望独立自主,经过多少年艰苦斗争最终走上了独立自主的道路。然而,在当前全球化与加速融入国际社会的背景下,全世界诸多国家、民族均踊跃加入此潮流之中,以为建设和发展国家创造便利条件。这是融入国际社会的正面影响。另一方面,其负面影响是增加国家的依赖性,甚至无法维护国家的独立自主,尤其是潜力有限的小国。因此,维护独立自主不仅要避免依赖并受外部支配而且还应积极主动融入国际社会。第二,独立自主对融入国际社会起着决定性作用。革新实践证明,独立自主后的越南才能获得自决权,在革新和融入国际社会过程中发挥优势并克服挑战。我国在融入国际经济中取得的成就已为融入国际社会过程奠定坚实基础,对外关系不断从广度和深度扩大,致力于提升国家综合力量。第三,在地区乃至世界复杂演变的背景下,坚持独立自主才能正确分析、处理信息,以找到切实有效的解决办法,基于此,为了融入国际社会,各国家、民族首先应是一个“主体”,即维护其独立自主。没有独立自主就谈不上融入国际社会,更何况谈起“积极主动”。因此,独立自主便是积极主动融入国际社会的前提。
其次,融入国际社会为维护国家独立自主做出贡献。其表现为:第一,在越南革命实践中,尤其是革新30年来,在我党的领导和政府的精心指导下,我国已积极主动融入国际社会,扩大对外关系,发挥民族力量和时代力量相结合的综合力量,提升越南在国际舞台上的地位,在解决领土争端问题受到国际社会的广泛支持,致力于维护和平稳定环境,促进国家发展。因此,积极主动融入国际社会既是维护独立自主的方法,又是维护独立自主的动力。第二,融入国际社会将为经济社会发展奠定基础。一方面,积极主动融入国际社会将为我国加入世贸组织(WTO)、世行(WB)、国际货币基金组织(IMF)、亚洲开发银行(ADB)等地区乃至世界经济体制创造良好条件。基于此,为我国吸引各种外部资源做出贡献。最重要的是,我国可以抓住机会,接受并应用先进的科技成果;培养高质量的人力资源,致力于推进社会主义定向的国家工业化现代化事业。同时,另一方面,我国可以抓住全球化过程带来的机会,以多种形式的投资和生产合作扩大市场;提升国内产品的实力和比较优势;促进劳务输出,提高劳动者收入……正如故政府总理武文杰在1990年世界经济论坛上所发表:“融入国际经济对加快经济增长速度和推进国家工业化事业起着决定性作用”。第三,积极主动融入国际社会将致力于建立统一协调的推进机制,应付恐怖主义、气候变化、自然灾害等全球性挑战。据此证明,我国在融入国际社会过程中取得的机会与资源为我国发挥潜力、维护独立自主做出贡献。然而,为了达到此目的,我国应充分发挥内力,抓住机会,把机遇变成现实;同时,通过适当方式克服改革开放和融入国际社会所带来的负面影响,以求维护国家的独立自主并促进国家发展。
2.处理好独立、自主与积极主动融入国际社会之间的关系
党的十二大明确指出:“进一步实施关于积极主动融入国际社会的战略导向。确保融入国际社会事业是全国人民及整个政治系统的事业,在充分发挥内力和提升综合力量及竞争能力的基础上加快融入国际社会过程;以融入国际经济为核心,其他领域融入国际要为融入国际经济创造便利;融入国际是既合作又斗争之过程,应主动预报,巧妙处理缓解压力,避免陷入对峙或依赖的状态。”据此,在实施过程中,我国应深入贯彻党的对外路线并同步开展多种主张措施;在意识和行动上应避免极端主义。与此同时,应集中全面就下列问题进行研究:
在经济方面,一个国家要维护其独立自主就必须有实力,有一个独立自主的经济。其表现为:拥有合理有效的经济结构;经济竞争力高和可持续发展;进出口结构均衡;产品结构多元化,其中技术产品及高附加值产品的比例占多;国际市场结构多元化,避免将生产经营过度集中在某些目标市场上。外商直接投资虽然很重要但是无法对国家经济具有支配性的影响,禁止外商投资于战略性或敏感性的关系国家国防安全的重要行业。在全球化的背景下,一个独立自主的经济应善于适应国际形势并不易受到影响。在任何情况下,其将为维持社会正常运行创造便利条件,为实现国家国防安全目标做出贡献。
