航行自由行动为何重要?

07:31 |
不久前,美国“杜威号”导弹驱逐舰(USS Dewey)在东海美济礁(Mischief Reef) 12海里范围内航行,美方称这是一次“航行自由行动”(freedom of navigation operation)。美济礁上有一个中国空军基地。
中国外交部称,525日发生的该事件相当于“擅自进入”中国海域,这种“炫耀武力”的行为不利于“地区和平稳定”。
不过,此类行动并不带有内在的挑衅意味。它们在全球范围常态化进行,而没有变成任何事件,通常也不会引发评论。
认真审视中方的主张有助于解释这个问题的敏感性。中国长期含糊地声称,其对几乎覆盖整个东海的一条U型线内的区域拥有主权和经济专属权,该区域一直延伸至距离中国大陆1300公里的海域。其他沿海国家也声称对该海域的岛屿、礁石和岩石拥有主权,尽管他们的主张更明确,而且总体上符合国际法原则。
东海争端对于利用该海域的丰富自然资源,对于每年途经该海域的估计5万亿美元航运都有后果。在中国实力不断增长的情况下,这些争端也将考验北京方面是否愿意尊重国际法,以和平方式解决争端。迄今为止,中国尚未通过这项考验。
2014年起,中国为确保对东海的控制而采取了日益强硬的策略。它在斯普拉特利群岛(Spratly Islands)的珊瑚礁上建了7个人造岛,其中3个(比如美济礁)建有军营以及足以起降军用喷气机的跑道。
填海造岛的面积会比纽约的中央公园(Central Park)大几倍。中国还加强了海警力量,并且时不时利用国家补贴的渔船队来阻止其他沿海国家的船只捕鱼或搜寻自然资源。这些行为都违反了国际法,正如海牙常设仲裁法院(Permanent Court of Arbitration in The Hague)去年做出的具有里程碑意义的裁决所明确的那样。
美国的航行自由行动对阻止中国“合法化”此类领土主张至关重要。按照国际法,实际控制很重要——《联合国海洋法公约》(UNCLOS)规定,如果相关国家的实际控制改变了,对该文件的解释就可能改变。换句话说,如果不经常进行航行自由行动,就可能失去航行自由。作为世界上头号海上强国,美国对于在国际法允许的任何海域航行、以保护这些自由负有特殊责任。
在过去五年的每一年里,作为东海争端中的一方,美国对各方的领土主张都发起了挑战。尽管各国在如何解释海洋法的问题上存在一些分歧,但除中国外的各方都发表声明,在总体上支持航行自由行动。在这一关键海上通道,问题不在于美国执行巡逻任务,而在于中国异乎寻常的扩张性领土主张以及它对于外界挑战的敏感度。
特朗普政府决定在美济礁附近进行航行自由行动——此前白宫拖延了很久,曾引发外界担心新总统在东海争端上迁就中国,以换取中国在其他问题上的让步——标志着美国的这项长期政策具有连续性。但它也带来两个风险。
首先,重要的是航行自由行动不应像奥巴马政府时期那样,被视为考验美国在该地区决心的方法。避免这种命运的最佳方式是定期执行航行任务,使这些行动再度成为不值得大惊小怪的事情,就像在世界上其他任何地方一样。
其次,人们不应该误认为此类行动是阻止中国在东海进一步抢占地盘的战略。这些行动是对海上权利的重要主张,但不会促使中国撤出美济礁等基地,也无法阻止中国建设其他基地。
全面战略将要求唐纳德•特朗普(Donald Trump)延续前任的政策——重新调整美国在地区的军事存在,把重点从东北亚转移到东南亚,并增强东南亚国家对各自海域的监控和巡逻能力。或许最重要的是,特朗普必须向中国表明:他领导的政府明白这一切关系到什么;并向东南亚国家的领导人保证:他不会出卖这些国家来换取其他方面的让步。
这一切事关重大,涉及国际法的神圣性、中国的治国特色,以及全世界最重要海上通道之一的航行自由。
Đọc thêm...

Tại sao chiến dịch “tự do hàng hải” lại quan trọng?

