Những cơ sở lịch sử và pháp lý khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa (Phần 6)
05:41 |4. Trung Quốc cố ý xuyên
tạc công hàm của Thủ tướng Phạm Văn Đồng năm 1958, công bố “Tứ Sa”, “Nam Hải
chư đảo”, “danh xưng tiêu chuẩn” cho 80 thực thể mới ở Biển Đông, và cuộc chiến
công hàm Việt Nam - Trung Quốc.
4.1. Trung Quốc cố ý
xuyên tạc công hàm của Thủ tướng Phạm Văn Đồng năm 1958.
Ngày 17/4/2020, Trung Quốc
gửi công hàm lên Liên Hợp Quốc để khẳng định chủ quyền với quần đảo Hoàng Sa và
Trường Sa (thuộc chủ quyền của Việt Nam). Trong đó, Trung Quốc khẳng định Chính
phủ Việt Nam cũng đã công nhận điều này thông qua công hàm 1958 của Thủ tướng
Phạm Văn Đồng. Đây là mưu đồ của Trung Quốc ở Liên Hợp Quốc nhằm “đánh lận con
đen” “gắp lửa bỏ tay người”, trắng trợn vu cáo một dữ kiện lịch sử, pháp lý mà
Trung Quốc đã và đang sử dụng để khẳng định không có quốc gia nào phản đối yêu
sách của Trung Quốc ở Biển Đông. Như chúng ta đã biết, ngày 04/9/1958, Trung Quốc
ban hành bản tuyên bố về hải phận. Bản tuyên bố của Trung Quốc gồm 4 điều: i) Thứ nhất, về bề rộng hải phận Trung Quốc
là 12 hải lý. Điều này áp dụng cho những nơi mà nước này gọi là “Lãnh thổ Trung
Quốc trên đất liền và các hải đảo duyên hải, Đài Loan cùng các phụ cận…”; ii)
Thứ hai, Trung Quốc xác định các đường cơ sở của hải phận dọc theo đất liền
Trung Quốc và các đảo ngoài khơi được xác định bởi “các đường thẳng nối liền mỗi
điểm cơ sở của bờ biển trên đất liền ở các đảo ngoại biên ngoài khơi. Phần biển
12 hải lý tính ra từ đường cơ sở của hải phận Trung Quốc…” iii) Thứ ba, Trung
Quốc yêu cầu các nước không được tự ý xâm phạm hải phận và vùng trời trên hải
phận của nước này; iv) Thứ tư, Trung Quốc tuyên bố điều 2 và 3 kể trên cũng áp
dụng các quan điểm mà Trung Quốc gọi là: Đài Loan và các đảo phụ cận, quần đảo
Bành Hồ, quần đảo Đông Sa, quần đảo Tây Sa, quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam
Sa…(28)
Công ước về lãnh hải và
vùng tiếp giáp lãnh hải 1958 chưa qui định được chiều rộng lãnh hải (12 hải lý
như Trung Quốc tuyên bố). Khi đó Trung Quốc không được Hội nghị về luật Biển
Liên Hợp Quốc lần thứ nhất (UNCLOS 1) tổ chức ở Geneva, Thụy Sĩ từ ngày 24/2 đến
27/4/1958 mời tham gia. Sau tuyên bố của Trung Quốc vào ngày 4/9/1958, đến ngày
14/9/1958, Thủ tướng Phạm Văn Đồng gửi cho Thủ tướng Chu Ân Lai và Hội đồng Nhà
nước Trung Quốc để khẳng định sự ủng hộ của Chính phủ Việt Nam đối với tuyên bố
hải phận 12 hải lý của Trung Quốc. Thủ tướng Phạm Văn Đồng gửi công hàm với mục
đích ngoại giao, thể hiện sự đoàn kết về mặt chính trị và ủng hộ lập trường hải
phận 12 hải lý của Trung Quốc. Các quốc gia trong phe XHCN như Liên Xô cũng làm
như vậy, đây là động thái hoàn toàn bình thường của các nước XHCN trong hoàn cảnh
chiến tranh lạnh, đối đầu với phe TBCN do Mỹ đứng đầu. Như vậy, bản chất công
hàm Phạm Văn Đồng là một văn kiện ngoại giao đơn phương với mục đích rất đơn giản.
Thể hiện sự đoàn kết với Trung Quốc chống lại Mỹ và các nước thuộc phe TBCN
(29). Giá trị pháp lý của công hàm Phạm Văn Đồng không phụ thuộc vào việc gọi
văn kiện này là công hàm hay công thư. Một nguyên tắc của luật pháp quốc tế là
khi xem xét một văn kiện được ký kết, cần phải tìm hiểu ý định thực sự của người
ký văn bản trong phạm vi câu chữ của văn kiện. Đây chính là nguyên tắc “trong 4
góc” và “cái đặc thù làm chủ cái tổng quát”. Theo nguyên tắc này, không được
phép suy diễn một cách chủ quan, mà phải tìm ý định thực sự của người ký văn kiện
trong phạm vi những câu chữ được dùng trong văn kiện (trong 4 góc của các trang
giấy văn kiện). Có nghĩa là, công văn Phạm Văn Đồng gồm 2 đoạn, đoạn thứ nhất
chỉ nói về việc ghi nhận và tán thành quyết định về hải phận của Trung Quốc:
“Chính phủ nước Việt Nam DCCH ghi nhận và tán thành bản tuyên bố, ngày 4/9/1958
của Chính phủ nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, quyết định về hải phận của
Trung Quốc”. Đoạn thứ hai, văn kiện đã làm rõ hơn: “Triệt để tôn trọng hải phận
12 hải lý của Trung Quốc trong mọi quan hệ với nước Công hòa nhân dân Trung Hoa
về mặt bể”. Như vậy, cái đặc thù “12 hải lý trên mặt bề “đã làm rất rõ công hàm
Phạm Văn Đồng chỉ nói về hải phận 12 hải lý của Trung Quốc, chứ không nói về vấn
đề khác. Có nghĩa là, công hàm Phạm Văn Đồng đơn giản là một văn kiện ngoại
giao đơn phương với từ ngữ rất khéo léo. Mục đích là để thể hiện sự ủng hộ của
chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đối với tuyên bố về hải phận 12 hải lý của
Trung Quốc. nhưng tuyệt nhiên không thể hiện sự công nhận của Việt Nam đối với
chủ quyền của Trung Quốc trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Nhiều học giả,
luật sư về công pháp quốc tế trong, ngoài nước đều đồng ý với quan điểm này
(30).
