Home » biendao - tiếng Việt
Thứ Tư, 22 tháng 6, 2016
Triều Nguyễn liên tục thực thi chủ quyền biển, đảo quốc gia
Biển, đảo giữ
một vị trí quan trọng trong lịch sử dân tộc, nhất là chủ quyền đối với các quần
đảo trên Biển Đông, trong đó có Hoàng Sa và Trường Sa, Côn Đảo, Phú Quốc...
Có thể nói,
triều Nguyễn là triều đại đã vẽ nên một hình thể lãnh thổ đất nước thống nhất từ
đất liền đến biển, đảo để có một nước Việt Nam hoàn chỉnh hiện nay.
Triều Nguyễn
liên tục thực thi chủ quyền của nước ta đối với biển, đảo
Tiến sỹ Phan
Thanh Hải, Giám đốc Trung tâm Bảo tồn di tích Cố đô Huế cho biết dưới thời Nguyễn,
biển, đảo luôn được xem là một phần lãnh thổ quan trọng của đất nước.
Triều Nguyễn
đã ban hành và thực thi một hệ thống chính sách về quân sự, quốc phòng, ngoại
giao, kinh tế... về biển, đảo nhằm bảo vệ, khai thác vùng lãnh thổ này.
Các chính
sách ấy bao gồm xây dựng hệ thống phòng thủ ven biển, xây dựng lực lượng hải
quân, ban hành và thực hiện các chính sách về quản lý thuyền bè, tuần tra, cứu
hộ, cứu nạn và chống hải tặc trên biển.
Ở Thừa
Thiên-Huế, tại đình làng Mỹ Lợi (xã Vinh Mỹ, huyện Phú Lộc) còn lưu giữ văn bản
liên quan Hoàng Sa được lập cách đây 250 năm, khẳng định chủ quyền lãnh thổ
thiêng liêng của Việt Nam. Theo đó, trong văn bản trên có nội dung xử lý việc
kiện tụng của phường An Bằng (nay là làng An Bằng, xã Vinh An, huyện Phú Vang)
và làng Mỹ Lợi, lập ngày 19/9 năm Cảnh Hưng 20 (6/11/1759) về việc tranh chấp
giữa hai làng liên quan đến một con thuyền và tiền trợ cấp cho đội thuyền phục
vụ Hoàng Sa; cho thấy cách đây 250 năm, nhà Nguyễn đã có quân trấn giữ quần đảo
Hoàng Sa.
Văn bản liên
quan đến chủ quyền Việt Nam ở làng Mỹ Lợi đã được Ủy ban Nhân dân tỉnh Thừa
Thiên-Huế bàn giao cho Bộ Ngoại giao để bổ sung thêm bằng chứng khẳng định chủ
quyền của Việt Nam với quần đảo Hoàng Sa.
Đối với vấn
đề thực thi chủ quyền trên biển của triều Nguyễn, theo các học giả nước ngoài,
vào năm 1816 tức là dưới thời kỳ trị vì của vua Gia Long (1802-1820), đội thủy
quân của triều Nguyễn có đến 1.482 chiếc, gồm 490 chiến thuyền, 77 đại chiến
thuyền, 66 thuyền lớn kiểu châu Âu và số còn lại là thuyền buồm hoặc thuyền nhỏ
để vận chuyển.
Tác giả M.A.
de Fancigny, một viên cựu sỹ quan với vai trò là Phái viên của Chính phủ Pháp ở
Trung Quốc và Đông Dương đã cho biết hạm đội hải quân của triều Gia Long ở Biển
Đông bao gồm những pháo thuyền mang theo từ 16-22 khẩu đại bác...
Vào năm
1819, J.White, một người Mỹ khi đến Đàng Trong từng nhiều lần đến xưởng đóng
tàu của triều vua Gia Long ở cảng Sài Gòn. Ông đã ghi lại quang cảnh và ca ngợi
kỹ thuật cùng những vật liệu, trang thiết bị dùng trên chiến thuyền trong cơ sở
đóng tàu. Theo ông, những xưởng này nằm ở đông bắc Sài Gòn, cạnh bờ sông, có thể
cạnh tranh với những xưởng tốt nhất ở châu Âu...