为了建设独立自主的经济,首先要建设一个独立自主的社会主义定向市场经济的发展路线;推进国家工业化现代化事业,为经济科技发展创造良好条件;形成合理有效的经济结构。大力发展信息技术、生物学、新材料、冶金学、石油化学、煤炭、矿产、机器制造业等重要的行业、领域和经济产品。高度重视确保国家粮食安全、能源安全、财政金融安全和环境安全;确保国家在任何情况下保持快速、可持续发展。
在社会方面,一个独立自主的国家必须能以正式方式(通过法律法规)和非正式方式(通过教育和宣传运动)进行社会治理。
目前全球化和融入国际社会过程的加速正形成超越国家政府控制的全球性的权力空间。为了克服挑战,世界诸多国家政府已主动进行改革。尽管改革的内容和模式不尽相同,但在现代政府改革的趋势中突出了以下三个共同点:第一,国家权力非集中化,实施权力分级,实施央地分权。这并不等于放弃中央权力的过程,而是更合理有效加强权力的方法。中央政府在社会治理的具体范围上无法代替地方政府,而应有效监督地方政府的管理工作。基于此过程,国家决策将紧跟实践脚步并激励更多组织个人参加社会治理。第二,充分发挥市场机制对配置资源、发展社会的作用;全面履行政府对市场和社会的监管职能。第三,推动全社会民主,确保一切权力属于人民,以为政府履行社会管理职能创造便利条件。
在政治、安全和外交方面,独立自主是我国在融入国际社会过程中的原则性要求。政治独立自主是有能力自身确定国家发展目标及途径;有能力自身制定主张路线和发展战略;有能力自身建立维护政治制度,不允许接受任何外部干涉。政治独立自主体现在对内、对外、经济、文化、社会、国防、安全等所有方面和领域。在革新过程中,应推进经济革新与政治革新同步协调,进行行政改革,推动民主,进行立法和司法改革。全面革新要求是当务之急。推进经济革新与政治革新同步协调,优化政治制度的运行机制和实际功能,合理配置政治权力,有效控制政治权力均是满足要求的最佳方法。
对外独立自主享有重要作用,其表现为在制定和坚持对外政策路线,确定合作伙伴与作战对象以及聚集国际力量等方面出于国家民族最高利益的独立创造思想。越南目前对外关系系统得益于我国打破包围禁运,实现同各大国关系正常化,实行愿意同国际社会所有国家做朋友的主张,积极主动融入国际社会整个过程。正如胡志明主席所说:“实力是锣,外交是声”。越南在加快融入国际经济进程的背景下要坚持对外独立自主就必须确保政治和社会稳定,经济可持续发展,国防实力强大,对外人力资源忠诚专业,与大国关系均衡。
在处理独立自主与融入国际社会之间关系的过程中,实现意识统一和有效处理此关系是当务之急,致力于维护和平稳定环境,促进国家发展,为维护地区乃至世界的和平、稳定、合作与发展做出贡献。主动研究、预测国内世界形势,为政府施政当好参谋,旨在处理好独立、自主与融入国际社会之间的关系,为我国胜利实现民富、国强、民主、公平、文明、稳步走上社会主义道路的目标做出贡献。
Đọc thêm...

Về mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế

19:56 |
Từ nhận thức lý luận và hoạt động thực tiễn, Đảng ta xác định: trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, phải đặc biệt chú trọng nắm vững và giải quyết tốt mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế. Quán triệt tinh thần đó, Đại hội XII của Đảng tiếp tục nhấn mạnh, cụ thể hóa, đề ra các nguyên tắc, phương châm để nhận thức đúng và xử lý tốt mối quan hệ này, nhằm bảo đảm lợi ích tối cao của đất nước.