Mặt khác, Việt Nam không
chỉ thực hiện chủ quyền liên tục ở quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa suốt
giai đoạn chiến tranh với Pháp (1946-1954), mà còn cả giai đoạn sau đó
1954-1974 và giai đoạn hiện nay. Cụ thể, ngày 21-7-1954, Hiệp định Geneva được
ký, theo Hiệp định này, lãnh thổ Việt Nam tạm chia thành hai vùng: Miền Bắc do
Việt Nam Dân chủ cộng hòa (VNDCCH) kiểm soát, miền Nam do Liên hiệp Pháp và các
lực lượng thân Pháp, trong đó có Quốc gia Việt Nam (QGVN) kiểm soát. Ranh giới
tạm thời là vỹ tuyến 17. Năm 1955, Thủ tướng Ngô Đình Diệm phế truất Quốc trưởng
Bảo Đại, lên làm Quốc trưởng của QGVN. Sau đó QGVN đổi thành Việt Nam Cộng hòa
(VNCH) do Ngô Đình Diệm làm tổng thống. Năm 1956, quân đội VNCH đã trú đóng ở
phần phía Tây quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa. Như vậy, năm 1958, chính
VNCH (chứ không phải Việt Nam Dân chủ Cộng hòa) là thực thể chính trị duy nhất
thực sự thực thi chủ quyền ở hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Vậy nên, dù
công hàm của Thủ tướng Phạm Văn Đồng không thể hiện sự phản đối trực tiếp tuyên
bố chủ quyền của Trung Quốc đối với hai quần đảo (vì VNDCCH không phải là thực
thể chính trị thực thi chủ quyền tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa) nhưng
sự không phản đối đó không tạo ra bất cứ cơ sở pháp lý nào để nói rằng Việt Nam
đã mặc nhiên công nhận chủ quyền của Trung Quốc (31). Theo công ước Montevideo
1933 về quyền nghĩa vụ của các quốc gia, “một quốc gia là một chủ thể của luật
quốc tế, đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn về: có dân cư ổn định, có lãnh thổ xác định,
có chính phủ và có khả năng tham gia vào các quan hệ quốc tế” và “sự tồn tại về
chính trị của các quốc gia độc lập với sự công nhận của các quốc gia khác”.
Giai đoạn 1954-1975, chiếu theo công ước Montevideo 1933, trên lãnh thổ Việt
Nam tồn tại hai thực thể chính trị với tư cách quốc gia: VNDCCH và VNCH. Vấn đề
quan trọng nằm ở chỗ: dù các nước có tuyên bố công nhận hay không công nhận tư
cách quốc gia của VNDCCH hay VNCH thì điều đó cũng không làm ảnh hưởng tư cách
quốc gia của họ. Như vậy, theo luật pháp quốc tế, VNCH hoàn toàn có tư cách quốc
gia để thực thi chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, còn
VNDCCH thì trong thời gian đó không có thẩm quyền với hai quần đảo đó. Như vậy,
VNDCCH không nhất thiết phải tuyên bố phản đối chủ quyền của Trung Quốc năm
1958 và sự im lặng của VNDCCH trong thời gian này không làm yếu đi danh nghĩa
chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo (32).
Theo công ước
Montervideo 1933 quy định sự thay đổi chính quyền không làm thay đổi quốc gia.
Khi trên một lãnh thổ quốc gia có một chính quyền bị thay đổi bởi một chính quyền
khác, chính quyền mới sẽ kế thừa các di sản của chính quyền trước đó, kể cả
lãnh thổ, các hiệp ước, tư cách thành viên trong các tổ chức quốc tế, các khoản
nợ…Cuộc chiến tranh giải phóng miền Nam từ sau khi ra đời Mặt trận dân tộc giải
phóng miền Nam Việt Nam vào năm 1960, và kết thúc bằng chiến thắng ngày
30-01-1975 và thành lập Cộng hòa Miền Nam Việt Nam, thực chất là việc thực hiện
quyền tự quyết của nhân dân miền Nam trong việc lựa chọn chế độ chính trị theo
đúng các quy định của luật pháp quốc tế. Sau ngày 30-4-1975, CHMNVN đã thay thế
VNCH và trở thành thể chế chính trị duy nhất đại diện cho nhân dân miền Nam. Vì
vậy, CHMNVN có quyền và trong thực tế đã kế thừa một cách hợp pháp chủ quyền của
VNCH ở hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Chính Trung Quốc cũng là một trong
những quốc gia đầu tiên công nhận CHMNVN là đại diện duy nhất của nhân dân miền
Nam Việt Nam. Trung Quốc cũng đã gián tiếp công nhận rằng theo luật pháp quốc tế,
sau khi tiếp nhận sự đầu hàng của VNCH, CHMNVN đã chính thức kế thừa chủ quyền
đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa (33).
Năm 1976 đã diễn ra cuộc
Tổng tuyển cử, thống nhất đất nước Việt Nam. Toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam chỉ còn
một quốc gia với chính quyền duy nhất là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
(CHXHCNVN). Đó cũng là dấu mốc CHXHCNVN kế thừa chủ quyền 2 quần đảo Hoàng Sa
và Trường Sa từ CHMNVN (chứ không phải từ VNDCCH, vì thực thể chính trị này
không có thẩm quyền và không được giao quản lý 2 quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa).
Như vậy việc kế thừa chủ quyền trên 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của
CHXHCNVN đã được thực hiện theo đúng luật pháp quốc tế. Điều đó một lần nữa khẳng
định rằng Công hàm Phạm Văn Đồng 1958 không có giá trị pháp lý và không ảnh hưởng
tới chủ quyền của Việt Nam trên 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa (34).
Gần đây Trung Quốc liên
tục đưa công hàm lên Liên Hợp Quốc, trích dẫn công hàm Phạm Văn Đồng 1958 và
cáo buộc Việt Nam vi phạm nguyên tắc Estoppel. Đó là mưu đồ nhằm cố tình bẻ
cong sự thật, bẻ cong pháp luật, kể cả Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển
(UNCLOS) năm 1982 mà Trung Quốc cũng là thành viên. Cần phải khẳng định đanh
thép rằng Việt Nam không vi phạm nguyên tắc Estoppel. Estoppel là một nguyên tắc
của luật pháp quốc tế, có nghĩa là một chủ thể luật pháp (người hoặc cơ quan, tổ
chức, quốc gia) không được phép nói hoặc hành động ngược với những gì mình đã
nói và hành động trước đó.
Có nhiều học giả đã bàn
luận về việc áp dụng nguyên tắc cho trường hợp công hàm Phạm Văn Đồng 1958.