07:30 |
Vừa qua, tàu khu trục tên lửa USS Dewey của Mỹ đã tiến vào phạm vi vùng nước 12 hải lý quanh bãi Vành Khăn tại Biển Đông. Mỹ tuyên bố đây là một chiến dịch “tự do hàng hải”. Trên bãi Vành Khăn có một căn cứ không quân của Trung Quốc.
Bộ Ngoại giao Trung Quốc tuyên bố, sự kiện xảy ra ngày 25/5 vừa nêu trên là hành động “tự tiện xâm nhập” vùng biển của Trung Quốc. Hành động “phô trương vũ lực” như vậy không có lợi cho hòa bình ổn định của khu vực.
Tuy nhiên, hành động trên không hề mang tính khiêu khích. Hành động như trên được tiến hành thường xuyên trên phạm vi toàn cầu và rất ít khi dẫn tới những bình luận khác nhau.
Đánh giá một cách cẩn thận chủ trương của Trung Quốc sẽ giúp ích giải thích tính nhạy cảm trong vấn đề này. Từ trước đến nay, Trung Quốc luôn tuyên bố mơ hồ rằng, nước này có chủ quyền và đặc quyền kinh tế trong phạm vi vùng thuộc thuộc đường chữ U. Khu vực này kéo dài đến vùng biển cách xa Trung Quốc đại lục tới 1300 km. Các nước khác xung quanh Biển Đông cũng tuyên bố có chủ quyền đối với các đảo, đá trên Biển Đông, tuy rằng tuyên bố của họ rõ ràng hơn và phù hợp với luật pháp quốc tế hơn.
Tranh chấp Biển Đông sẽ có tác động đến việc khai thác nguồn tài nguyên tự nhiên phong phú của vùng biển này và cũng sẽ ảnh hưởng đến tuyến đường hàng hải với tổng giá trị hàng hóa đi qua đây mỗi năm lên tới khoảng 5000 tỷ USD. Trong bối cảnh sức mạnh của Trung Quốc không ngừng tăng lên, tranh chấp này cũng sẽ là liều thuốc thử cho việc liệu Trung Quốc có tuân thủ luật pháp quốc tế, giải quyết tranh chấp thông qua biện pháp hòa bình. Cho đến nay, Trung Quốc vẫn chưa qua được phép thử này.
Từ năm 2014 đến nay, để đảm bảo quyền khống chế Biển Đông, Trung Quốc đã lựa chọn sách lược cứng rắn. Trung Quốc đã cải tạo 7 bãi đá tại quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền lãnh thổ Việt Nam, trong đó có 3 đảo nhân tạo có bố trí doanh trại quân đội và đường băng cho máy bay phản lực.
Diện tích bồi đắp đảo của Trung Quốc đã lớn gấp nhiều lần Công viên Trung tâm (Central Park) tại New York. Trung Quốc còn tăng cường lực lượng cảnh sát biển, đồng thời sử dụng lực lượng tàu đánh cá có sự hậu thuẫn của nhà nước làm công cụ ngăn cản tàu của các nước khác đánh cá hoặc khai thác tài nguyên trên Biển Đông. Những hành động này đã vi phạm luật pháp quốc tế, đúng như nội dung phán quyết của Tòa trọng tài quốc tế đưa ra hồi tháng 7 năm ngoái.
Hoạt động tự do hàng hải của Mỹ có vai trò quan trọng trong việc ngăn chặn Trung Quốc “hợp pháp hóa” yêu sách chủ quyền nêu trên. Theo luật pháp quốc tế, việc kiểm soát trên thực tế vô cùng quan trọng. UNCLOS quy định, nếu kiểm soát thực tế của quốc gia có liên quan thay đổi thì sự giải thích đối với văn kiện trên cũng có thể thay đổi. Nói cách khác, nếu không thường xuyên tiến hành chiến dịch “tự do hàng hải” thì sẽ có khả năng mất đi quyền tự do hàng hải. Là cường quốc biển mạnh nhất thế giới, Mỹ có trách nhiệm đặc biệt trong việc tiến hành hoạt động hàng hải tại bất cứ vùng biển nào luật quốc tế cho phép để bảo vệ quyền tự do hàng hải quốc tế.
Trong thời gian qua, tuy các nước liên quan tranh chấp Biển Đông có sự giải thích khác nhau đối với luật biển quốc tế nhưng ngoài Trung Quốc ra, các nước khác về cơ bản đều ủng hộ tự do hàng hải. Trên tuyến đường vận tải biển quan trọng này, vấn đề không phải là việc Mỹ thực hiện chiến dịch tự do hàng hải tại Biển Đông mà là yêu sách chủ quyền phi lý của Trung Quốc đã đe dọa nghiêm trọng đến tự do hàng hải của tất cả các nước trên thế giới.
Trước đây, chính quyền Tổng thống D.Trump đã tạm hoãn chiến dịch tự do hàng hải tại Biển Đông rất lâu, khiến nhiều nước lo ngại Mỹ “làm ngơ” cho Trung Quốc tại Biển Đông để đổi lấy sự nhượng bộ của Trung Quốc trong các vấn đề quốc tế khác. Tuy nhiên, việc Mỹ điều tàu khu trục tên lửa USS Dewey đến bãi Vành Khăn chứng tỏ Mỹ đã tiếp tục chính sách có tính chất ổn định lâu dài này. Tuy nhiên, việc này cũng sẽ kéo theo hai nguy cơ.
Thứ nhất, quan trọng là chiến dịch tự do hàng hải không nên bị coi như cách thức thử thách quyết tâm của Mỹ tại khu vực này giống như thời Tổng thống Obama. Để tránh điều đó, Mỹ cần định kỳ tiến hành chiến dịch tự do hàng hải, làm cho hoạt động này trở thành một hoạt động thông thường, giống như Mỹ đã thực hiện ở những vùng biển khác trên thế giới.
Thứ hai, các nước cũng không nên hiểu nhầm rằng đây là cách thức Mỹ ngăn chặn chiến lược bành trướng của Trung Quốc ở Biển Đông. Hành động này là sự khẳng định quan trọng đối với quyền lợi biển, nhưng nó sẽ không buộc Trung Quốc phải rút khỏi căn cứ trên bãi Vành Khăn, cũng không thể nào ngăn cản được Trung Quốc xây dựng các căn cứ quân sự khác.
Chiến lược toàn diện sẽ buộc Tổng thống D.Trump phải kế thừa chính sách của chính phủ nhiệm kỳ trước: điều chỉnh lại sự hiện diện quân sự của Mỹ trong khu vực, chuyển trọng tâm từ Đông Bắc Á xuống Đông Nam Á, đồng thời giúp đỡ các nước Đông Nam Á tăng cường khả năng tuần tra, giám sát vùng biển của mình. Ngoài ra, điểm quan trọng nhất là, D.Trump cần thể hiện rõ với Trung Quốc: chính phủ Mỹ biết rõ những điều này có quan hệ tới vấn đề gì; đồng thời cũng phải đảm bảo với các nước Đông Nam Á rằng, Mỹ sẽ không bán rẻ các nước này để đổi lấy sự nhượng bộ trong các vấn đề khác.
Vấn đề này vô cùng quan trọng, liên quan tới sự thiêng liêng của luật pháp quốc tế, đặc sắc trị quốc của Trung Quốc và tự do hàng hải trên một trong những tuyến đường hàng hải quan trọng nhất trên thế giới.
Đọc thêm...