1. Bản chất, nội hàm của mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế
Đây là mối quan hệ khách quan, nảy sinh và ngày càng sâu đậm trong quá trình đổi mới, phát triển đất nước và hội nhập với thế giới. Đó là mối quan hệ biện chứng, tác động qua lại lẫn nhau. Bản chất và nội hàm của nó được thể hiện trên những điểm cơ bản sau:
Thứ nhất, độc lập, tự chủ là cơ sở, điều kiện, tiền đề để chủ động, tích cực hội nhập quốc tế. Điều đó thể hiện: Một là, độc lập, tự chủ không phải là biệt lập với thế giới, đứng ngoài hội nhập quốc tế. Độc lập là quyền tự quyết của quốc gia, dân tộc. Tự chủ là năng lực thực hiện quyền tự quyết ấy trên thực tế. Độc lập, tự chủ được thể hiện trên tất cả các lĩnh vực: chính trị, kinh tế, văn hóa, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, v.v. Đó là khát vọng của nhân dân ta, trải qua bao đấu tranh gian khổ mới giành được, để trở thành một dân tộc, một quốc gia có tên trên bản đồ thế giới. Song, trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế sâu rộng hiện nay, thì hầu hết các quốc gia, dân tộc đều tích cực tham gia vào quá trình này, nhằm thu hút, tạo nguồn lực để xây dựng, phát triển đất nước. Đó là mặt tích cực của hội nhập quốc tế. Tuy nhiên, tác động tiêu cực của nó là gia tăng sự phụ thuộc, thậm chí không giữ được độc lập, tự chủ, nhất là đối với các nước nhỏ, tiềm lực yếu so với các nước lớn. Do đó, giữ vững độc lập, tự chủ không chỉ bao gồm việc khắc phục sự lệ thuộc, chống sự áp đặt, chi phối, mà đòi hỏi phải nêu cao và chủ động trong hội nhập quốc tế. Hai là, độc lập, tự chủ là nhân tố đóng vai trò quyết định trong mối quan hệ với hội nhập quốc tế. Thực tiễn đổi mới cho thấy, nhờ giữ vững độc lập, tự chủ mà chúng ta đã tự quyết định được lộ trình, bước đi, cách thức, nội dung, biện pháp, đối tác, lĩnh vực phát triển; phát huy được những lợi thế, hạn chế những thách thức, tác động tiêu cực trong sự nghiệp đổi mới, hội nhập quốc tế. Từ hội nhập kinh tế, nước ta đã từng bước hội nhập toàn diện vào khu vực và quốc tế, quan hệ đối ngoại được mở rộng, ngày càng đi vào chiều sâu, hiệu quả, góp phần tạo ra thế và lực mới của đất nước. Ba là, có độc lập, tự chủ thì mới phân tích, xử lý thông tin một cách đúng đắn để có những giải pháp thiết thực, đồng bộ, hữu hiệu trước sự thay đổi mau lẹ của tình hình thế giới và khu vực, v.v. Từ những cơ sở đó, để tham gia hội nhập quốc tế, trước hết mỗi quốc gia, dân tộc phải là một “chủ thể” - đó chính là quyền độc lập, tự chủ của mình. Không có độc lập, tự chủ thì không thể nói tới hội nhập, chứ chưa nói tới chủ động, tích cực. Vì vậy, độc lập, tự chủ là cơ sở, điều kiện, tiền đề để chủ động, tích cực hội nhập quốc tế.
Thứ hai, đến lượt mình, hội nhập quốc tế góp phần tăng cường khả năng giữ vững độc lập, tự chủ của đất nước. Điều đó được thể hiện: Một là, thực tiễn cách mạng Việt Nam, nhất là trong hơn 30 năm đổi mới vừa qua cho thấy, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự điều hành, quản lý của Nhà nước, thông qua chủ động hội nhập quốc tế, mở rộng quan hệ đối ngoại, chúng ta đã phát huy sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, nâng cao vị thế Việt Nam, tạo được sự ủng hộ rộng rãi của cộng đồng quốc tế trong giải quyết các tranh chấp về lãnh thổ, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước. Do đó, chủ động, tích cực hội nhập quốc tế vừa là một giải pháp quan trọng, vừa là một động lực để giữ vững độc lập, tự chủ. Hai là, hội nhập quốc tế sẽ tạo ra tiền đề cho phát triển kinh tế, xã hội – yếu tố có ý nghĩa quyết định đến sức mạnh tổng hợp của đất nước. Trước hết, chủ động, tích cực hội nhập quốc tế sẽ giúp chúng ta hội nhập đầy đủ, sâu, rộng hơn vào các thể chế kinh tế thế giới và khu vực, như: Tổ chức thương mại thế giới (WTO), Ngân hàng thế giới (WB), Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng phát triển châu Á (ADB), v.v. Qua đó, tạo điều kiện thuận lợi cho huy động các nguồn lực bên ngoài, như: vốn, khoa học kỹ thuật, công nghệ, quản lý, v.v. Điều quan trọng nhất là, chúng ta có thể tận dụng cơ hội, đi trước, đón đầu, tiếp nhận và ứng dụng những thành tựu khoa học – công nghệ tiên tiến; đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, góp phần rút ngắn, thực hiện thành công quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Đồng thời, tận dụng cơ hội của quá trình toàn cầu hóa, chúng ta có thể mở rộng thị trường, với nhiều hình thức đầu tư, hợp tác sản xuất; phát huy mặt mạnh và lợi thế so sánh các sản phẩm trong nước; đẩy mạnh xuất khẩu lao động, tăng thu nhập cho người lao động, v.v. Đúng như cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã khẳng định trong bài phát biểu tại Diễn đàn kinh tế thế giới ở Đa-vốt, Thụy Sỹ (năm 1990): “... hội nhập và hợp tác kinh tế quốc tế như là một nhân tố quyết định cho việc đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế và công nghiệp hóa đất nước”1. Ba là, chủ động, tích cực hội nhập quốc tế sẽ tạo ra sự phối hợp chặt chẽ, xác định cơ chế thống nhất, hiệu quả, giúp chúng ta giải quyết những vấn đề lớn, mang tính toàn cầu, đã, đang đe dọa trực tiếp đến sự ổn định và phát triển của từng quốc gia, khu vực và cả thế giới, như: khủng bố, biến đổi khí hậu, thiên tai, v.v. Điều đó cho thấy, tất cả những thuận lợi này cũng như các nguồn lực từ bên ngoài chỉ có được thông qua hội nhập, hợp tác quốc tế, góp phần nâng cao tiềm lực của đất nước để giữ vững độc lập, tự chủ. Tuy nhiên, để đạt được điều đó, chúng ta phải nâng cao nội lực, có đủ khả năng tiếp nhận, biến cơ hội thành hiện thực; đồng thời, có chủ trương, giải pháp phù hợp để khắc phục những tác động tiêu cực của quá trình mở cửa, hội nhập, nhằm vừa giữ vững độc lập, tự chủ, vừa bảo đảm cho đất nước phát triển.
2. Xử lý mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và chủ động, tích cực hội nhập quốc tế
Đại hội XII của Đảng đã chỉ rõ: “Triển khai mạnh mẽ định hướng chiến lược chủ động và tích cực hội nhập quốc tế. Bảo đảm hội nhập quốc tế là sự nghiệp của toàn dân và cả hệ thống chính trị, đẩy mạnh hội nhập trên cơ sở phát huy tối đa nội lực, gắn kết chặt chẽ và thúc đẩy quá trình nâng cao sức mạnh tổng hợp, năng lực cạnh tranh của đất nước; hội nhập kinh tế là trọng tâm, hội nhập trong các lĩnh vực khác phải tạo thuận lợi cho hội nhập kinh tế; hội nhập là quá trình vừa hợp tác vừa đấu tranh, chủ động dự báo, xử lý linh hoạt mọi tình huống, không để rơi vào thế bị động, đối đầu, bất lợi”2. Theo đó, trong quá trình thực hiện, chúng ta phải quán triệt sâu sắc, nắm vững đường lối đối ngoại của Đảng, tiến hành đồng bộ các chủ trương, giải pháp; song, trước hết cần tránh cực đoan trong cả nhận thức và hành động, như: quan điểm cho rằng độc lập, tự chủ là hằng số bất biến, có nội dung không thay đổi, không thể tương dung với hội nhập quốc tế, xem thế giới như một phức thể khó lường nên phải hết sức thận trọng trong quan hệ; trong thời đại của toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, không cần và không thể duy trì, củng cố độc lập dân tộc, tự chủ, chủ quyền quốc gia. Cùng với đó, phải có sự nghiên cứu thấu đáo và khoa học trên mấy phương diện sau:
Trên phương diện kinh tế, trước hết, muốn độc lập, tự chủ, quốc gia phải có thực lực, cụ thể là có một nền kinh tế độc lập, tự chủ. Đó là nền kinh tế có cơ cấu hợp lý, hiệu quả và đảm bảo độ an toàn cần thiết; phát triển bền vững và có năng lực cạnh tranh cao; cơ cấu xuất, nhập khẩu cân đối; cơ cấu mặt hàng đa dạng, phong phú với tỷ lệ các mặt hàng công nghệ và có giá trị gia tăng lớn chiếm ưu thế; cơ cấu thị trường quốc tế cũng đa dạng và tránh chỉ tập trung quá nhiều vào một vài mục tiêu. Đầu tư trực tiếp của nước ngoài, mặc dù là cần thiết và quan trọng nhưng không để chiếm lĩnh vai trò chi phối nền kinh tế quốc gia cũng như không thể được phép vào những ngành nhạy cảm có thể gây tổn hại đến an ninh, quốc phòng của đất nước. Một nền kinh tế độc lập, tự chủ trong bối cảnh toàn cầu hóa có thể được hiểu là nền kinh tế có khả năng thích ứng cao với những biến động của tình hình quốc tế và ít bị tổn thương trước những biến động đó. Trong bất cứ tình huống nào, nó cũng có thể cho phép duy trì được các hoạt động bình thường của xã hội và phục vụ đắc lực cho các mục tiêu an ninh, quốc phòng của đất nước.
Xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, trước hết là độc lập, tự chủ về đường lối phát triển kinh tế theo định hướng xã hội chủ nghĩa; đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tạo tiềm lực kinh tế, khoa học và công nghệ, cơ sở vật chất - kỹ thuật đủ mạnh; có cơ cấu kinh tế hợp lý, có hiệu quả và sức cạnh tranh. Phát triển mạnh một số ngành, lĩnh vực và sản phẩm kinh tế chủ yếu có vai trò quan trọng hàng đầu, có hiệu quả, như: công nghệ thông tin, sinh học, vật liệu mới, luyện kim, hóa dầu, than, khoáng sản, cơ khí chế tạo, v.v. Hết sức chú trọng bảo đảm an ninh lương thực quốc gia, an toàn năng lượng, an toàn tài chính - tiền tệ, an toàn môi trường; bảo đảm cho đất nước phát triển nhanh, hiệu quả, bền vững trong bất cứ tình huống nào, lúc thuận lợi cũng như lúc khó khăn.
Trên phương diện xã hội, yêu cầu của một quốc gia độc lập, tự chủ hàm chứa năng lực thực hành thuần thục hai cách thức quản trị xã hội: chính thức (tức là bằng pháp luật và các quy định thành văn) và phi chính thức (bằng con đường tuyên truyền, vận động, giáo dục), v.v.
Sự phát triển sâu rộng của quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế hiện nay đang tạo ra hàng loạt không gian quyền lực chung, có tính toàn cầu, vượt ra ngoài tầm kiểm soát của chính phủ quốc gia. Để xử lý, vượt qua các thách thức, chính phủ nhiều nước trên thế giới đã chủ động cải cách. Tuy nội dung và mô hình cải cách có khác nhau, nhưng nổi lên 3 nét chung sau đây trong xu thế cải cách chính phủ hiện đại, mà chúng ta có thể tham khảo: Một là, phi tập trung hóa quyền lực nhà nước, mạnh dạn phân cấp, trao quyền cho các cơ cấu địa phương. Đây không phải là quá trình từ bỏ quyền lực trung ương, mà là biện pháp để củng cố bản thân quyền lực ấy một cách hợp lý, hiệu quả hơn. Trung ương không thay địa phương trong quản lý xã hội ở phạm vi cụ thể, mà phải giám sát việc quản lý do chính quyền địa phương tiến hành. Nhờ quá trình này, các quyết định trở nên sát hợp với thực tế hơn và động viên được đông hơn các tổ chức, cá nhân vào công việc quản lý xã hội. Hai là, phát huy đầy đủ vai trò của cơ chế thị trường trong phân bổ các nguồn lực phát triển xã hội; kết hợp tốt chức năng điều tiết của Chính phủ với thị trường và xã hội. Ba là, phát huy rộng rãi dân chủ trong toàn xã hội, không chỉ thể hiện sự phát triển của nền dân chủ chính trị, mà còn phải bảo đảm mọi quyền lực là của nhân dân, dân chủ được thực thi trong nhân dân nhằm giúp Chính phủ thực hiện sự quản lý hiện thực đối với các mặt của đời sống xã hội.