Đáng kể nhất là thảo luận của Tiến sĩ, Luật sư Đặng Minh Thu. Theo đó, căn cứ
vào thực tiễn quốc tế và các án lệ của các tòa quốc tế, muốn chứng minh Việt
Nam vi phạm nguyên tắc Estoppel thì phải chứng minh rằng công hàm Phạm Văn Đồng
1958 có ý định và nói rõ ràng rằng chủ quyền trên 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường
Sa là thuộc Trung Quốc, và điều này phải được nói một cách liên tục và có hệ thống.
Tuy nhiên, theo lập luận
của PGS. TS. Vũ Thanh Ca, chuyên gia về Luật Biển quốc tế Đại học Tài nguyên và
Môi trường Hà Nội, nguyên Vụ trưởng Vụ Hợp tác Quốc tế và khoa học công nghệ, Tổng
cục Biển và Hải đảo Việt Nam, thì: “Công hàm Phạm Văn Đồng 1958 ngoài việc ủng
hộ quan điểm vùng lãnh hải rộng 12 hải lý, thì hoàn toàn không đả động đến 2 quần
đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Thêm nữa, VNDCCH càng không nói một cách liên tục và
có hệ thống rằng chủ quyền trên 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là thuộc Trung
Quốc. Mặt khác, 2 quần đảo này lúc đó thuộc VNCH quản lý, thế nên VNDCCH không
có quyền có những tuyên bố chủ quyền với hai quần đảo này (35).
--------
(28) Đỗ Thiện “Biển
Đông: hiểu đúng ý nghĩa công hàm Phạm Văn Đồng”. https:
plo.vn/thoi-su/bien-dong-hieu-dung-y-nghia-cong-ham-pham-van-dong 910058
(29) Đỗ Thiện “Biển
Đông: hiểu đúng ý nghĩa công hàm Phạm Văn Đồng”. https:
plo.vn/thoi-su/bien-dong-hieu-dung-y-nghia-cong-ham-pham-van-dong 910058, trang
5.
(30) Đỗ Thiện “Biển
Đông: hiểu đúng ý nghĩa công hàm Phạm Văn Đồng”. https: plo.vn/thoi-su/bien-dong-hieu-dung-y-nghia-cong-ham-pham-van-dong
910058, trang …
(31) Đỗ Thiện thực hiện
“Biển Đông: Trung Quốc cố ý xuyên tạc công hàm Phạm Văn Đồng”. https://plo
vn/thoi-su/bien-dong-trung-quoc-co-y-xuyen-tac-cong-ham-pham-van-dong-910577.html.
(32) Đỗ Thiện thực hiện
“Biển Đông: Trung Quốc cố ý xuyên tạc công hàm Phạm Văn Đồng”. https://plo
vn/thoi-su/bien-dong-trung-quoc-co-y-xuyen-tac-cong-ham-pham-van-dong-910577.html,
trang 2.
(33) Đỗ Thiện thực hiện
“Biển Đông: Trung Quốc cố ý xuyên tạc công hàm Phạm Văn Đồng”. https://plo
vn/thoi-su/bien-dong-trung-quoc-co-y-xuyen-tac-cong-ham-pham-van-dong-910577.html,
trang 3, 4
(34) Đỗ Thiện thực hiện
“Biển Đông: Trung Quốc cố ý xuyên tạc công hàm Phạm Văn Đồng”. https://plo
vn/thoi-su/bien-dong-trung-quoc-co-y-xuyen-tac-cong-ham-pham-van-dong-910577.html.,
trang 4
确定黄沙与长沙群岛归属越南的历史依据(第五期)
08:33 |3.中国人对西沙和南沙(越南的黄沙和长沙)主权的评论(22)
由怀沙教授率领的越南社会科学研究组织2018年对台湾的数所大学、图书馆系统、研究院、部位及地方进行调查访问,出版“中国对越南的黄沙、长沙群岛以及越南东海的综观出版物”书籍,于2019年在河内社会科学出版社出版。这本书具有关于研究情况和中国人对越南黄沙、长沙及越南东海的有趣评论。据研究组所知,由于在越南东海包括黄沙群岛(中国名为西沙)和长沙群岛(中国名为南沙)的争执情况日益紧张复杂,所以中国队该问题的资料也越来越多。如20世纪80年代期间,关于“中国对南沙和西沙群岛不可争议的主权”资料主要集中在中国外交部的“白书”,而自从90年代以来已经在中央和地方报纸、专业期刊、高校杂志上发表多篇内容丰富的研究论文。除了专考书报以外,截至2016年6月4日,中国一共发表39686篇关于南海(越南东海)研究期刊,其中1980年以前仅有197篇,到2015年有关南海(越南东海)问题的硕士学位论文达3042篇,博士学位论文达1003篇。关于越南东海包括黄沙和长沙课题的文献、学位论文的内容主要集中在以下两个主题:
第一,研究问题的历史,就是为证明所谓“中国对西沙和南沙群岛不可争议的主权”建立“历史证据”。
第二,研究该问题的法律依据,以寻找“法律依据”,证明所谓“中国对西沙和南沙群岛不可争议的主权”。
关于历史依据,中国出版物已提出一些诡辩论:
第一,伪造中国人最早在公元二世纪汉武帝时代已经发现西沙群岛(黄沙)和南沙群岛(长沙)。中国对越南东海岛屿的主权都依靠这个基础,经过漫长的历史时期逐步形成并在此理论基础上实施的。典型作品如:林金芝1980年出版的《西沙和南沙群岛长期以来一直是中国领土》,何寄生1981年出版的《海南渔民对西沙和南沙的发现及开发的历史奉献》,郭永芳1980年出版的《西沙不是黄沙》。尤其是韩振华主编1988年东方出版社出版的《我国南海诸岛档案协会》已为了证明所谓对西沙和南沙的主权伪造“历史依据”。这被视为20个研究机构、单位、学院、大学、图书馆、国家博物馆以及地方博物馆联手合作的结果,编写过程长达数十年,自从1975年5月开始写初稿,1985年4月进行修改草案,1985年6月编写完整作品。他们收集了所有文件,甚至在国外的,只要他们认为是国内外历史书籍中记载关于越南东海岛屿的文件,包括书籍、杂志、方志、地图、档案、抄板、照片、报道(剪下)以及调查资料,引用多达17.000份历史文献,然后归类、编辑并编写成资料编协会,将此成为伪造越南东海诸岛屿长期以来一直是中国领土的“历史证据” (23)。
第二,中国诡辩认为中国人民早就在这些岛屿上开辟生产。自唐宋时期中国人民已经在西沙和南沙群岛上生活并靠捕鱼谋生。
中国学者引进中国记载所谓“中国人民数千年来在西沙和南沙群岛的往来和生产以及这两个群岛的位置和分布情况”的史料。这些作品包括:宋代的《梦梁录》、元代的《岛夷志略》、明代的《东西洋考》和《顺丰相送》、清代的《指南正法》和《海国闻见录》、不同时期渔民的《更路簿》。中国伪造上述的作品不仅继续将西沙和南沙群岛命名为“九乳螺洲”、“石塘”、“千里石塘”、“万里石塘”、“长沙”、“千里长沙”、“万里长沙”等,并且还为诸多岛屿、暗滩和沙滩赋予了许多带有生动形象的名字。近年来,在西沙群岛上先后发现了古人生活遗址,中国唐宋时期的瓷器、刀、锅等生活工具以及水井、牌坊、墓碑等历史遗迹。最后,中国继续强辩“自唐宋时期以来只有中国人在西沙和南沙群岛上生活和捕鱼谋生”(24)