美学者:美必须阻止中国在东海的推进(第2期)

05:42 |
拉特纳:威慑加外交
他认为,阻止中国向前推进的时间不多了。川普政府需要采取更为强有力的立场,用威慑来补充外交,向中国发出警告说,如果侵略继续的话,美国将放弃其中立立场,转而帮助该地区的国家捍卫他们的主权宣称。他还认为,华盛顿应该清楚的向中国表明,华盛顿可以容忍一个不稳定的僵局,但是无法容忍中国的霸权。
拉特纳说,好消息是,尽管中国在全面控制东海方面取得了巨大的进展,但是这个目标还没有实现。他认为,美国应当发出一个清楚的警告:即如果中国继续建造人工岛礁或是在这些岛礁上部署远程导弹或是战斗机等强有力的军事设施,美国将改变它对东海的中立政策,停止呼吁克制,而是加大努力,帮助该地区的其他国家对中国的强制行为进行防卫。
这包括帮助其他声索方填海造岛并强化其基地,与他们展开联合军事演习,并向他们出售拥有反介入能力的军事设备,来遏制中国军方。这位学者列出的军事设备包括无人侦察机、海洋水雷、路基反潜导弹、快速攻击导弹船以及移动性的空防系统。
拉特纳建议美国向那些与东南亚已经存在密切安全联系的盟友与伙伴寻求帮助。如果北京拒绝改变路线,华盛顿应当与该地区的国家谈判新的协议,允许美国到访甚至是永久性的驻扎在他们在东海的基地。
他认为,这个新的威慑将使北京面临一个严峻的抉择:它要么继续在东海军事化,与受到美国军力支持并拥有日益先进的基地和军队的其他国家对决;要么停止军事化,放弃进一步填海造岛的计划,开始认真的寻找外交解决途径。
拉特纳承认,要想这个策略成功,该地区其他国家将需要对军队做出投资,并与美国进行更为密切的合作。
实施这一策略所面临的障碍
他也意识到,这里面也有很大的障碍。该地区很多国家担心,如果他们与美国合作的话,中国会对他们进行经济惩罚。在川普退出了跨太平洋伙伴关系协议后,东盟国家认为,中国将主导该地区的经济秩序。这种看法使得这些国家由于害怕中国的报复而不愿意与美国展开任何新的军事活动。
拉特纳认为,华盛顿防止这个危险趋势的唯一途径是给他们对中国的经济依赖提供一个可行的替代方案。这可能意味着恢复某种形式的跨太平洋伙伴关系协议或是提议一个新的同样宏大的区域贸易与投资倡议。
他还建议华盛顿向有关声索方的公众提供中国在东海的行为的信息来影响其国内政治。
拉特纳最后还反驳了一些说法,包括美国的威慑会使中国加倍的军事化以及美国的阻挡会使中国的鹰派领导人更加大胆等。还有人认为,东海不值得费这个劲,因为中国的势力范围可能被证明是好事。但是这位学者说,鉴于北京越来越愿意使用经济和军事压力为其政治目的服务,这个赌注的风险与日俱增。他说,即使中国的控制在一开始是和平的,但是也不能保证它会继续保持和平。他做出结论说,避免海洋冲突的最佳途径就是使美国防止任何其他大国在这里发号施令。
Đọc thêm...

Cách thức để Mỹ ngăn chặn bước tiến trên biển của Trung Quốc: Chuyển hướng Chính sách (phần 2)