Trên phương diện chính trị, an ninh và đối ngoại, độc lập, tự chủ là yêu cầu có tính nguyên tắc trong quá trình hội nhập quốc tế của nước ta. Độc lập, tự chủ về chính trị có nghĩa là tự mình xác định mục tiêu, con đường phát triển đất nước; tự mình hoạch định đường lối, chủ trương, chiến lược phát triển; tự mình xác lập và duy trì thể chế chính trị, không chấp nhận bất cứ sự can thiệp nào từ bên ngoài. Độc lập, tự chủ về chính trị được thể hiện cả trong đối nội và đối ngoại, cả kinh tế, văn hóa, xã hội và quốc phòng, an ninh, v.v. Lô-gíc của tiến trình đổi mới là đổi mới kinh tế phải được đồng bộ, hài hòa với đổi mới chính trị, cải cách hành chính, mở rộng dân chủ, cải cách lập pháp, tư pháp. Yêu cầu đổi mới toàn diện như vậy đặt ra đòi hỏi ngày càng cấp thiết đối với năng lực quản trị của Nhà nước và năng lực cầm quyền của Đảng tại tất cả các cấp, các ngành, các địa phương. Đổi mới chính trị, đồng bộ với đổi mới kinh tế, tối ưu hóa hoạt động của hệ thống chính trị, phân bổ quyền lực chính trị hợp lý, kiểm soát quyền lực một cách hiệu quả là cách tốt nhất đáp ứng các yêu cầu và thách thức đặt ra.
Độc lập, tự chủ về đối ngoại là một vấn đề rất quan trọng, được thể hiện trước hết ở tư duy, nhận thức độc lập, sáng tạo, xuất phát từ lợi ích tối cao của đất nước - dân tộc, không giáo điều, rập khuôn, máy móc trong hoạch định và thực hiện đường lối, chính sách đối ngoại, trong xác định đối tác, đối tượng và tập hợp lực lượng quốc tế. Chủ quyền quốc gia trên lĩnh vực đối ngoại vận động theo tiến trình mở cửa, hội nhập quốc tế. Hệ thống các quan hệ đối ngoại rộng lớn hiện nay của Việt Nam là kết quả của một quá trình thực hiện các bước đột phá: từ phá thế bao vây, cấm vận, bình thường hóa quan hệ với các nước lớn, cải thiện quan hệ với các nước trong khu vực,... đến thực hiện chính sách đối ngoại rộng mở, hợp tác bình đẳng cùng có lợi, là bạn với tất cả các nước, tích cực, chủ động hội nhập quốc tế. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: “Thực lực là cái chiêng mà ngoại giao là cái tiếng”. Điều kiện để bảo đảm độc lập, tự chủ về đối ngoại trong bối cảnh đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam là: chính trị, xã hội ổn định, kinh tế tăng trưởng nhanh, bền vững, quốc phòng vững mạnh, nguồn nhân lực đối ngoại trung thành và chuyên nghiệp, quan hệ cân bằng với các nước lớn.
Thống nhất cao về nhận thức và giải quyết hiệu quả trong thực tiễn quan hệ biện chứng giữa độc lập, tự chủ và chủ động, tích cực hội nhập quốc tế là yêu cầu khách quan, bức thiết trong việc giữ vững môi trường hòa bình, ổn định kinh tế, chính trị, xã hội, phát triển đất nước, đóng góp tích cực vào việc giữ gìn hòa bình, ổn định, hữu nghị và hợp tác ở khu vực và trên thế giới. Chủ động nghiên cứu, dự báo chính xác mọi diễn biến của tình hình thế giới và trong nước, chuẩn bị các nguồn lực đủ mạnh, các đối sách, phương án hợp lý, nhất định chúng ta sẽ xử lý tốt mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế, góp phần đưa đất nước ta thực hiện thắng lợi mục tiêu: dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.
Đọc thêm...

