Khai thác điểm yếu của Trung Quốc
23:07 |
BĐN - Thời gian gần đây báo chí và các trang mạng Việt Nam xuất hiện nhiều bài viết lên án hoạt động gây hấn của Trung Quốc và đưa ra cơ sở pháp lý về quyền chủ quyền, quyền tài phán của Việt Nam đối với vùng biển này. Trong khi đó truyền thông Trung Quốc hầu như không có bài viết nào về vụ việc này, chỉ đưa tin về phát biểu của Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc. Nội dung cũng chỉ nêu lại lập trường của Trung Quốc một cách chung chung, mơ hồ.
Truyền thông Trung Quốc nằm dưới sự chỉ đạo hoàn toàn của chính quyền Bắc Kinh và nổi tiếng với nhưng bài viết có lời lẽ chua ngoa, đổi trắng thay đen, đánh lừa dư luận. Vậy tại sao lần này truyền thông Trung Quốc lại im lặng như vậy?
Sau khi nhóm tàu Hải Dương 08 quay trở lại bãi Tư Chính và hôm 16/8/2019, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam lên tiếng phản đối, yêu cầu Trung Quốc rút tàu ra khỏi vùng biển Việt Nam thì đến ngày 19/8/2019, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung quốc Cảnh Sảng tại một cuộc họp báo thường kỳ ở Bắc Kinh cũng chỉ nói một cách rất mơ hồ rằng “Trung Quốc có chủ quyền với Quần đảo Nam Sa (Trường Sa) và vùng biển lân cận và có quyền chủ quyền và quyền tài phán đối với các vùng biển liên quan”; tàu Hải Dương 08 "luôn hoạt động trong vùng biển thuộc thẩm quyền của Trung Quốc”; hy vọng “quốc gia có liên quan sẽ tôn trọng một cách nghiêm túc các quyền chủ quyền và quyền tài phán của Trung Quốc”.
Trước hết, phải khẳng định rằng Trung Quốc hoàn toàn không có cơ sở pháp lý để yêu sách đối với khu vực bãi Tư Chính mà khu vực này hoàn toàn nằm trong vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa Việt Nam theo quy định của Công ước Liên hợp quốc về Luật biển 1982. Trong phát biểu của Người phát ngôn Trung Quốc đề cập đến khái niệm “vùng biển lân cận”, “vùng biển liên quan” và đòi chủ quyền hoặc quyền chủ quyền, quyền tài phán đối với các vùng biển đó. Trong luật pháp quốc tế hoàn toàn không có khái niệm về “vùng biển lân cận”, “vùng biển liên quan”. Phải chăng Trung Quốc tự cho mình cái quyền đưa ra khái niệm mơ hồ và tự họ viết ra luật?
Lâu nay, Trung Quốc thường dùng 2 luận điệu để giải thích cho các yêu sách của họ ở Biển Đông: một là, yêu sách về quyền lịch sử đối với “đường lưỡi bò” do một cá nhân Trung Quốc tự vạch ra trên bản đồ năm 1947; hai là, họ tự cho rằng quần đảo Trường Sa (Trung Quốc gọi là “Nam Sa” là của Trung Quốc và Trung Quốc được hưởng các vùng biển từ quần đảo này, bao trùm lên cả khu vực bãi Tư Chính. Rõ ràng cả 2 luận điệu này đều đã bóp méo, xuyên tạc những quy định của Công ước Liên hợp quốc về Luật biển 1982.
Đặc biệt, phán quyết ngày 12/7/2016 của Tòa Trọng tài vụ kiện Biển Đông do Philippines khởi sướng đã bác bỏ hoàn toàn cả hai luận điệu nói trên, cụ thể Tòa đã phán: thứ nhất, yêu sách về quyền lịch sử của Trung Quốc đối với “đường lưỡi bò” hoàn toàn trái với các quy định của Công ước Liên hợp quốc về Luật biển 1982 và yêu sách này hoàn toàn bị bác bỏ; thứ hai, tất cả các cấu trúc thuộc quần đảo Trường Sa không đủ điều kiện để được coi là đảo theo Điều 121 Công ước Liên hợp quốc về Luật biển 1982 nên chỉ có tối đa vùng biển lãnh hải 12 hải lý, không thể có vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa 200 hải lý. Theo đó, bất luận chủ quyền quần đào Trường Sa thuộc về quốc gia nào thì không thể đòi hỏi vùng biển quá 12 hải lý cho các cấu trúc này.
Như vậy, cả 2 luận điệu Trung Quốc đưa ra để bảo vệ cho các yêu sách phi lý của mình lâu nay đã đều bị bác bỏ. Trung Quốc hiểu rõ điều này. Họ tính toán rằng nếu để truyền thông Trung Quốc viết về hành vi của họ ở Tư Chính thì vô hình chung “đổ thêm dầu vào lửa”, tạo điều kiện cho các học giả, nhà nghiên cứu chân chính lên tiếng chỉ trích Bắc Kinh, đề cao phán quyết 12/7/2916 của Tòa Trọng tài. Chủ trương của Trung Quốc trong hơn 3 năm qua là tìm mọi cách để “làm chìm”, vô hiệu hóa phán quyết 12/7/2016 của Tòa Trọng tài
Mặt khác, trong trao đổi với các nước liên quan về vấn đề Biển Đông, Trung Quốc luôn yêu cầu giải quyết nội bộ, song phương; không tuyên truyền công khai nên bản thân Trung Quốc muốn làm chìm vụ việc để giảm sự quan tâm của dư luận. Đây là cách làm hết sức nguy hiểm của Bắc Kinh, một số nhà nghiên cứu cho rằng cách làm này là “Bắc Kinh đang chùm chăn, bịt miệng từng nước liên quan để đánh lẻ”. Trung Quốc còn biết rằng nếu truyền thông nói nhiều về vụ việc chỉ tạo thêm cơ hội cho Mỹ và các nước khác lên tiếng mạnh mẽ hơn, đặt Bắc Kinh vào tình thế khó khăn.