第三,中国认为该国各朝代已经对这两个群岛进行管辖。自北宋时期(960-1127年)中国海军已对西沙群岛实施巡逻工作。元朝时期(1279年)元世祖忽必烈亲自派遣著名天文学家,同知太史院事郭守敬到南海进行测地学。到明清时期,西沙和南沙群岛属于广东省琼州府万州。在中国清朝政府不赞同国外在西沙和南沙海域的活动。中国将西沙和南沙表现在许多官方地图(清朝时期)(25)
第四,中国伪造中国政府和人民反对国外对西沙和南沙群岛的“侵略”并自二战结束之后(1945年)“收回”各个岛屿。
第五,中国伪造中国对西沙和南沙群岛的主权已得到国际认可并表现在国际会议、国外出版的书籍和地图。(26)
关于法律依据,中国出版物已提出一些诡辩论:
早在20世纪90年代中国与越南东海地区国家发生争端时,根据国际法越南东海研究问题在中国也得到广泛关注。有些专考书籍主要诡辩所谓“从国际法角度看中国在越南东海的主权”。另外其他工程是已反驳该地区国家主权声明为目的。可是近几年来(约2010年以来)出现很多关于U形线法律依据问题、从国际法角度看海上边经界定问题或者通过国际法解决中国与其他国家在越南东海的争端的论文。可以列举一些作品,如:修芳(Tu Phuong)的《南海争端解决中国际法问题的思考》、张海廷(Truong Hai Dinh)的《南海问题的国际法分析研究及我国对策》、傅棍城(Pho Con Thanh)的《海南界定问题的国际法分析》等。关于中国对越南东海问题的法律依据研究主要包括以下内容:利用国际法规定保护所谓中国的“正当合理”主权,反对其他国家提出对越南东海主权的主张,研究“联合国海洋法公约”以及有关中国在越南东海解决争端的国际法应用。具体如下:i)所谓中国对越南东海的主权和海上边境界定法律依据的研究;ii)在国际法基础上的有关研究和为证明中国对越南东海主权的联合国海洋法公约;iii)采用海洋法公约和相关国际法规定解决越南东海争端的问题(27)。
总之而言,中国学者在他们的著作中都认为,如果采用国际法和《海洋法公约》中国将无法维护自己的主权。 这一点也说明了中国一贯主张通过双边谈判解决争端,从而容易获得优势,有助于其在越南东海进行领土膨胀的图谋。中国非常害怕通过多边机制解决越南东海问题。2016年7月联合国常设仲裁法院裁决败诉后,有关中国“牛舌线”、“九段线”和“U形线”的论调已被中国转为中国对“四沙”包括东沙(普拉塔斯群岛)、西沙(黄沙群岛)、南沙(长沙群岛)和中沙(Macclesfield群岛)的主权主张,同时中国要求享用200海里专属经济区的权利。因此,中国将拥有大部分越南东海的主权。中国使用“四沙”代替“牛舌线”的企图,在越南东海地区国家引起了强烈的反应。各国和国际舆论都对这一企图进行谴责并与中国作斗争,他们认为“四沙”没有法律依据,正在故意制造动荡,明显标示中国在越南东海其中包括越南黄沙河长沙群岛的膨胀图谋。(待续)
----------------
参考文献:
(22)怀沙主编的《中国对越南的黄沙、长沙群岛以及越南东海的综观出版物》社会科学出版社,河内,2019年,封面和第46至47页。
(23)怀沙主编的《中国对越南的黄沙、长沙群岛以及越南东海的综观出版物》社会科学出版社,河内,2019年,第48、58页。
(24)怀沙主编的《中国对越南的黄沙、长沙群岛以及越南东海的综观出版物》社会科学出版社,河内,2019年,第58至59页。
(25)怀沙主编的《中国对越南的黄沙、长沙群岛以及越南东海的综观出版物》社会科学出版社,河内,2019年,第59页。
(26)怀沙主编的《中国对越南的黄沙、长沙群岛以及越南东海的综观出版物》社会科学出版社,河内,2019年,第59至60页。
(27)怀沙主编的《中国对越南的黄沙、长沙群岛以及越南东海的综观出版物》社会科学出版社,河内,2019年,第63至74页。
Những cơ sở lịch sử và pháp lý khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa (Phần 5)
07:32 |3. Người Trung Quốc luận
giải về chủ quyền ở Tây Sa, Nam Sa (Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam) (22)
Nhóm những nhà nghiên cứu
khoa học xã hội của Việt Nam do GS. Hoài Sa chủ trì, đã tiến hành chuyến khảo
sát đến các Trường Đại học các hệ thống thư viện, các Viện nghiên cứu, Bộ,
Ngành, địa phương ở Đài Loan năm 2018, đã xuất bản cuốn sách “Xuất bản phẩm
Trung Quốc về Hoàng Sa, Trường Sa và Biển Đông - Cái nhìn tổng quan” Nhà xuất bản
Khoa học Xã hội, xuất bản tại Hà Nội, năm 2019. Cuốn sách có nhiều nhận xét lý
thú về tình hình nghiên cứu và đánh giá của người Trung Quốc về Hoàng Sa, Trường
Sa và Biển Đông. Theo nhóm nghiên cứu, vì vấn đề tranh chấp ở Biển Đông bao gồm
quần đảo Hoàng Sa (TQ gọi là Tây Sa) và quần đảo Trường Sa (TQ gọi là Nam Sa)
diễn ra ngày càng gay go, phức tạp, nên các tài liệu của Trung Quốc liên quan đến
vấn đề này xuất hiện ngày càng nhiều. Nếu như trước thập kỷ 80 của thế kỷ XX,
các tài liệu của Trung Quốc chủ yếu tập trung trong “Sách Trắng” của Bộ Ngoại
Giao Trung Quốc “Chủ quyền không thể tranh cãi của Trung Quốc đối với quần đảo
Nam Sa và Tây Sa”, thì từ thập kỷ 90 trở lại đây đã xuất hiện nhiều bài nghiên
cứu trên báo chí Trung ương, địa phương, các tạp chí chuyên ngành, tạp chí của
các trường Đại học với nội dung phong phú. Bên cạnh số lượng sách báo chuyên khảo,
tính đến ngày 4/6/2016, Trung Quốc đã công bố 39.686 bài tạp chí nghiên cứu về
Nam Hải (Biển Đông), trong đó trước năm 1980 chỉ có 197 bài, tính đến hết năm
2015, tổng số luận văn thạc sĩ có liên quan đến vấn đề Nam Hải (Biển Đông) là
3042, luận án Tiến sĩ là 1003. Nội dung các tài liệu, luận văn, luận án về chủ
đề Biển Đông, bao gồm Hoàng Sa, Trường Sa tập trung vào hai chủ đề chính sau
đây:
Thứ nhất, nghiên cứu về
lịch sử của vấn đề, nhằm xây dựng những “chứng cứ lịch sử” để chứng minh cho
cái gọi là “chủ quyền không thể tranh cãi của Trung Quốc đối với hai quần đảo
Tây Sa và Nam Sa”.