美国国防部长马蒂斯访问越南

18:49 |
应越共中央政治局委员、中央军委副书记、越南国防部部长吴春历大将邀请,美国国防部长马蒂斯自2018124日至25日对越南进行正式访问。
125日下午,越南国防部长吴春历大将在国防部总部举行仪式,欢迎美国国防部长马蒂斯访越。
这是自1995年越美关系正常化以来,美国国防部长第六次访越,是马蒂斯就任美防长以来首次访越。
欢迎仪式结束后,越南国防部长吴春历大将与美国国防部长马蒂斯举行会谈。双方就共同关心的地区和国际问题交换意见,对过去两国双边防务合作结果进行评估并就今后基于2011年签署的推进防务合作谅解备忘录、2015年签署的国防关系联合愿景声明、2018-2020年阶段行动计划和两国领导人达成的协议加强双方国防关系的方向和措施达成了一致。双方一致同意发表关于美国国防部长对越南进行正式访问的新闻公报。
两位部长一致认为,过去双方的防务合作已取得丰硕成果,符合两国全面伙伴关系,满足两国人民的利益和愿望,尤其是在解决战争遗留问题,如寻找战争失踪人员遗骸、扫雷、清理橙毒剂污染、搜寻救难和人道主义援助、参加联合国维和行动、军医、培训等问题。
越南国防部欢迎美国继续与越南合作以尽早启动边和机场橙毒剂污染清理项目和越南参加联合国维和行动。两国国防部已呈递高层领导批准关于美国航空母舰预计于20183月访问越南岘港的相关事宜。
会谈结束后,吴春历向马蒂斯转交了越战美军遗物,并向其介绍两国克服战争遗害和参与联合国维和行动合作结果图片展。
美国国防部长马蒂斯的此次访越有助于增强两国军队和人民的友好与互信关系,使其日益务实有效发展,符合两国全面伙伴关系框架,促进各自国家、地区和世界的和平、繁荣与发展。
Đọc thêm...

Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ James Mattis thăm chính thức Việt Nam

18:48 |
Nhận lời mời của Đại tướng Ngô Xuân Lịch, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam, Bộ trưởng Quốc phòng Hợp chúng quốc Hoa Kỳ James Mattis thăm chính thức Việt Nam từ ngày 24-25/1.
Chiều 25/1, tại Trụ sở Bộ Quốc phòng, Đại tướng Ngô Xuân Lịch, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng chủ trì lễ đón chính thức Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ James Mattis. Cùng dự lễ đón có ngài Daniel Kritenbrink, Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam, đại biểu cán bộ cấp cao Bộ Quốc phòng Việt Nam.
Đây là lần thứ 6 Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ thăm Việt Nam kể từ khi hai nước bình thường hóa quan hệ năm 1995 và là lần đầu tiên ngài James Mattis thăm Việt Nam trên cương vị Bộ trưởng Quốc phòng kể từ khi nhậm chức.
Sau lễ đón chính thức, Bộ trưởng Ngô Xuân Lịch hội đàm với Bộ trưởng James Mattis. Tại hội đàm, hai bên chia sẻ một số vấn đề khu vực, quốc tế cùng quan tâm; đánh giá kết quả hợp tác quốc phòng song phương giữa hai nước thời gian vừa qua; thống nhất phương hướng, biện pháp tiếp tục thúc đẩy quan hệ quốc phòng song phương giữa hai nước thời gian tới trên cơ sở Bản Ghi nhớ về thúc đẩy hợp tác quốc phòng (MOU) ký năm 2011, Tuyên bố Tầm nhìn chung về quan hệ quốc phòng (JVS) ký năm 2015, Kế hoạch hành động 3 năm giai đoạn 2018-2019 và thỏa thuận của lãnh đạo cấp cao hai nước. Hai bên thống nhất ra Thông cáo báo chí chung về chuyến thăm chính thức Việt Nam của Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ.
Hai Bộ trưởng Việt Nam và Hoa Kỳ nhất trí cho rằng kết quả hợp tác quốc phòng thời gian qua giữa hai bên đã đạt được hiệu quả thiết thực, phù hợp với mối quan hệ đối tác toàn diện, đáp ứng được nguyện vọng, lợi ích của nhân dân hai nước, nhất là trong khắc phục hậu quả chiến tranh (tìm kiếm quân nhân mất tin, mất tích, rà phá bom mìn, xử lý hậu quả chất độc da cam/dioxin; tìm kiếm cứu nạn và hỗ trợ nhân đạo, cứu trợ thảm họa; tham gia các hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc; quân y, đào tạo...)
Bộ Quốc phòng Việt Nam hoan nghênh Hoa Kỳ tiếp tục hợp tác để sớm khởi công Dự án xử lý môi trường nhiễm dioxin tại sân bay Biên Hòa và Việt Nam tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc. Bộ Quốc phòng hai nước cũng đã trình lãnh đạo cấp cao phê duyệt để tàu sân bay Hoa Kỳ thăm Đà Nẵng, Việt Nam, dự kiến vào tháng 3/2018.