Rõ ràng, đây là điểm yếu của Bắc Kinh trên vấn đề Biển Đông nói chung và trong vụ việc tàu Hải Dương 08 xâm phạm bãi Tư Chính nói riêng. Các nước ven Biển Đông mà cụ thể trong trường hợp Việt Nam hiện nay cần khai thác để chống lại các hành vi xâm lấn của Trung Quốc. Theo đó, Việt Nam cần sớm tận dụng phương tiện truyền thông trong nước và quốc tế để làm rõ cơ sở pháp lý của bãi Tư Chính; cần công bố rộng rãi các tư liệu, bằng chứng liên quan để cho quốc tế và cả người dân Trung Quốc hiểu rõ bản chất của vấn đề.
Một số bài viết trên các báo và trang mạng, kể cả những tranh luận trên các trang mạng vừa qua của Việt Nam cho thấy rõ ngay cả người dân Việt Nam cũng chưa thực sự hiểu rõ tính chất pháp lý của khu vực bãi Tư Chính hoàn toàn thuộc quyền chủ quyền, quyền tài phán của Việt Nam.
Do vậy, để đối chọi với Trung Quốc trên vấn đề Biển Đông nói chung và ở khu vực bãi Tư Chính nói riêng, Việt Nam cần tận dụng khai thác những điểm yếu của Trung Quốc và phát huy những điểm mạnh của Việt Nam. Cần làm rõ cơ sở pháp lý của Việt Nam có quyền chủ quyền, quyền tài phán ở khu vực Tư Chính; công bố chi tiết những hành vi gây hấn của Trung Quốc ở khu vực này, bao gồm việc khảo sát địa chấn, đâm va và phun vòi rồng vào tàu cảnh sát biển Việt Nam....
Ông Jerome Alan Cohen, Giáo sư luật tại Trường Luật, Đại học New York cho rằng bên cạnh việc gia tăng các nỗ lực liên minh với các quốc gia ASEAN có cùng chí hướng để thuyết phục thế giới tin tưởng vào các cơ sở chính đáng bảo vệ cho các lập trường của Việt Nam, bản thân Việt Nam cần trở nên chủ động hơn nữa trong việc giải thích quan điểm của mình ở các diễn đàn quốc tế như Kỳ họp Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc sắp tới. Ông Cohen nhấn mạnh thế giới mong muốn được nghe nhiều hơn từ Việt Nam thông qua các bài bình luận báo chí, các bài nghiên cứu trên các tạp chí chuyên sâu, các bài phát biểu và hội nghị bằng ngôn ngữ tiếng Anh.
Ý kiến của Giáo sư Cohen là việc mà Việt Nam cần làm để phát huy những thế mạnh của mình và đánh vào điểm yếu của Trung Quốc trong cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển đảo của Việt Nam, cụ thể là bảo vệ quyền chủ quyền quyền tài phán của Việt Nam ở khu vực bãi Tư Chính đang bị những người cầm quyền ở Bắc Kinh xâm phạm.
越南履行1982年《联合国海洋法公约》的权利和义务
22:26 |
QPTD - 越南同106个国家于1982年12月10日在牙买加签署《联合国海洋法公约》,这标志着吸引150多个国家和诸多国际组织参与的第三次联合国海洋法会议的成功。之后,越南国会于1994年6月23日批准此《公约》,表明越南愿协同国际社会一道建立一个鼓励海上发展与合作的公正法律框架。
1982年《联合国海洋法公约》于1994年11月16日正式生效,是包括320个条款和9个附件的规模宏大的多边国际文件,其被誉为当今世界“海洋宪章”,为国际社会建立一个有关包括海床和海底区域底土在内的所有海洋问题的公平国际法律框架。这是确定越南对内水、领海的正当海洋权益以及对领海毗连区、专属经济区及大陆架的主权权利和管辖权的国际法律基础。这同时也是确定越南对黄沙和长沙两座群岛主权的重要法律基础。越南实施《公约》之后被公认为拥有12海里的领海、200海里的专属经济区和至少200海里、最长可以延伸到350海里的大陆架;越南水域、领海、专属经济区和大陆架面积达100万平方公里,约为其领土面积的3倍。
自从签署1982年《联合国海洋法公约》以来,越南始终是负责任成员国,尊重并充分履行其权利与义务。据此,越南享有根据《公约》确定所属海域和大陆架的权利,同时也有义务在重叠海域上划定海域和大陆架界限。最近,尤其是《公约》生效之后,越南已解决许多海洋划界问题,其中包括1997年与泰国划定海上界限,2000年与中国划定在北部湾领海、专属经济区和大陆架的界限,2003年与印度尼西亚划定大陆架界限等。此外,越南还与其他国家签署了多项划界与合作协议,如1982年的《越南和柬埔寨关于历史性水域协议》、1992年的《越南和马来西亚关于两国在相重叠的大陆架共同开发协议》等。
根据《公约》的规定,越南一直在200海里的专属经济区和大陆架内进行海洋经济活动。同时,积极主动促进与各有关方在环境保护、防灾救灾和海上犯罪打击方面的合作,致力于充分落实公约中各规定,维护海上安全。此外,越南还积极参与根据《公约》成立的国际机制框架内的各种活动,并在东盟合作框架内签署许多有关运输服务的共同协定。
这些结果表明越南在尊重和履行1982年《联合国海洋法公约》的权利和义务方面的决心和实际行动,为充分保障越南的正当权益和在遵守国际法基础上和平解决东海争端作出贡献。
Quyền lợi và nghĩa vụ của Việt Nam khi tham gia UNCLOS 1982
22:15 |
QPTD - Ngày 10-12-1982, tại Ja-mai-ca, Việt Nam cùng 106 quốc gia khác đã ký Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển 1982, đánh dấu sự thành công của Hội nghị Liên hợp quốc về Luật Biển lần thứ 3 với sự tham gia của 150 quốc gia và nhiều tổ chức quốc tế. Sau đó, ngày 23-6-1994, Quốc hội Việt Nam đã phê chuẩn công ước này, biểu thị quyết tâm cùng cộng đồng quốc tế xây dựng một trật tự pháp lý công bằng, khuyến khích sự phát triển và hợp tác trên biển.
Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển 1982 có hiệu lực từ ngày 16-11-1994, được coi là bản “Hiến pháp về biển và đại dương” của thế giới; một văn kiện pháp lý đa phương đồ sộ (320 điều khoản và 9 phụ lục, với hơn 1.000 quy phạm pháp luật), đáp ứng nguyện vọng của cộng đồng thế giới về một trật tự pháp lý quốc tế mới đối với tất cả các vấn đề về biển và đại dương, bao gồm cả đáy biển và lòng đất dưới đáy biển. Đây là cơ sở pháp lý quốc tế khẳng định quyền lợi chính đáng của Việt Nam đối với các vùng nội thủy, lãnh hải, quyền chủ quyền và quyền tài phán đối với vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Tổ quốc. Đồng thời, là cơ sở pháp lý quan trọng khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo: Hoàng Sa và Trường Sa. Cụ thể, sau khi gia nhập Công ước, Việt Nam được quốc tế thừa nhận có vùng lãnh hải 12 hải lý, vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý, thềm lục địa rộng ít nhất 200 hải lý và có thể mở rộng tới 350 hải lý, tính từ đường cơ sở hoặc 100 hải lý, tính từ đường đẳng sâu 2.500m; diện tích vùng biển và thềm lục địa mà Việt Nam được hưởng quyền lợi khoảng một triệu ki-lô-mét vuông, rộng gấp ba lần diện tích lãnh thổ đất liền.
Từ khi tham gia Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển 1982, Việt Nam luôn thể hiện là thành viên có trách nhiệm, tôn trọng và thực thi đầy đủ các quyền và nghĩa vụ. Theo đó, Việt Nam có quyền xác định các vùng biển và thềm lục địa theo Công ước, nhưng đồng thời cũng có nghĩa vụ tiến hành phân định các vùng biển và thềm lục địa ở những khu vực chồng lấn với các nước láng giềng. Thời gian qua, đặc biệt là sau khi Công ước có hiệu lực, Việt Nam đã giải quyết được nhiều vấn đề về phân định biển với các quốc gia láng giềng, như: phân định ranh giới biển với Thái Lan năm 1997; phân định lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa trong Vịnh Bắc Bộ với Trung Quốc năm 2000; phân định ranh giới thềm lục địa với In-đô-nê-xi-a năm 2003. Ngoài ra, Việt Nam cũng đã thỏa thuận tiến hành hợp tác khai thác chung thềm lục địa chồng lấn với Ma-lai-xi-a năm 1992; vùng nước lịch sử với Cam-pu-chia năm 1982.
Căn cứ vào các quy định của Công ước, Việt Nam đã và đang tiến hành các hoạt động kinh tế biển trong vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa 200 hải lý, phục vụ phát triển đất nước. Đồng thời, chủ động thúc đẩy hợp tác cùng các bên liên quan trong bảo vệ môi trường, cứu hộ, cứu nạn, phòng, chống thiên tai và triển khai các biện pháp ngăn chặn tội phạm trên biển, góp phần thực hiện đầy đủ các quy định của Công ước, giữ gìn an ninh, an toàn trên biển. Ngoài ra, Việt Nam cũng tích cực tham gia các hoạt động trong khuôn khổ các cơ chế quốc tế được thành lập theo Công ước và ký kết nhiều hiệp định chung trong khuôn khổ hợp tác ASEAN liên quan đến vận tải biển và dịch vụ vận tải, v.v.
Những kết quả đó đã thể hiện quyết tâm và hành động thực tế của Việt Nam đối với việc tôn trọng, thực thi các quyền và nghĩa vụ theo Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển 1982, góp phần đảm bảo quyền, lợi ích chính đáng của Việt Nam và giải quyết hòa bình các tranh chấp hiện nay ở Biển Đông theo luật pháp quốc tế.