05:41 |
Duy trì hoà bình
Để chiến lược trên thành công, các quốc gia trong khu vực sẽ cần đầu tư quân đội mạnh hơn và hợp tác chặt chẽ hơn với Mỹ. May mắn là, điều đó đang xảy ra. Việt Nam đã mua một hạm đội tàu ngầm đắt đỏ của Nga để ngăn chặn Trung Quốc; Đài Loan gần đây tuyên bố kế hoạch xây dựng quân đội của riêng mình. Indonesia đã tăng cường các cuộc tập trận gần quần đảo Natuna giàu tài nguyên. Và mặc cho những phát ngôn thù địch của Tổng thống Rodrigo Duterte, Philippines đã không huỷ kế hoạch cho phép Mỹ đưa thêm tàu chiến và máy bay đến các cảng và phi trường của Philippines dọc theo rìa phía đông Biển Đông.
Nhưng những rào cản đáng kể vẫn tồn tại. Nhiều quốc gia trong khu vực lo sợ rằng Trung Quốc sẽ trả đũa bằng các hình phạt kinh tế nếu các quốc gia này liên kết với Mỹ. Sau quyết định rút khỏi Hiệp định Thương mại xuyên Thái Bình Dương (TPP) của Trump, các quốc gia Đông Nam Á càng tin rằng Trung Quốc sẽ đương nhiên thống trị trật tự kinh tế trong khu vực, thậm chí nhiều quốc gia đang lo ngại với viễn cảnh đó. Nhận thức đang gia tăng này sẽ làm cho các quốc gia trong khu vực lưỡng lự trong việc tham gia các hoạt động quân sự với Mỹ do lo sợ sự trả đũa của Trung Quốc. Cách duy nhất cho Washington ngăn chặn xu hướng nguy hiểm này là cung cấp một giải pháp khả thi thay thế cho việc lệ thuộc kinh tế vào Trung Quốc. Điều đó có thể là khôi phục lại một phiên bản TPP hoặc đề xuất một sáng kiến mới và đầy tham vọng về thương mại và đầu tư trong khu vực. Mỹ không thể đánh bại một thứ gì mà không có gì trong tay.
Washington cũng nên xây dựng hình ảnh tích cực hơn trong chính trị nội bộ các quốc gia với các yêu sách ở Biển Đông bằng việc phổ biến công khai thông tin về các hoạt động của Trung Quốc trên biển. Các nhà báo và chuyên gia quốc phòng hiện đang phải dựa vào hình ảnh lẻ tẻ và không đầy đủ từ các vệ tinh thương mại để biết được các hoạt động của Trung Quốc. Chính phủ Mỹ nên cải thiện điều này bằng việc bổ sung thêm các báo cáo thường xuyên và các hình ảnh về việc triển khai vũ khí của Trung Quốc, cũng như các tàu hải quân và tàu tuần tra của Trung Quốc và các tàu đánh cá do chính phủ Trung Quốc hậu thuẫn hoạt động bất hợp pháp tại các vùng đặc quyền kinh tế và lãnh hải của các nước khác.
Các nước trong khu vực cũng nhiều khả năng sẽ hợp tác với Washington nếu họ có thể tin tưởng vào Mỹ để duy trì luật pháp quốc tế. Để đạt được mục đích đó, hải quân Mỹ nên thường xuyên tiến hành tuần tra thực thi quyền tự do hàng hải trên Biển Đông, không phải thực hiện điều này chỉ khi Washington muốn ghi điểm về ngoại giao.