Sau khi kế vị,
vua Minh Mạng có ý thức học hỏi, tiếp thu khoa học kỹ thuật tiên tiến của
phương Tây đương thời. Ông chú ý việc cải tiến kỹ thuật đóng thuyền của các nước
để ứng dụng và nâng cao năng lực chuyên chở, chiến đấu cho đội thủy quân triều
đình. Năm 1822, tức là chỉ hai năm sau khi lên ngôi, Minh Mạng đã cho mua một
chiếc tàu bọc đồng của Pháp đưa về công xưởng tại Kinh đô Huế, để làm mẫu đóng
các thuyền khác.
Vua Minh Mạng
tiếp tục quan tâm phát triển thủy quân, đưa quân đội triều Nguyễn trở thành một
lực lượng hùng hậu ở Đông Nam Á. Biên chế thủy quân thời Nguyễn được phiên
thành các doanh (2.500 lính), vệ (500 lính), đội (50 lính) do các chức đô thống,
chưởng vệ, suất đội chỉ huy.
Thời Gia
Long, thủy quân có khoảng 17.000 người, thời Minh Mạng tăng lên đến 28.600 người.
Việc bố trí thủy quân cũng tùy thuộc tính chất quan trọng của từng vùng miền để
định số ít nhiều.
Vua Minh Mạng
cũng là người đã đúc rút kinh nghiệm, tìm tòi, sáng tạo ra loại thuyền tuần tiễu
trên biển dựa trên việc kết hợp những ưu điểm giữa các loại thuyền đã có của thủy
quân triều Nguyễn.
Sách Khâm định
Đại Nam hội điển sự lệ chép: "Nhà vua nhận thấy: "Trong việc tuần tra
lùng bắt giặc biển, từ trước đến nay, đều phái các thuyền thuộc hạng dài, lớn,
nên xoay chuyển chậm đến nỗi giặc thường chạy thoát. Thuyền Ô, Lê lại thấp bé,
khi có giặc, mình (chỉ thủy quân triều Nguyễn) không khỏi ở thế thấp đánh cao.
Nay ra lệnh châm chước giữa hai thứ ấy đóng riêng một thuyền Tuần dương bọc đồng
dài 4 trượng 4 thước 1 tấc, rộng 1 trượng 4 tấc, sâu 7 thước 2 tấc.”
Quy chế thủy
quân cũng được Minh Mạng cải tiến, đặc biệt quan tâm đến việc luyện tập cho hải
quân và tăng cường công tác diễn tập khi tuần tra: “Đi tuần phòng ven bể, một
là để thao luyện cách lái thuyền cho quen thiện dòng nước, một là để tập đánh
dưới nước, biết rõ đường bể, khiến cho bọn giặc bể nghe tin không dám gây sự.
Thế có phải là một việc mà ba điều lợi không.”
Lực lượng thủy
quân dưới thời Minh Mạng được sự quan tâm thích đáng của triều đình, đã trở
thành một đội quân hùng mạnh với nhiều loại thuyền chiến và vận tải khác nhau,
có thể đáp ứng những yêu cầu phục vụ cho chiến trận cũng như giao thương trên
sông nước của triều đình và các địa phương.
Vua Minh Mạng
cũng từng ban hành và thực hiện các chính sách về quản lý thuyền bè, tuần tra,
cứu hộ, cứu nạn và chống hải tặc trên biển. Để quản lý chặt chẽ hoạt động của
tàu thuyền, triều Nguyễn đã ban hành nhiều chỉ dụ, nội dung bao gồm tuần hành
xem xét tàu qua các cửa biển và ra khơi theo đoàn; quản lý chặt chẽ tình hình
tàu thuyền ra vào lạch và cửa biển dưới hình thức “nhật ký công tác;” tổ chức
tìm kiếm thuyền bị nạn hay niêm phong thuyền khi cần thiết.