Thứ hai, nghiên cứu những
cơ sở pháp lý của vấn đề nhằm tìm ra những “chỗ dựa pháp lý” để chứng minh cho
cái gọi là “chủ quyền không thể tranh cãi của Trung Quốc đối với hai quần đảo
Tây Sa và Nam Sa”.
- Ở chủ đề căn cứ lịch sử,
các xuất bản phẩm của Trung Quốc đã đưa ra các luận điểm ngụy biện như sau:
Thứ nhất, ngụy biện rằng
người Trung Quốc phát hiện ra quần đảo Tây Sa (Hoàng Sa) và quần đảo Nam Sa
(Trường Sa) sớm nhất, từ thời Hán Vũ Đế, thế kỷ thứ 2 sau Công nguyên. Chủ quyền
của Trung Quốc đối với các đảo ở Biển Đông chính là dựa trên cơ sở này, rồi dần
dần hình thành trong thời kỳ lịch sử lâu dài và từng bước thực hiện theo cơ sở
lý luận đó. Những tác phẩm tiêu biểu như: “Quần đảo Tây Sa và quần đảo Nam Sa từ
xưa đã là lãnh thổ của Trung Quốc” của Tác giả Lâm Kim Chi, xuất bản năm 1980.
Cuốn sách “Cống hiến lịch sử của ngư dân Hải Nam phát hiện và khai thác quần đảo
Tây Sa và Nam Sa” của tác giả Hà Ký Sinh, xuất bản năm 1981. Cuốn sách “Tây Sa
không phải là Hoàng Sa” của Quách Vĩnh Phương, xuất bản năm 1980. Đặc biệt cuốn
sách “Hội biên sử liệu các đảo Nam Hải của nước ta” do tác giả Hàn Chấn Hoa chủ
biên, xuất bản năm 1988 của NXB Đông Phương đã ngụy tạo những “chỗ dựa lịch sử”để
chứng minh cho cái gọi là chủ quyền đối với quần đảo Tây Sa, Nam Sa. Đây là kết
quả công trình hợp tác của 20 cơ quan, đơn vị nghiên cứu, Học Viện, Trường Đại
học, Thư viện, Bảo tàng Quốc gia và bảo tàng địa phương với quá trình biên soạn
công phu lên tới hàng chục năm, từ tháng 5/1975 sơ thảo, tháng 4/1985 sửa chữa
bản thảo, tháng 6/1985 viết thành bản chính thức. Họ đã thu thập tất cả các tài
liệu, kể cả ở nước ngoài, mà họ cho rằng đó là ghi chép về các đảo ở Biển Đông
trong sử sách trong và ngoài nước, gồm sách, tạp chí, phương chí, bản đồ, văn
kiện lưu trữ, bản sao, ảnh, bài báo (cắt ra) cho đến các tư liệu điều tra,
trích dẫn đến 17.000 sử liệu, sau đó phân loại chỉnh lý, biên soạn thành Hội
biên tư liệu, coi đó là “bằng chứng lịch sử” nhằm ngụy biện rằng các đảo ở Biển
Đông xưa nay vốn là lãnh thổ của Trung Quốc (23).
Thứ hai, Trung Quốc đã ngụy
biện cho rằng nhân dân Trung Quốc đã đến các đảo này khai thác làm ăn từ lâu đời.
Từ thời Đường, Tống nhân dân Trung Quốc đã sinh sống và hoạt động sản xuất đánh
bắt cá ở quần đảo Tây Sa và Nam Sa.
Học giả Trung Quốc đã dẫn
chứng các sử liệu của Trung Quốc ghi chép về cái gọi là “tình hình nhân dân
Trung Quốc đi lại, sản xuất ở quần đảo Tây Sa và quần đảo Nam Sa từ hàng ngàn
năm nay, cũng như vị trí, tình hình phân bố các đảo của hai quần đảo này”. Các
tác phẩm đó gồm: “Mộng lương lục “đời Tống, “Đảo Di chí lược” đời Nguyên, “Đông
Tây dương khảo”, “Thuận Phong tương tống” đời Minh, “Chỉ Nam chính pháp”, “Hải
quốc văn kiến lục” đời Thanh, “Canh lộ bộ” của ngư dân các thời kỳ. Trung Quốc
đã ngụy biện rằng, những tác phẩm trên không chỉ tiếp tục gọi quần đảo Tây Sa
và Nam Sa là “Cửu Nhũ Loa Châu”, “Thạch Đường”, “Thiên Lý Thạch Đường”, “Vạn lý
Thạch Đường”, “Trường Sa”, “Thiên lý Trường Sa”, “Vạn Lý Trường Sa”…mà còn đặt
ra nhiều tên gọi với hình tượng sinh động cho các đảo, đá ngầm, cát, bãi. Những
năm gần đây, ở quần đảo Tây Sa đã phát hiện di chỉ sinh sống và những đồ dùng
sinh hoạt như đồ sứ, dao, nồi đời Đường, Tống của Trung Quốc và di tích lịch sử
như Giếng nước, miếu thờ, bia mộ. Cuối cùng, Trung Quốc ngụy biện rằng “chỉ
nhân dân Trung Quốc đã sinh sống và hoạt động sản xuất đánh bắt cá ở quần đảo
Tây Sa, Nam Sa từ thời Đường, Tống”(24).