Một số nhà phê bình phản đối biện pháp răn đe mạnh mẽ hơn lập luận rằng điều đó chỉ khuyến khích Trung Quốc gia tăng gấp đôi việc quân sự hoá. Nhưng trong vài năm trở lại đây, Mỹ đã chứng tỏ rằng bằng thông báo về những hệ quả rõ ràng, Mỹ có thể thay đổi hành vi của Trung Quốc. Vào năm 2015, khi chính quyền Obama đe doạ đặt ra các trừng phạt đáp trả lại việc đánh cắp bí mật thương mại của Mỹ do Trung Quốc hậu thuẫn, chính phủ Trung Quốc đã nhanh chóng hạn chế các hoạt động bất hợp pháp của mình. Và trong những tháng cuối của chính quyền Obama, Bắc Kinh cuối cùng đã bắt đầu cho đóng cửa các công ty làm ăn bất hợp pháp với Triều Tiên sau khi Washington nói rằng Mỹ sẽ áp dụng các biện pháp trừng phạt tài chính với các công ty Trung Quốc đang lẩn trốn các lệnh trừng phạt đối với Triều Tiên.
Hơn nữa, sự phản kháng mạnh mẽ hơn của Mỹ sẽ không, như một số người khẳng định, làm dấy lên tư tưởng diều hâu trong hàng ngũ lãnh đạo Trung Quốc. Trên thực tế, những người ở Bắc Kinh ủng hộ việc quân sự hoá hơn nữa Biển Đông làm điều đó trên cơ sở rằng Mỹ không quyết đoán, chứ không phải Trung Quốc hiếu chiến. Cơ hội thực sự duy nhất cho giải pháp hoà bình xử lý các tranh chấp nằm ở việc ngăn chặn động lực của Trung Quốc. Bắc Kinh sẽ không thoả hiệp khi thấy mình đang đẩy một cánh cửa mở.
Và trong trường hợp Trung Quốc không từ bỏ đường lối xét lại, Mỹ vẫn có thể chấp nhận một Biển Đông bị quân sự hoá hơn, miễn là cân bằng quyền lực không ngả quá về phía Trung Quốc. Đó là lý do tại sao Trung Quốc sẽ nhận thấy một mối đe doạ rõ ràng của việc Mỹ sẽ thúc đẩy hỗ trợ quân sự cho các quốc gia yêu sách khác trên Biển Đông. Đảm bảo rằng các quốc gia trong khu vực có thể đóng góp cho việc ngăn chặn sự hung hăng của Trung Quốc sẽ đem lại sự ổn định hơn là chỉ dựa vào thiện chí của Trung Quốc hay quân đội Mỹ để duy trì hoà bình. Phải thừa nhận là, với rất nhiều lực lượng vũ trang triển khai trong một môi trường căng thẳng, các quốc gia cần phát triển các cơ chế mới để quản lý khủng hoảng và phòng ngừa leo thang không lường trước. Nhưng trong những năm gần đây, ASEAN đã tạo ra bước tiến đáng kể trên mặt trận này bằng việc đưa ra các biện pháp mới để xây dựng lòng tin giữa quân đội các nước trong khu vực, các nỗ lực mà Mỹ nên ủng hộ.
Cuối cùng, một số nhà phê bình đối với một chiến lược mạnh mẽ hơn của Mỹ tuyên bố rằng Biển Đông là không đáng để rắc rối, vì phạm vi ảnh hưởng của Trung Quốc có thể không nguy hiểm. Nhưng với việc sẵn sàng sử dụng sức kinh tế và quân sự của Bắc Kinh đối với các mục đích chính trị, sự đánh cược này ngày càng trở nên mạo hiểm hơn. Và ngay cả khi sự kiểm soát của Trung Quốc bắt đầu một cách hòa bình, sẽ không có gì bảo đảm rằng Trung Quốc sẽ giữ nguyên tình trạng hoà bình đó. Cách tốt nhất để ngăn xung đột trên biển là để Mỹ làm những gì vốn đã mang lại thành công cho đất nước này trong hơn một thế kỷ qua: ngăn chặn bất kỳ cường quốc nào khác chỉ huy mình.