东盟在解决东海主权争议中的利益与责任(第二期)
13:12 |
BĐN - 假使东盟各成员国都如上述一样的一致认识到解决东海主权争议问题对该组织的利益和重要性,那么同中国解决东海主权争议的进程不会拖延到今天,更不会继续拖延下去。因为实际上近几年来,东盟及其一些成员国在落实有关东海问题所签署的区域级和全球级的协议在共同立场方面缺乏团结一致,没有共同的语言使《东海行为准则》的磋商进程缓慢,间接为中国对东海主权主张采取强硬态度留下回旋“余地”。2012,在柬埔寨举行的第45界东盟外长会议不能发表有关东海问题的联合声明。接着是中方设法推迟《东海行为准则》磋商进程以及东盟对2014年中国在越南海域非法架设海洋石油981号钻井平台一事的反应散漫不够强硬。2019年7月31日在泰国举行的第52届东盟外长会议虽然发表了有关东海的联合声明,但是也不敢指名道姓谴责中国在东海对越南、菲律宾和马来西亚等三国的挑衅活动。上述的例子是对实施《东海各方行为宣言》的巨大考验,同时也预告着制定实质性的《东海行为准则》难以预料的未来。可以说,由于受到中国为落实其政治目标和欲望而推行的“分而治之”政策的影响和有关东海各方利益的不同造成东盟缺乏一致性,很可能使东盟在阻止东海冲突的中心作用被减弱。
今后几年的问题是东盟在阻止东海冲突任务中必须负有更高的责任感和作出主动性。东盟国家比任何时候必须有决心、意志和高度政治责任以便早日制定《东海行为准则》,其中要有紧凑、具体和具有法理约束性的规定。为达到这个目标。东盟必须迈开如下几步:
首先,在认识和主张方面,东盟比任何时候要把参加解决东海争议视为其巨大的政治任务和具有战略意义的利益。换言之,在当前复杂多变的情况下,东盟成员国命运的相互依赖以及其作为区域一个共同体价值及立足点的肯定在很大程度上取决于制定能阻止和管控正在升级的东海冲突的相关有效机制。这同时也是对该组织今后的存在和发展带有转折点的挑战。东盟及其成员国对这一点千万不能含糊。在推动、施加压力和要求中国对《东海行为准则》进行实质性磋商的同时,对东海提出主权主张的东盟国家要寻求共同点,进而取得统一的立场并动员鼓励其他东盟国家共同行动,为一个具有实质性、约束力的《东海行为准则》而奋斗。
东盟各国也要主动提出新的倡议,像菲律宾2011年一样提出有关“东盟-中国在东海的和平、自由友好与合作地区”或者像湄公河次区各国1995年签署的“湄公河委员会”一样的“东海和平与安全合作发展委员会”。与此同时,东盟也应该建立“东盟对东海提出主权声索国家的联合海警机构”,接着是建立“东盟联合海警组织”等,也可以同中国建立“东盟-中国东海联合海警机构”。此外,东盟国家也可以按照澳大利亚国防大学塞耶尔(Carlyle A. Thayer)教授的启发大胆缔结“东南亚航海条约”。塞耶尔教授称:该条约将把东盟全体成员国聚焦于海上安全问题,提出主权声索的国家将有更多的独立,很少或没有隶属于东盟的统一观点问题。与此同时,“东南亚航海条约”将成为一种有效的工具使东盟国家在东南亚所有海域的安全合作进一步联合在一起。这样就能够克服存在东海主权争议的东盟国家与没有东海主权争议国家之间的分歧。特别是在同中国制定《东海行为准则》的磋商中。
东盟国家应该通过一份有约束性的文件,要求东盟轮值主席国每年都要把东海问题列入东盟各高级合作机制(AMM,ADMM,ADMM+,ARF,EAS)的正式议事日程中,以便推动落实《东海各方行为宣言》,迅速制定《东海行为准则》。现在是东盟必须提出决策和采取及时的政治行动向前推动制定《东海行为准则》的时候了。这是新的考验,证明东盟在进而建立区域共同体以及成为和解东南亚地区的矛盾和制止该地区地缘政治惨祸中心的道路上的效力和灵验。
Lợi ích và trách nhiệm của ASEAN trong giải quyết tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông (phần 2)
13:01 |
BĐN - Giá như tất cả các nước thành viên ASEAN đều thống nhất nhận thấy lợi ích và tầm quan trọng của việc giải quyết tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông như trên thì có lẽ quá trình giải quyết vấn đề Biển Đông với Trung Quốc đã không kéo dài đến tận hôm nay và nhiều năm nữa. Bởi trên thực tế những năm gần đây, sự thiếu đoàn kết, nhất trí về một lập trường chung và phản ứng cầm chừng của ASEAN và một số nước thành viên trong việc thực thi các thỏa thuận đã ký kết ở cấp độ khu vực và toàn cầu liên quan đến Biển Đông đã làm chậm tiến trình đàm phán và ký Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC), cũng như gián tiếp “tạo dư địa” cho Trung Quốc mạnh tay hơn trong yêu sách lãnh thổ ở Biển Đông. Đơn cử như việc Hội nghị Ngoại trưởng ASEAN lần thứ 45 tại Campuchia năm 2012 đã không ra được Tuyên bố chung có liên quan đến vấn đề Biển Đông; tiếp theo là sự trì hoãn từ phía Trung Quốc trong việc đàm phán COC cũng như phản ứng chưa đủ mạnh, còn khá chung chung của ASEAN về hành động hạ đặt trái phép giàn khoan của Trung Quốc tại Biển Đông năm 2014. Mới nhất gần đây là Hội nghị Ngoại trưởng ASEAN lần thứ 52 tại Thailand (31/07/2019) có ra Tuyên bố chung về vấn đề Biển Đông nhưng cũng không dám lên án chỉ đích danh Trung Quốc trong một loạt hành động gây hấn tại Biển Đông đối với 3 nước Việt Nam, Philippines, Malaysia. Những ví dụ trên đang đặt ra những thách thức lớn đối với việc thực hiện DOC cũng như báo hiệu về một tương lai khó dự đoán để có một COC thực chất. Có thể nói, sự thiếu thống nhất trong ASEAN do tác động của chính sách “chia để trị” từ Trung Quốc vì mục tiêu, tham vọng địa chính trị của họ cũng như sự khác nhau về lợi ích của các bên liên quan đến Biển Đông có khả năng làm suy yếu vai trò trung tâm của ASEAN trong ngăn ngừa xung đột ở Biển Đông.
Vấn đề đặt ra hiện nay và những năm sắp tới là ASEAN cần phải có trách nhiệm và chủ động hơn nữa trong ngăn ngừa xung đột ở Biển Đông. ASEAN hơn lúc nào hết phải có quyết tâm, ý chí và trách nhiệm chính trị cao để sớm có COC, trong đó có các quy định chặt chẽ, cụ thể mang tính ràng buộc về mặt pháp lý. Để đạt được mục tiêu này, ASEAN cần phải có các bước đi sau:
Trước hết về mặt nhận thức và chủ trương, ASEAN hơn lúc nào hết phải coi việc tham gia giải quyết tranh chấp ở Biển Đông là nhiệm vụ chính trị to lớn và là lợi ích mang tầm chiến lược của Hiệp hội. Nói cách khác, sự gắn kết số phận của từng nước thành viên ASEAN và việc khẳng định giá trị, chỗ đứng của ASEAN với tư cách là một Cộng đồng khu vực trong bối cảnh phức tạp hiện nay phụ thuộc sâu sắc vào tính hiệu quả của ASEAN trong việc tạo dựng các định chế có khả năng ngăn ngừa và quản lý xung đột đang leo thang ở Biển Đông. Đây cũng là thử thách có tính bước ngoặt đối với sự tồn tại và phát triển của cộng đồng này trong những năm sắp tới. ASEAN và các nước thành viên không được mơ hồ về điều này. Cùng với việc tác động, gây sức ép, yêu cầu Trung Quốc đàm phán thực chất về COC, các nước ASEAN có yêu sách chủ quyền cần tiếp tục tìm kiếm điểm đồng, đi đến thống nhất lập trường chung và vận động các nước ASEAN khác cùng hành động vì một COC thực chất và hiệu quả.