Thời vua Tự
Đức, năm 1876, còn cho lập lực lượng tuần dương thuộc nha Tuần hải do Bùi Viện
chỉ huy. Lực lượng này có quân luật riêng, chia hai nhóm Thanh Đoàn và Thủy
Dũng, có nhiệm vụ tuần tiễu, canh phòng mặt biển và chống hải tặc. Nếu là thuyền
đến buôn bán chính thức, chính quyền địa phương thực hiện đo khám, kiểm tra số
người và đối chiếu thuyền bài. Đây là việc làm bắt buộc đối với địa phương có
thuyền buôn nước ngoài đến buôn bán.
Đối với thuyền
quá cảnh chờ đến nơi khác, chính quyền địa phương thực hiện đo khám, cấp phép
và thu nạp thuế. Trong trường hợp bất thường, việc xử lý thật dứt khoát trên
nguyên tắc thượng tôn pháp luật và đảm bảo an toàn an ninh cho quốc gia...
Có thể khẳng
định trong suốt quá trình tồn tại, các vị vua triều Nguyễn đều nhận thức biển đảo
có ý nghĩa quan trọng đối với sự tồn vong của triều đại, với an ninh quốc gia,
dân tộc. Nó được xem là nhân tố, là cơ sở để phòng thủ, bảo vệ quốc gia từ xa
trước sự dòm ngó của bên ngoài, nhất là các nước phương Tây. Đó cũng chính là một
trong những yếu tố tác động đến ý thức hướng biển và chủ trương tăng cường
phòng thủ biển đảo của triều Nguyễn.
Từ chính
sách quản lý vùng biển đảo nói chung và hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa nói
riêng của triều Nguyễn, từ Gia Long đến Thiệu Trị là khá toàn diện và tương đối
chặt chẽ, đến xây dựng hệ thống bản đồ, lập bia cắm mốc đến thường xuyên cử đội
thuyền ra các đảo hay thực hiện việc cứu hộ các tàu buôn nước ngoài...
Riêng đảo
Hoàng Sa có trạm khí tượng của Việt Nam hoạt động từ năm 1938-1947, được tổ chức
khí tượng quốc tế đặt số hiệu 48-860 (số 48 chỉ khu vực Việt Nam).
Dưới triều
Nguyễn, quần đảo Hoàng Sa thuộc phủ Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Nam; năm 1938 thuộc
tỉnh Thừa Thiên; năm 1961 gọi là xã Định Hải, quận Hòa Vang tỉnh Quảng Nam. Năm
1982, Chính phủ Việt Nam quyết định thành lập huyện Hoàng Sa thuộc tỉnh Quảng
Nam-Đà Nẵng; nay trở thành huyện Hoàng Sa thuộc thành phố Đà Nẵng.
Như vậy,
việc sử dụng, khai thác biển ở quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là truyền thống
lâu đời của dân tộc Việt Nam. Đến thời Nguyễn, chủ quyền của Việt Nam trên hai
quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa càng được thiết lập và thực thi một cách liên tục,
đầy đủ và toàn vẹn, không có sự tranh chấp nào. Người Pháp cũng đã cho xây dựng
các đài khí tượng, trạm quan trắc và cắt đặt lính đồn trú trên các đảo...
Đánh
giá về vị trí chiến lược của biển, đảo dưới triều Nguyễn, trong một cuộc hội thảo
"Triều Nguyễn với công cuộc bảo vệ biển đảo Tổ quốc vào thế kỷ 19" được
tổ chức mới đây tại thành phố Huế, phó giáo sư-tiến sỹ Lưu Trang, Phó hiệu trưởng
Trường Đại học Sư phạm-Đại học Đà Nẵng nhấn mạnh trong suốt quá trình tồn tại,
các vị vua triều Nguyễn đều nhận thức biển, đảo có ý nghĩa quan trọng đối với sự
tồn vong của triều đại, với an ninh quốc gia, dân tộc. Đây được xem là nhân tố,
là cơ sở để phòng thủ, bảo vệ quốc gia từ xa trước sự dòm ngó của bên ngoài, nhất
là các nước phương Tây. Đó cũng chính là một trong những yếu tố tác động đến ý
thức hướng biển và chủ trương tăng cường phòng thủ biển đảo của triều Nguyễn.