Thứ ba, Trung Quốc đã ngụy
biện rằng chính quyền các triều đại Trung Quốc đã tiến hành quản lý hai quần đảo
này. Từ thời Bắc Tống (năm 960-1127), hải quân Trung Quốc đã tuần tra biển đến
vùng quần đảo Tây Sa. Đời Nguyên (1279), Nguyên Thế Tổ Hốt Tất Liệt đích thân cử
nhà thiên văn nổi tiếng, đồng tri Thái sử Viện sự Quách Thủ Kính đến tiến hành
đo trắc địa ở Nam Hải. Đến đời Minh, Thanh, quần đảo Tây Sa và quần đảo Nam Sa
thuộc sở hữu Vạn Châu, Phủ Quỳnh Châu, tỉnh Quảng Đông. Chính quyền nhà Thanh ở
Trung Quốc đã phản đối nước ngoài có hoạt động ở vùng biển Tây Sa, Nam Sa.
Trung Quốc đã thể hiện quần đảo Tây Sa và Nam Sa trong nhiều bản đồ quan phương
(vào đời Thanh)…(25).
Thứ tư, Trung Quốc đã ngụy
biện rằng Chính phủ, nhân dân Trung Quốc đã phản đối “sự xâm lược của nước
ngoài” đối với quần đảo Tây Sa, Nam Sa và “thu hồi” các đảo từ sau chiến tranh
thế giới thứ hai (năm 1945).
Thứ năm, Trung Quốc đã
ngụy biện rằng chủ quyền của Trung Quốc đối với quần đảo Tây Sa, Nam Sa đã được
quốc tế công nhận. Sự công nhận này được thể hiện qua các hội nghị quốc tế, qua
sách vở và bản đồ do nước ngoài xuất bản (26).
- Ở chủ đề căn cứ pháp
lý, các xuất bản phẩm của Trung Quốc đã đưa ra các luận điểm ngụy biện như sau:
Ngay từ thập niên 1990
thế kỷ XX, khi tranh chấp giữa Trung Quốc và các quốc gia trong khu vực Biển
Đông tăng lên, thì các nghiên cứu vấn đề Biển Đông dưới góc độ luật quốc tế
cũng được chú trọng ở Trung Quốc. Một số sách chuyên khảo chủ yếu nhằm ngụy biện
cho cái gọi là “cho chủ quyền của Trung Quốc ở Biển Đông dưới góc độ luật quốc
tế”. Một số công trình khác có mục đích nhằm phản bác các tuyên bố chủ quyền của
các nước trong khu vực này. Tuy nhiên, trong những năm gần đây (khoảng từ năm
2010 trở lại đây) đã xuất hiện rất nhiều những luận văn, luận án liên quan đến
các nội dung như: vấn đề pháp lý liên quan tới đường chữ U, vấn đề phân định
biên giới trên biển dưới góc độ luật quốc tế hoặc sử dụng luật quốc tế để giải
quyết tranh chấp ở Biển Đông giữa Trung Quốc và các nước khác. Có thể kể đến một
số công trình như: “Suy nghĩ về vấn đề luật quốc tế trong giải quyết tranh chấp
ở Nam Hải” của tác giả Tu Phương; “Nghiên cứu phân tích pháp lý quốc tế của vấn
đề Nam Hải và đối sách của nước ta” của Trương Hải Đình; “Phân tích luật quốc tế
của vấn đề phân định ở Nam Hải” của Phó Côn Thành…Khái quát các nghiên cứu về
căn cứ pháp lý của vấn đề Biển Đông, chủ yếu bao gồm những nội dung sau đây: Áp
dụng những quy định của luật pháp quốc tế bảo vệ cái gọi là chủ quyền “hợp pháp
chính đáng” của Trung Quốc, phản đối các nước khác đưa ra những yêu sách chủ
quyền trái luật pháp ở Biển Đông, và nghiên cứu “Công ước luật biển của Liên Hợp
Quốc” và những ứng dụng của luật quốc tế có liên quan trong giải quyết vấn đề
tranh chấp ở Biển Đông của Trung Quốc. Cụ thể là: i) Các nghiên cứu nhằm ngụy
biện cho cái gọi là chủ quyền liên quan ở Biển Đông của Trung Quốc và căn cứ
pháp luật phân định biên giới trên biển; ii) Một số nghiên cứu trên cơ sở sử dụng
luật quốc tế có liên quan và Công ước Luật biển của Liên Hợp Quốc nhằm chứng
minh chủ quyền của Trung Quốc ở Biển Đông; iii) Vấn đề áp dụng Công ước Luật biển
và các quy định luật quốc tế có liên quan giải quyết vấn đề Biển Đông (27).
Tóm lại, các nhà học giả
Trung Quốc trong các tác phẩm của mình đều ngụy biện rằng, nếu áp dụng luật quốc
tế và Công ước Luật biển thì Trung Quốc sẽ không thể nào khẳng định được chủ
quyền một cách vô lý của mình. Điều này cũng phần nào giúp lý giải cho việc
Trung Quốc từ trước đến nay luôn chủ trương giải quyết tranh chấp thông qua con
đường đàm phán song phương, từ đó dễ dàng giành ưu thế, giúp cho việc thực hiện
âm mưu bành trướng lãnh thổ trên Biển Đông. Trung Quốc rất lo sợ giải quyết bằng
cơ chế đa phương quốc tế hóa vấn đề Biển Đông. Sau khi thất bại do phán quyết của
Tòa án Trọng tài Thường trực Liên Hợp Quốc tháng 7/2016, những luận điệu về “đường
lưỡi bò”, “đường 9 đoạn” “chữ U” của Trung Quốc đã được Trung Quốc chuyển sang
sử dụng yêu sách chủ quyền của Trung Quốc đối với “Tứ Sa”, bao gồm 4 nhóm đảo:
Đông Sa (quần đảo Pratas), Tây Sa (quần đảo Hoàng Sa), Nam Sa (quần đảo Trường
Sa) và Trung Sa (bãi Macclesfield), đồng thời Trung Quốc cũng đòi hỏi quyền được
hưởng vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý. Như vậy Trung Quốc sẽ làm chủ gần như
toàn bộ Biển Đông. Âm mưu dùng “Tứ Sa” để thay thế “đường lưỡi bò” của Trung Quốc
đã gây sự phản ứng mạnh mẽ cho các nước trong khu vực Biển Đông. Các nước và dư
luận quốc tế đang lên án, đấu tranh với Trung Quốc về âm mưu này, và cho rằng
“Tứ Sa” không có cơ sở pháp lý, đang cố ý gây nhập nhằng, thể hiện mưu đồ bành
trướng của Trung Quốc ở Biển Đông, trong đó bao gồm cả hai quần đảo Hoàng Sa,
Trường Sa của Việt Nam.