Các nước ASEAN cũng cần chủ động đề xuất các sáng kiến mới kiểu giống như Philippin đề xuất năm 2011 về “khu vực hòa bình, tự do, hữu nghị và hợp tác ASEAN - Trung Quốc ở Biển Đông” hay kiểu “Ủy hội hợp tác phát triển hòa bình và an ninh Biển Đông” giống như “Ủy hội sông Mê Công” mà các nước thuộc tiểu vùng sông Mê Công đã ký từ năm 1995. Bên cạnh đó, ASEAN cũng nên lập cơ chế “Cảnh sát biển chung của các nước ASEAN có yêu sách đòi chủ quyền ở Biển Đông”, sau đó là “Cảnh sát biển ASEAN”, cùng với Trung Quốc lập nên cơ chế “cảnh sát biển ASEAN - Trung Quốc” trên Biển Đông. Ngoài ra, các nước ASEAN cũng nên mạnh dạn đề xuất lập nên “Hiệp ước Hàng hải Đông Nam Á” như theo gợi ý của giáo sư Carlyle A. Thayer. Theo ông này, Hiệp ước sẽ gắn kết toàn bộ các nước ASEAN vào vấn đề an ninh trên biển. Các nước có yêu sách đòi chủ quyền sẽ được độc lập nhiều hơn, ít hoặc không bị lệ thuộc vào vấn đề thống nhất quan điểm của ASEAN. Bên cạnh đó, Hiệp ước Hàng hải ASEAN là một công cụ, phương tiện hữu hiệu làm cho các nước ASEAN gắn kết với nhau hơn về hợp tác an ninh trên tất cả các vùng biển ở Đông Nam Á và như vậy sẽ khắc phục được tình trạng phân cách hay chia rẽ hiện nay giữa các nước ASEAN có tranh chấp và không tranh chấp tại Biển Đông, nhất là trong việc đàm phán với Trung Quốc về một COC.
Các nước ASEAN nên thông qua một văn bản có tính ràng buộc, yêu cầu nước Chủ tịch luân phiên ASEAN hàng năm đưa vấn đề Biển Đông vào chương trình nghị sự chính thức của các cơ chế hợp tác Cấp cao ASEAN, AMM, ADMM, ADMM+, ARF, EAS để thúc đẩy thực thi DOC và nhanh chóng có được một COC. Hơn lúc nào hết, ASEAN cần đưa ra những quyết sách và hành động chính trị kịp thời, thúc đẩy tiến trình COC về phía trước. Đây là phép thử mới chứng minh tính hiệu quả và mầu nhiệm của ASEAN trên con đường tiến tới cộng đồng khu vực cũng như trở thành trung tâm hòa giải mâu thuẫn, ngăn ngừa thảm họa địa chính trị ở khu vực Đông Nam Á.
东盟在解决东海主权争议中的利益与责任(第一期)
23:10 |
BĐN - 中国与东盟国家和一些东盟国家之间的东海主权争议发生已有几十年之久,最近又出现进一步复杂的演变。军事冲突的危机正威胁本区域的和平、稳定和发展,威胁东盟各国乃至亚太地区各国人民的平安生活。上述情况迫使东盟各国必须加倍努力,主动采取行动加以制止。但是几乎在该组织中还有小部分国家尚未完全意识到自己在参加解决东海主权争议中的利益和责任,因此,其积极性尚未充分发挥出来。甚至有个别国家因为无远见,只顾狭隘民族利益,在解决争议、尤其是解决东盟与中国争议的进程中出故意采取“回避”或“刁难”的行动。
众所周知,中国、越南、菲律宾、马来西亚和文莱五国以及台湾是对东海提出主权、主权权利及管辖权等主张的五国六方。其中越南、菲律宾、马来西亚及文莱四个东盟成员国在该海域有直接争议。这些国家在东海利用领土主权的便利来发展经济和防守国家当然拥有较大和全面的利益。新加坡、泰国、印尼和柬埔寨等四个东盟国家都是东海沿海国家,都分享该海域的巨大经济和战略利益,尤其是自由贸易及国防安全方面。缅甸和老挝这两个东盟国虽然不是东海沿海国家,但是也不是该海域对它们毫无利益,因为这是缅甸和老挝发展同太平洋岸上国家的关系最便利的航海通商线路。当属于湄公河次区域合作区的东西经济走廊扩大的时候,缅甸和老挝可以依托东海的战略优势加倍他们在东海的利益。可见,在发展经济方面,所有东盟国家都依靠东海获利。
在政治方面,东盟于2015年成功地建成安全-政治共同体(APSC),并使其活动内容进入实质性之后的最大利益是面向东盟愿景,把东盟建成多样性的区域统一组织,在区域内扮演着中心的角色等。建设安全-政治共同体的内容和方式,如“建设和分享行为准则”,合作寻求和建设制止东盟内部之间的冲突和东盟与外部合作伙伴的冲突的机制等都于2004年的总体行动计划和2009年APSC的总体规划规定清楚。因此,参加和解矛盾,建立巩固信心的机制,阻止东海上的冲突既是东盟国家的责任又是东盟国家的权利。再说,参加这些活动还帮助东盟维持和巩固其中心地位,推动建造东盟在亚太地区的多边合作机制,特别是提高东盟在区域安全论坛(ARF)、东亚论坛(EAS)和东盟防长扩大会议(ADMM+)的地位和作用。这样,会增加东盟及其成员国面对美国和中国等大国地缘政治竞争施加压力的抵抗力,同时也增加了东盟及其成员国在扩大同外部伙伴的合作的吸引力和效果,把东盟的地位和作用提到新的高度。