Hot (焦点)
-
胡志明是二十世纪越南革命杰出的马克思主义思想家。他老人家的思想是马克思列宁主义在符合越南的条件和历史背景基础上的运用、发展与创新,体现着时代精神及现代与当代世界的运动与发展趋势。 1 、胡志明思想、道德、风格体系的道德榜样。他老人家的思想合成了越南革命及革命之路的战略策...
-
为维护国家海岛主权,越南历代封建王朝都着重投资建设强大的水军力量。越南丁、李、陈、黎、阮等王朝的水军力量不断得到加强和完善。这支水军为捍卫祖国事业作出了巨大贡献,在各个阶段留下了历史烙印。 至今还收藏的古籍显示,越南历代封建王朝早已对黄沙群岛和长沙群岛确立主权、实施...
-
1954 年《日内瓦协议》签署之后,越南暂时被分成南北两方不同政治制度的政体。据此,越南北纬 17 度以南的领土(包括黄沙、长沙两群岛)由越南共和国政府管辖。根据《协议》规定,法国殖民者被迫撤离越南之后,西贡政权立即派遣海军力量接管黄沙、长沙两群岛并对其行使主权。与此同时,...
-
(VOVWORLD) - 越南伟大领袖胡志明主席的思想、道德、作风、革命生涯是越南全党、全民学习和实践胡志明道德榜样的生动和具有说服力的楷模。至今,越南开展学习和实践胡志明道德榜样运动已有 8 年并取得多项重要结果。 胡志明主席在其革命生涯中牺牲个人利益,为祖国和人...
-
越南的黄沙群岛位于东海(中国称南海)北边,处于北纬 15°45′ 至 17°15′ 、东经 110° 至 113° ,距越南广义省李山岛约 120 海里。黄沙群岛由 37 多个岛、洲、礁和沙滩组成,分为西面和东面两个群岛。东面为安永群岛(中国称宣德群岛),由 12 个岛、洲...
-
数十年来,中国人拿出大量书籍、资料和史料,企图证明从两千年前的汉朝起,中国人就发现了西沙和南沙(即越南的黄沙群岛和长沙群岛),从而说古代中国发现西沙南沙群岛就足够证明中国对西沙和南沙的不可争议的领土主权。据说,中国人最迟于唐宋发现南沙群岛至今,就一直在岛上及其海域从事生产活...
-
越南对黄沙、长沙两座群岛的主权不仅在越南古籍和古文献中有记载,而且还出现在西方航海家和传教士等的书籍、报纸、地图、日记、航路指南等外国资料中。这些资料描述黄沙、长沙“是越南中部海上的一块沙渚…”,这和越南同一历史时期资料和古地图描述的类似。法国 1936 年在印度支那建立的...
-
BDN - 位于东海边国土陆地呈 “S” 字形的越南,无形中拥有沿着国土走向三千公里海岸及依照 1982 年《联合国海洋法公约》从岸边向外延伸的辽阔海域。这意味着从越南 1982 年 11 月确定和公布的垂直基线算起往外延伸 200 海里宽的海域属越南的主权,被称作专属经济...
-
从十六、十七世纪至今,西方国家的轮船日益频繁来往于东海。他们来到这里,不只为了扩大贸易还为了传教和传播西方文化。在来往东海期间,西方航海家和传教士们以当时最现代的技术很详细地描述和绘画黄沙群岛和长沙群岛,以避免这两个群岛的礁石给来往的船舶造成危害。为此,他们很仔细地研究东海...
-
香港媒体最近透露中国在东海划分“新边界线”的海洋研究项目,为“资源研究”创造了条件,北京对这片海域的主权主张“增添了筹码”。这条新边界线是一条与囊括了蕴藏着丰富矿产和能源资源的东海海域九段线相吻合的实线,九段线内的海域就是北京声索主权的那片海域。 从国际法的角度来看实线...






Comments[ 0 ]
Đăng nhận xét