------------
(22) Hoài Sa (chủ biên)
“Xuất bản phẩm Trung Quốc về Hoàng Sa, Trường Sa và biển Đông - cái nhìn Tổng
quan”, Nxb KHXH, Hà Nội, 2019, trang bìa, trang 46, 47.
(23) Hoài Sa (chủ biên)
“Xuất bản phẩm Trung Quốc về Hoàng Sa, Trường Sa và biển Đông - cái nhìn Tổng
quan”, Nxb KHXH, Hà Nội, 2019, trang 48, 58
(24) Hoài Sa (chủ biên)
“Xuất bản phẩm Trung Quốc về Hoàng Sa, Trường Sa và biển Đông - cái nhìn Tổng
quan”, Nxb KHXH, Hà Nội, 2019, trang 58, 59.
(25) Hoài Sa (chủ biên) “Xuất bản phẩm Trung
Quốc về Hoàng Sa, Trường Sa và biển Đông - cái nhìn Tổng quan”, Nxb KHXH, Hà Nội,
2019, trang 59.
(26) Hoài Sa (chủ biên)
“Xuất bản phẩm Trung Quốc về Hoàng Sa, Trường Sa và biển Đông - cái nhìn Tổng
quan”, Nxb KHXH, Hà Nội, 2019, trang 59, 60
(27) Hoài Sa (chủ biên) “Xuất bản phẩm Trung Quốc về Hoàng Sa, Trường Sa và biển Đông - cái nhìn Tổng quan”, Nxb KHXH, Hà Nội, 2019, trang 63-74.
确定黄沙与长沙群岛归属越南的历史依据(第四期)
05:38 |2.2.自从二战以来(1945)
二战(1945年)结束之后返回印度支那时,到1947年法国要求代表驻越南盟军的中华民国撤出他们1946年非法占据的黄沙、长沙等两个群岛,同时法国出兵接替中华民国军队,在黄沙群岛建立气象站和无线电台。
1951年9月7日,保大政府代表团团长陈文友在与日本签署和平条约的旧金山会议上发表声明黄沙、长沙群岛早已属于越南领土的一部分:“...因为应该果断地利用所有机会以阻止以后争端的胚芽,我们确认本国对长沙、黄沙群岛的长期主权”。保大政府代表团团长陈文友先生的这一声明没有收到与会51个国家代表的反对和保留。
1953 年法国Ingénieur en chef Girod船对黄沙群岛进行了海洋、地质、地理和生态勘探。
先是西贡政府,后来西贡政府和南越共和国临时革命政府都对黄沙和长沙群岛实施了越南的主权。如下一些证据:i)1956年6月16日,西贡政府外交部强烈反对中华人民共和国占领越南黄沙群岛东部岛屿群;ii)1956 年,西贡政府海军力量在法国撤军回国时接管了黄沙和长沙群岛。南部矿业、工业和小型工业部在西贡政府海军的帮助下对黄沙(Pattle)、金银(Money)、甘泉(Robert)、晋卿(Drumond)等 4 个岛屿进行勘探;iii)1956年10月22日西贡政府将长沙裤置于福绥省之下;iv)1961年7月13日,西贡政府将原属于承天省的黄沙群岛划入广南省,并在该群岛上建立了一个乡级行政单位,名为定海乡,直属和旺郡并置于行政特使之下;v)1961年至1963年,西贡政府先后在长沙、安邦、双子西等长沙群岛的主要岛屿上建造主权碑; vi)1969年10月21日,西贡政府将定海乡并入于也属于广南省和旺郡的和龙乡;vii)1959年5月22日,西贡政府暂时逮捕在黄沙群岛的甘泉、晋卿、琛航岛屿上登陆的82名中华人民共和国“渔民”;viii)1971年4月20日,西贡政府再次确认长沙群岛属于越南领土。1971年7月13日记者招待会上,西贡政府外交部部长重申确定越南对这一群岛的主权;ix)1973年7月,西贡农业和土地发展部下属的农业研究所对属于长沙群岛的鸿庥岛进行考察;x)1973年8月,西贡规划和国家发展部与日本丸红公司合作,在黄沙群岛进行了磷酸盐勘探;xi)1973年9月6日,西贡政府将长沙、安邦、太平、双子东、双子西、南钥、中业、鸿庥、景宏以及一些附近岛屿并入于福绥省坦赭郡福海乡;xii)1974年1月19日,中华人民共和国军队占领了黄沙群岛西南群,同日,西贡政府宣布谴责中华人民共和国侵犯越南领土完整。1974年1月26日,南越南部共和国临时革命政府就解决领土争端发表三点立场,1974年2月14日宣布黄沙和长沙群岛属于越南领土的一部分。xiii)1975年9月,越南南部共和国临时革命政府代表团在科伦坡气象会议上发表声明黄沙群岛属于越南并要求世界气象组织(WMO)继续将越南黄沙气象站列入世界气象组织的气象站名单(之前已在 WMO 站系统中注册,编号为 48.860);
xiv) 关于行政管理方面,1982年越南政府决定在同奈省设立长沙岛县,在广南-岘港省设立黄沙县。后来,在调整行政境界时,黄沙县属于岘港市,长沙县属于庆和省;xv)越南社会主义共和国政府在寄给有关各方的公函、外交部发表声明、世界气象组织会议(于日内瓦1980年6月)、巴黎召开的国际地质大会(1980年7月)等多次强调越南对黄沙、长沙群岛的主权。越南政府数次颁布关于越南对黄沙、长沙群岛主权的“白书”(1979、1981、1988年),确认两个群岛是越南领土不可分开的一部分,对于两个群岛越南拥有全部符合法律规定及国际实际的主权。1988年3月14日,越南社会主义共和国外交部宣布谴责中国在长沙群岛挑起武装冲突,并强调越南对长沙、黄沙群岛的主权。2007年4月越南政府决定在长沙县设立长沙镇、双子西乡和生存乡(18);xvi) 2012年6月21日第十三届国会通过、2013年1月1日起生效的《越南海洋法》已确定“黄沙和长沙群岛属于越南的主权、主权权利及领事裁判权”(19);