在安全方面,东海主权争议升级有可能导致冲突,不仅威胁在这片海域拥有主权的东盟四个国家的国家民族利益,而且还使东盟的合作与发展环境恶化,尤其是东盟及其成员国同外部合作伙伴,首先是同中国的关系。东南亚国家,尤其是对东海提出主权主张的国家无论如何都要增加国防开支,斥巨资购买武器提防万一。没有对东海提出主权主张的邻国也不敢袖手旁观,因为如果发生冲突不一定不牵连到自己。这一来不仅损害区域的经济发展投资,而且因军备竞赛趋向迅速增加也使相互猜忌和疑虑心理日益增加。
从上述经济、政治和安全三个方面解读问题表明,东盟参加和解东海矛盾,制止东海冲突可以同时达到如下目的:(1)为现实化东盟愿景做出重要贡献;(2)使东盟及其成员国避开不陷入大国政治地缘竞争的漩涡;(3)维护东盟在形成中的新区域构筑的中心地位和作用。在战略方面,东盟参加解决东海争议还为使大国,首先是美国和中国缓解他们在本区域的利益竞争和摩擦做出贡献,使他们合作共同分享利益增加。这会有利于巩固区域的合作与安全环境,其中东盟成员国的国家主权和民族利益得到尊重,不被大国轻视而推向权力竞争的漩涡。
因此,可以说,参加解决东海主权争议对东盟来说既是该组织的责任又是其战略利益。这也是对东盟现实化其中心地位进程以及大国之间在本区域争夺政治控制权战略的考验。
Lợi ích và trách nhiệm của ASEAN trong giải quyết tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông (phần 1)
22:57 |
BĐN - Tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông giữa Trung Quốc với các nước ASEAN và giữa một số nước ASEAN với nhau diễn ra mấy chục năm nay và gần đây có những diễn biến ngày càng phức tạp hơn, nguy cơ xảy ra xung đột quân sự, đe dọa đến duy trì an ninh, hòa bình, ổn định và phát triển của khu vực, đe dọa cuộc sống người dân các nước, trước hết là các nước ASEAN và sau đó là châu Á - Thái Bình Dương. Tình hình trên đã buộc ASEAN phải nỗ lực, chủ động hành động ngăn chặn, nhưng dường như các nước trong tổ chức này có một bộ phận chưa nhận thức hết lợi ích và trách nhiệm của mình trong tham gia giải quyết tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông nên tính tích cực chưa được phát huy hết, thậm chí có nước vì tầm nhìn thiển cận, chạy theo lợi ích dân tộc hẹp hòi còn có những hành động “ngãng ra” hoặc “gây khó” cho tiến trình giải quyết tranh chấp, nhất là tranh chấp giữa ASEAN với Trung Quốc.
Như đã biết, trong số 5 nước 6 bên, gồm Trung Quốc, Việt Nam, Philippines, Malaysia, Brunei và Đài Loan có yêu sách chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán ở Biển Đông, thì có 4 nước ASEAN là: Việt Nam, Philippines, Malaysia và Brunei có tranh chấp trực tiếp tại vùng biển này. Các nước trên đương nhiên có lợi ích khá lớn và toàn diện trong khai thác chủ quyền lãnh thổ đối với Biển Đông để phát triển và phòng thủ quốc gia. Các nước khác còn lại của ASEAN, có 5 nước là Singgaporre, Thái Lan, Indonesia và Campuchia cũng là những nước nằm trên bờ Biển Đông, đều chia sẻ lợi ích to lớn cả về kinh tế và chiến lược từ vùng biển này, nhất là trong tự do thương mại và an ninh quốc phòng. Hai nước nữa không nằm trên bờ Biển Đông là Myanmar và Lào nhưng cũng không phải không có lợi ích gì từ vùng biển này vì đây là con đường thông thương hàng hải thuận lợi nhất cho hai nước này trong phát triển quan hệ với các nước trên bờ Thái Bình Dương. Khi tuyến hành lang kinh tế Đông Tây thuộc Hợp tác Tiểu vùng sông Mê Kông mở rộng trở nên thuận tiện, thì lợi ích của Myanmar và Lào còn được nhân lên gấp nhiều lần nhờ sử dụng lợi thế chiến lược của Biển Đông. Nói như vậy để thấy, ở mặt phát triển kinh tế, hầu hết các nước ASEAN đều có lợi ích từ Biển Đông.