Đọc thêm...

美学者:美必须阻止中国在东海的推进(第一期)

05:38 |
美国国务卿蒂勒森日前在国会作证时把中国在东海建造人工岛礁并部署军事装备以控制这条海上航道的举动列为美中关系中最为紧迫的问题之一。美一学者也呼吁川普政府采取更为强硬的威慑行动,阻止中国获得在这一海域的控制权,并就如何实现这一目标提出了详细的建议。
蒂勒森:中国控制东海是美中关系最为紧迫的问题之一
中国近年来在东海有争议海域进行大规模的填海造岛是影响美中关系的一个主要问题。美国务卿蒂勒森613日在众议院拨款小组委员会作证时把中国在东海建造人工岛礁并部署军事装备以对这个世界上最为繁忙的海上航道施加控制的举动列为美中关系中最为紧迫的问题之一。
拉特纳:中国控制东海对美国的影响
美国外交关系委员会中国研究的高级研究员拉特纳(Ely Ratner)在最新一期的《外交事务》杂志上撰文,呼吁川普政府改变在东海问题上的做法,阻止中国在这一海域的推进,因为中国如果控制了这片海域,将对美国在该地区的影响力造成毁灭性的打击,导致亚洲的权力平衡向中国倾斜。
拉特纳在文中说,美国的军事力量和同盟关系继续阻遏中国发起与美国的重大军事对抗,但是没能约束中国不断向前推进的势力范围。相反,美国对风险的规避使得中国达到对东海进行全面控制的边缘。
但是他认为,美国的决策者应该看到,中国在东海的行为是基于它对美国将做出反应的看法。美国的不抵制导致北京得出结论说,美国不会因为东海问题而影响它与中国的关系。结果,今天在亚洲对美国的最大威胁是中国的霸权,而不是大国之间的战争。美国的区域领导地位更可能在没有什么声响的情况下就丢失了。
美国政府东海策略存在的问题
曾经担任过副总统拜登的副国家安全顾问的拉特纳指出,近年来,华盛顿鼓励北京和其他的声索方采取一个“三停政策”:即不继续填海造岛,不建造新的基础设施以及不将现有设施军事化。但是它从来没有解释无视这些要求的后果。尽管美国、东盟、七国集团与欧盟对中国的举动都提出了批评,但是每次北京基本上对这种批评都不予理睬,其他国家慢慢的就不提它了。
这位作者认为,奥巴马政府的东海政策以及向亚洲再平衡的策帮助美国避免了重大危机,但是没有阻止中国在东海的挺进。
他说,尽管美国继续通过举行军演以及海上航行来彰显力量,但是它从来没有向中国表明,采取这些举动是要发出什么信号。美国官员经常把这些举动看成是“决心的体现”,但是他们从未解释美国决心要做的究竟是什么。因此,中国领导人没有什么理由改弦更张。
曾经也在美国国务院任职的拉特纳认为,同理,川普总统通过加强美国军队来实现“以实力谋和平”的想法不会让中国自己停下来。中国并不是不尊重美国的军事实力,但是中国也认为,美国只会对还没有达到公然侵略程度的劣迹进行小的惩罚,不管美国建造多少艘战舰、战斗机和核武器,这个盘算不会改变。