xvii) 2014年5月2日,中国公然将海阳石油981钻井平台拉至越南黄沙群岛中建岛以南17海里处,距广义省里山岛约120海里。根据1982年联合国海洋法公约,此地完全位于越南200海里专属经济区内。为了保护海洋石油981钻井平台,中国派出多达80艘各类船只,其中包括07艘军舰、753艘快速攻击导弹巡逻艇、33艘海警船和许多运输船以及渔民。每天中国还派出数十架飞机在该地区上空飞行。有时中国护卫舰的数量达到100多艘。2014年5月5日,在越南召开记者招待会上,越南外交部发言人强调当未经越南国家的允许,任何国家在越南海域上的所有行动都是非法及无价值的。2014年5月15日,外交部发言人梨海平宣布越南已向联合国递交反对中国的公函。2014年5月20日越南常驻日内瓦联合国代表团向联合国办事处、世界贸易组织、其他国际组织以及驻日内瓦通讯社发出关于中国在越南东海主权严重违法行为的通知。面对这种情况,国际舆论指控中国在越南东海的侵犯行为,美国、日本、菲律宾、印度、印度尼西亚等国家纷纷谴责北京这种无视国际法、打破地区稳定秩序、加强紧张局势的行为。面临国内外舆论压力越来越大,中国无奈之下,2014年7月16日该国不得不将非法海洋石油981钻井平台撤出越南专属经济区(20);xix)2019年7月,中国派出一组海洋地质八号调查船侵入越南专属经济区(EEZ)和大陆架,为期3个月。至2019年10月25日,越南外交部宣布中国海洋地质八号调查船已撤出越南专属经济区和大陆架。10月25日下午发布的通告表明,外交部发言人黎氏秋恒强调:“关于中国海洋地质八号调查船组的活动,越南外交部发言人已多次声言。在越南水域的所有活动要根据1982年《联合国海洋法公约》(UNCLOS)规定,未经越南政府许可的行为都是违法越南主权和领事裁判权。越南要求有关各方尊重越南的主权、主权权利和领事裁判权,不要再犯”。与此同时,中国所称为“万安滩”实际上是个暗滩,根据1982年联合国海洋法公约(UNCLOS 1982)这一暗滩属于越南专属经济区和大陆架海底的一部分。“此地完全不是争执或交叉地区,中国没有任何法律依据对该地区提出主张。UNCLOS 1982和过去的裁判实践已经清楚地证明了这一点。”(摘自2019年10月25日越南外交部发言人阮氏秋恒发表通知)(21)。(待续)
---------------------
参考文献:
(18)越南外交部、国家边界委员会的《越南对黄沙和长沙群岛的主权》,知识出版社,河内2012年,第29至36页。
(19)怀沙主编的《中国对越南的黄沙、长沙群岛以及越南东海的综观出版物》社会科学出版社,河内,2019年,第7页。
(20)阮亭战中奖的“回顾“海阳石油981”事件与维护海洋和岛屿主权斗争的经验教训” http://canhsatbien.vn>nghien-cuu-trao-doi
(21)越南青年网报的“越南外交部确认海洋地质八号调查船已从越南海域上撤走”报道http://tuoitre.vn
Hot (焦点)
-
胡志明是二十世纪越南革命杰出的马克思主义思想家。他老人家的思想是马克思列宁主义在符合越南的条件和历史背景基础上的运用、发展与创新,体现着时代精神及现代与当代世界的运动与发展趋势。 1 、胡志明思想、道德、风格体系的道德榜样。他老人家的思想合成了越南革命及革命之路的战略策...
-
为维护国家海岛主权,越南历代封建王朝都着重投资建设强大的水军力量。越南丁、李、陈、黎、阮等王朝的水军力量不断得到加强和完善。这支水军为捍卫祖国事业作出了巨大贡献,在各个阶段留下了历史烙印。 至今还收藏的古籍显示,越南历代封建王朝早已对黄沙群岛和长沙群岛确立主权、实施...
-
1954 年《日内瓦协议》签署之后,越南暂时被分成南北两方不同政治制度的政体。据此,越南北纬 17 度以南的领土(包括黄沙、长沙两群岛)由越南共和国政府管辖。根据《协议》规定,法国殖民者被迫撤离越南之后,西贡政权立即派遣海军力量接管黄沙、长沙两群岛并对其行使主权。与此同时,...
-
(VOVWORLD) - 越南伟大领袖胡志明主席的思想、道德、作风、革命生涯是越南全党、全民学习和实践胡志明道德榜样的生动和具有说服力的楷模。至今,越南开展学习和实践胡志明道德榜样运动已有 8 年并取得多项重要结果。 胡志明主席在其革命生涯中牺牲个人利益,为祖国和人...
-
越南的黄沙群岛位于东海(中国称南海)北边,处于北纬 15°45′ 至 17°15′ 、东经 110° 至 113° ,距越南广义省李山岛约 120 海里。黄沙群岛由 37 多个岛、洲、礁和沙滩组成,分为西面和东面两个群岛。东面为安永群岛(中国称宣德群岛),由 12 个岛、洲...
-
数十年来,中国人拿出大量书籍、资料和史料,企图证明从两千年前的汉朝起,中国人就发现了西沙和南沙(即越南的黄沙群岛和长沙群岛),从而说古代中国发现西沙南沙群岛就足够证明中国对西沙和南沙的不可争议的领土主权。据说,中国人最迟于唐宋发现南沙群岛至今,就一直在岛上及其海域从事生产活...
-
越南对黄沙、长沙两座群岛的主权不仅在越南古籍和古文献中有记载,而且还出现在西方航海家和传教士等的书籍、报纸、地图、日记、航路指南等外国资料中。这些资料描述黄沙、长沙“是越南中部海上的一块沙渚…”,这和越南同一历史时期资料和古地图描述的类似。法国 1936 年在印度支那建立的...
-
BDN - 位于东海边国土陆地呈 “S” 字形的越南,无形中拥有沿着国土走向三千公里海岸及依照 1982 年《联合国海洋法公约》从岸边向外延伸的辽阔海域。这意味着从越南 1982 年 11 月确定和公布的垂直基线算起往外延伸 200 海里宽的海域属越南的主权,被称作专属经济...
-
从十六、十七世纪至今,西方国家的轮船日益频繁来往于东海。他们来到这里,不只为了扩大贸易还为了传教和传播西方文化。在来往东海期间,西方航海家和传教士们以当时最现代的技术很详细地描述和绘画黄沙群岛和长沙群岛,以避免这两个群岛的礁石给来往的船舶造成危害。为此,他们很仔细地研究东海...
-
香港媒体最近透露中国在东海划分“新边界线”的海洋研究项目,为“资源研究”创造了条件,北京对这片海域的主权主张“增添了筹码”。这条新边界线是一条与囊括了蕴藏着丰富矿产和能源资源的东海海域九段线相吻合的实线,九段线内的海域就是北京声索主权的那片海域。 从国际法的角度来看实线...