Về chính trị, lợi ích lớn nhất của ASEAN sau khi khối này đã xây dựng thành công Cộng đồng An ninh - Chính trị (APSC) vào năm 2015 và đưa những nội dung hoạt động của cộng đồng đi vào thực chất là hướng đến tầm nhìn ASEAN, xây dựng ASEAN tiến tới là một tổ chức khu vực thống nhất trong đa dạng, có vai trò trung tâm tại khu vực. Những nội dung và phương thức xây dựng APSC như “Xây dựng và chia sẻ các chuẩn mực ứng xử”; hợp tác, tìm kiếm và thiết lập các định chế để “Ngăn ngừa xung đột” trong ASEAN và giữa ASEAN với các đối tác bên ngoài được xác định rõ trong Kế hoạch hành động Tổng thể năm 2004 và trong Kế hoạch Tổng thể APSC năm 2009. Như vậy, việc tham gia hòa giải mâu thuẫn, tạo lập các cơ chế để củng cố lòng tin, ngăn ngừa xung đột ở Biển Đông vừa là trách nhiệm, vừa là quyền lợi của ASEAN. Hơn nữa, việc tham gia này còn giúp ASEAN duy trì và củng cố vai trò trung tâm, động lực thúc đẩy, kết nối kiến tạo các cơ chế hợp tác đa phương của mình ở Châu Á - Thái Bình Dương, nhất là nâng cao vai trò của ASEAN trong Diễn đàn An ninh Khu vực (ARF), Diễn đàn Đông Á (EAS) và Hội nghị Ngoại trưởng các nước ASEAN mở rộng (ADMM+). Điều này sẽ làm tăng sức đề kháng của ASEAN và các nước thành viên trước sức ép gia tăng của cạnh tranh địa chính trị giữa các nước lớn, trước hết giữa Mỹ và Trung Quốc; đồng thời cũng làm tăng sức hút, lực hấp dẫn và tính hiệu quả của ASEAN và các nước thành viên trong mở rộng hợp tác với các đối tác bên ngoài, đưa vị thế của ASEAN lên tầm cao mới, nhân tố không thể thiếu trong kiến tạo môi trường hòa bình, cơ chế hợp tác đa phương ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương.
Về an ninh, tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông leo thang có thể dẫn tới xung đột không chỉ đe dọa lợi ích quốc gia, dân tộc của 4 nước ASEAN có chủ quyền ở vùng biển này, mà còn làm xấu đi môi trường hợp tác và phát triển của cả ASEAN, nhất là quan hệ của ASEAN và các nước thành viên với các đối tác bên ngoài, trước hết là đối với Trung Quốc. Các nước Đông Nam Á, nhất là các nước có yêu sách chủ quyền ở Biển Đông, dù muốn hay không, vẫn phải giành ngân sách lo đầu tư, chi phí nhiều hơn cho quốc phòng, quân sự để “đề phòng sự cố”, các nước láng giềng không có yêu sách chủ quyền cũng không dám để cho “nước chảy bèo trôi” vì “trâu bò đánh nhau, ruồi muỗi khó thoát”. Điều này đã không chỉ làm tổn hại đến đầu tư phát triển kinh tế của cả khu vực, mà còn làm tăng mối nghi kỵ, lo ngại về an ninh do xu hướng chạy đua vũ trang gia tăng nhanh chóng.
Tiếp cận vấn đề từ 3 khía cạnh kinh tế, chính trị và an ninh như trên cho thấy sự tham gia của ASEAN vào hóa giải mâu thuẫn, ngăn ngừa xung đột ở Biển Đông cùng một lúc đạt được các mục đích: (1) Góp phần quan trọng hiện thực hóa tầm nhìn ASEAN; (2) Tránh cho ASEAN và các nước thành viên rơi vào vòng xoáy hay tâm điểm của cạnh tranh địa chính trị của các cường quốc; (3) Duy trì vai trò trung tâm của ASEAN trong một cấu trúc khu vực mới đang định hình. Ở tầm chiến lược, sự tham gia trong giải quyết tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông của ASEAN còn góp phần làm cho các nước lớn, trước hết là Mỹ và Trung Quốc giảm cạnh tranh, cọ sát lợi ích ở khu vực này, làm cho phần hợp tác cùng chia sẻ lợi ích giữa họ tăng lên. Điều này, góp phần củng cố môi trường hợp tác và an ninh khu vực, trong đó chủ quyền quốc gia, dân tộc của các thành viên ASEAN sẽ được tôn trọng, không bị các nước lớn xem nhẹ mà đẩy vào vòng xoáy của cạnh tranh quyền lực.
Vì vậy, có thể nói, sự tham gia giải quyết tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông đối với ASEAN vừa là trách nhiệm, vừa là lợi ích chiến lược của tổ chức này. Đây cũng là phép thử mới đối với tiến trình hiện thực hóa vai trò trung tâm của ASSEAN cũng như đối với chiến lược tranh giành kiểm soát địa chính trị tại khu vực này giữa các nước lớn, trước hết là giữa Mỹ và Trung Quốc.