Ngay sau hội đàm, Bộ trưởng Ngô Xuân Lịch trao kỷ vật chiến tranh của quân nhân Hoa Kỳ cho Bộ trưởng James Mattis và giới thiệu Triển lãm về kết quả hợp tác khắc phục hậu quả chiến tranh, tham gia gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc giữa hai nước.

Chuyến thăm chính thức Việt Nam của Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ diễn ra trong bối cảnh khuôn khổ đối tác toàn diện giữa hai nước không ngừng được củng cố, phát triển, đặc biệt sau các chuyến thăm lẫn nhau của lãnh đạo cấp cao hai nước năm 2017. Chuyến thăm góp phần tăng cường quan hệ hữu nghị, tin cậy giữa nhân dân và quân đội hai nước; thúc đẩy quan hệ quốc phòng song phương ngày càng phát triển thực chất, hiệu quả, phù hợp với khuôn khổ đối tác toàn diện giữa hai nước, vì hòa bình, thịnh vượng, phát triển của mỗi quốc gia, khu vực và thế giới. Trong thời gian thăm Việt Nam, Đoàn Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ đã thăm chùa Trấn Quốc (Hà Nội)./.
Đọc thêm...

越印关系推动东盟-印度合作

18:35 |
          越南政府总理阮春福124日开始对印度进行访问并出席东盟-印度建立对话关系25周年纪念峰会和第69个“共和日”纪念活动。阮春福此行是在两国刚纪念建交45周年的背景下进行的,因此,有助于深化越印全面战略伙伴关系,推动东盟-印度合作,同时将印度“东向行动”政策落到实处。
          2017年见证了两国关系的多座重要里程碑。两国建交45周年和建立战略伙伴关系10周年。这也是自印度总理莫迪20169月对越南进行正式访问以来,两国落实全面战略伙伴关系的第一年。阮春福此行旨在推动两国全面战略伙伴关系务实发展。
          越印关系:从坚实基础到紧密伙伴
          越印传统关系有近2000年的历史,始于贸易往来、文化及哲学思想交流。新阶段的两国友好关系由胡志明主席和印度总理尼赫鲁奠基并持续发展,级别更高并具备了战略意义,从战略伙伴关系又升至全面战略伙伴关系。
          目前,国际和地区形势带来的新机遇和新挑战,使两国关系得到加强。越共12大提出的对外路线确定将推动与各个伙伴的关系日益走向深入并务实发展;同时与印度的“东向政策”,随后是“东向行动”政策相吻合,其中把越南视为印度在东南亚乃至更广阔地区的战略伙伴。全面战略伙伴关系给两国关系注入了新的助推力,为两国关系确定了新的框架。
          越南工商会副主席段维姜表示:“越南是印度‘东向行动’政策中的重要经济体。在上述背景下,越印贸易关系也迅猛发展。印度现为越南10大重要贸易伙伴之一。越印贸易增长取得令人鼓舞的结果,特别是东盟和印度签署自贸协定以来,两国贸易迅猛增长”。
          两国国防与安全合作关系继续良好发展。金融、石油、科技等领域合作也取得进展。教育、文化、体育合作也受到重视。旅游、民间交流合作日益密切。
          越印友协主席张明俊强调:“在民间外交领域,双方举办了8次人民友好大联欢。通过这些民间交流活动友谊日益增强,有助于增进两国人民对彼此文化、建筑、虔灵文化等的了解,关系日益密切”。
          两国、两个民族的团结友谊一向牢固、坚定不移并日益深广发展。双方的共同目标是合作与发展,为各自国家的繁荣、为国际和地区的和平与发展做出贡献。两国紧密配合,互相信任,在国际和地区问题上互相支持,在多边论坛尤其是东盟框架内良好合作。
          越南在协调东盟-印度关系中展现积极作用
          印度首次邀请东盟10个国家领导人出席第69个“共和日”纪念活动是前所未有的举动。这体现东盟在印度外交政策中的重要地位和作用。同时也体现印度对发展与统一、团结的东盟关系的愿望。
          越南一向高度评价印度“东向行动”政策,并强调,作为东盟-印度关系协调国,愿为推动东盟-印度伙伴关系做出不懈努力。在此背景下,阮春福此行不仅深化越印全面战略伙伴关系,也有助于推动东盟-印度关系发展。
Đọc thêm...

Hot (焦点)