解决东海主权争端–必须有个改换中国领导思维的妙方(第二期)
08:19 |
BDN - 在东海方面,中国注重提升南海舰队的实力,巩固南面海上防御系统,威胁东海主权声索国,与美国展开控制东海的激烈竞争。为此,中国已经:
1、 加强巩固南海舰队的岛上军事设施和港口,完善两用机场系统,基本完成海南岛三亚玉林核潜艇基地,升级改造黄沙群岛福林(中方称《永兴》)岛机场和军事基地级别,在长沙群岛吹沙造陆,在扩建的人造岛上实现军事化,诸如大力加强十字(中方称《永暑》)礁及其它岛礁的军事基地建设。这三个军事基地形成控制东海中心海域和面向太平洋走廊的“犄角”之势。
2、 成立快速反应部队,更新南海舰队装备和实现现代化,给空军配备各种新型战斗机,诸如Su-30MK2和 Su-30MK3空中加油机、FBC-1A轰炸机,扩展它们在东海的巡逻作战范围。最近,中国海军把 J-11B多功能战斗机纳入南海空军编队,部署在岭水和乐东机场。福林岛机场扩建后,为大型“空警-2000”预警机起降奠定基础。在长沙十字礁和围巾环(中方称《美济》)礁新建野战机场。
3、重新规划东海区域作战指挥系统,设立三级指挥系统(在湛江基地设立总参前方指挥所,成立直属海南省军区的“三沙”分军区,成立统一指挥三军的长沙战线指挥所,其前方指挥所设在十字礁)。把东海作为各种海军舰队编队轮番演习的区域, 同时加强空军、海军、海军陆战队的登陆占领岛屿联合演习。
与此同时,中国海军开始形成基地防御和海上反击机动作战系统,成立海上后勤补给队伍大大增加海军活动时间与活动范围。装备方面,中国向俄罗斯购买4 艘《现代》级导弹驱逐舰,12 艘《基洛夫》级潜艇。 中国已能打造《夏》级核潜艇,第三代7000吨导弹驱逐舰。2012年底,第一艘自制航母辽宁16下水,并纳入海军编制。显然,南海舰队的实力得到大大提升,现在它拥有驱逐舰队、运输-登陆舰队、猎潜舰编队、鱼雷艇舰队、护卫舰队。
中国同时大力发展空军和战略部队,把它视为协助海军与中国武力“统一”台湾和收回东海“主权”时对付美国干涉的威慑力量。
中国依仗其展开的步骤和军力的提升,在与他国争夺东海主权时更加嚣张,更加肆无忌惮。区域形势出现影响中国利益的问题时,他就把军事力量拿出来在东海“敲锣打鼓”,显扬威风。2016年,常设仲裁法庭裁定菲律宾对中国提告案菲律宾胜诉,中国立马在东海举行大规模军演,特别是当国际外交和法律触动东海主权问题时,中国就陷于理亏、居下风、遭到区域和国际舆论谴责和孤立的尴尬境地。但掉进死胡同的中国却故伎重演:举行军演、进行作战训练、举行海上搜救演练,以此挑战、反击国际舆论。
看来在与他国争夺东海主权的搏斗中,“弱肉强食”的思维仍然“根深蒂固”地扎在中国领导和将领的脑海中。这种思维不仅刺激他们强化东海军事化,不让任何人在东海占中国的上风,而且间接促使他国为自卫而被卷入海上军备竞赛。中国高层的这种思维,即使区域和世界各国努力寻求和平解决办法和努力与中国协商、谈判,都无济于事。试想,若要从根基上解决问题,东盟和国际社会是否应该合力制定一个改换中国领导上述思维的“妙方”。只有这样,东海才会是太平洋的太平之海。
Hot (焦点)
-
胡志明是二十世纪越南革命杰出的马克思主义思想家。他老人家的思想是马克思列宁主义在符合越南的条件和历史背景基础上的运用、发展与创新,体现着时代精神及现代与当代世界的运动与发展趋势。 1 、胡志明思想、道德、风格体系的道德榜样。他老人家的思想合成了越南革命及革命之路的战略策...
-
为维护国家海岛主权,越南历代封建王朝都着重投资建设强大的水军力量。越南丁、李、陈、黎、阮等王朝的水军力量不断得到加强和完善。这支水军为捍卫祖国事业作出了巨大贡献,在各个阶段留下了历史烙印。 至今还收藏的古籍显示,越南历代封建王朝早已对黄沙群岛和长沙群岛确立主权、实施...
-
1954 年《日内瓦协议》签署之后,越南暂时被分成南北两方不同政治制度的政体。据此,越南北纬 17 度以南的领土(包括黄沙、长沙两群岛)由越南共和国政府管辖。根据《协议》规定,法国殖民者被迫撤离越南之后,西贡政权立即派遣海军力量接管黄沙、长沙两群岛并对其行使主权。与此同时,...
-
(VOVWORLD) - 越南伟大领袖胡志明主席的思想、道德、作风、革命生涯是越南全党、全民学习和实践胡志明道德榜样的生动和具有说服力的楷模。至今,越南开展学习和实践胡志明道德榜样运动已有 8 年并取得多项重要结果。 胡志明主席在其革命生涯中牺牲个人利益,为祖国和人...
-
越南的黄沙群岛位于东海(中国称南海)北边,处于北纬 15°45′ 至 17°15′ 、东经 110° 至 113° ,距越南广义省李山岛约 120 海里。黄沙群岛由 37 多个岛、洲、礁和沙滩组成,分为西面和东面两个群岛。东面为安永群岛(中国称宣德群岛),由 12 个岛、洲...
-
数十年来,中国人拿出大量书籍、资料和史料,企图证明从两千年前的汉朝起,中国人就发现了西沙和南沙(即越南的黄沙群岛和长沙群岛),从而说古代中国发现西沙南沙群岛就足够证明中国对西沙和南沙的不可争议的领土主权。据说,中国人最迟于唐宋发现南沙群岛至今,就一直在岛上及其海域从事生产活...
-
越南对黄沙、长沙两座群岛的主权不仅在越南古籍和古文献中有记载,而且还出现在西方航海家和传教士等的书籍、报纸、地图、日记、航路指南等外国资料中。这些资料描述黄沙、长沙“是越南中部海上的一块沙渚…”,这和越南同一历史时期资料和古地图描述的类似。法国 1936 年在印度支那建立的...
-
BDN - 位于东海边国土陆地呈 “S” 字形的越南,无形中拥有沿着国土走向三千公里海岸及依照 1982 年《联合国海洋法公约》从岸边向外延伸的辽阔海域。这意味着从越南 1982 年 11 月确定和公布的垂直基线算起往外延伸 200 海里宽的海域属越南的主权,被称作专属经济...
-
从十六、十七世纪至今,西方国家的轮船日益频繁来往于东海。他们来到这里,不只为了扩大贸易还为了传教和传播西方文化。在来往东海期间,西方航海家和传教士们以当时最现代的技术很详细地描述和绘画黄沙群岛和长沙群岛,以避免这两个群岛的礁石给来往的船舶造成危害。为此,他们很仔细地研究东海...
-
香港媒体最近透露中国在东海划分“新边界线”的海洋研究项目,为“资源研究”创造了条件,北京对这片海域的主权主张“增添了筹码”。这条新边界线是一条与囊括了蕴藏着丰富矿产和能源资源的东海海域九段线相吻合的实线,九段线内的海域就是北京声索主权的那片海域。 从国际法的角度来看实线...