Đọc thêm...

Cách thức để Mỹ ngăn chặn bước tiến trên biển của Trung Quốc: Chuyển hướng Chính sách (phần 1)

05:36 |
Biển Đông đang nhanh chóng trở thành tuyến đường biển quan trọng nhất thế giới. Với vai trò là hành lang chính kết nối Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương, Biển Đông chuyên chở phần ba tổng giá trị thương mại hàng hải toàn cầu, trị giá trên 5,000 tỷ đô la Mỹ, trong đó mỗi năm, 1,200 tỷ đô Mỹ đi vào hoặc đi ra khỏi nước Mỹ. Trữ lượng dầu khí và các khu vực đánh cá rộng lớn vốn cung cấp 12% lượng cá đánh bắt được hàng năm trên thế giới, cung cấp năng lượng và thực phẩm cho 620 triệu người trong khu vực Đông Nam Á.
Nhưng mọi thứ không diễn ra êm đẹp tại vùng biển này. Sáu bên, bao gồm Brunei, Trung Quốc, Malaysia, Philippines, Đài Loan và Việt Nam, có những yêu sách chồng lấn nhau đối với hàng trăm đảo đá và rạn san hô nằm rải rác trong vùng biển này. Chủ quyền đối với những lãnh thổ đó không chỉ là thể diện quốc gia, mà còn mang lại những quyền lợi có giá trị khổng lồ liên quan đến khai thác dầu, đánh bắt cá, và triển khai tàu quân sự tại các vùng nước xung quanh. Do đó, trong hàng thập kỷ qua, các quốc gia đã phản đối mạnh mẽ yêu sách của nhau, đôi khi còn sử dụng đến cả vũ lực. Không bên nào thành công trong việc thống trị khu vực này, và Mỹ đã lựa chọn giữ quan điểm trung lập trong các tranh chấp chủ quyền. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, Trung Quốc đã bắt đầu khẳng định các yêu sách của mình mạnh mẽ hơn và giờ đây đang sẵn sàng để chiếm quyền kiểm soát vùng biển này. Nếu Trung Quốc thành công, quốc gia này sẽ giáng một đòn nặng nề đến ảnh hưởng của Mỹ trong khu vực, làm nghiêng cân bằng quyền lực tại châu Á theo hướng có lợi cho Trung Quốc.
Thời gian đang không còn nhiều để ngăn chặn bước tiến của Trung Quốc. Với chính sách hiện đang lưỡng lự của Mỹ, chính quyền Trump cần phải cứng rắn hơn. Ngoài các biện pháp ngoại giao, chính quyền Trump cần có những biện pháp răn đe bằng việc cảnh báo Trung Quốc rằng nếu nước này còn hung hăng thì Mỹ sẽ từ bỏ quan điểm trung lập và trợ giúp các quốc gia khác trong khu vực bảo vệ các yêu sách của mình. Washington cần làm rõ rằng Mỹ có thể chấp nhận một sự bế tắc ở châu Á nhưng không thể chấp nhận quyền bá chủ của Trung Quốc.
Bước tiến của Trung Quốc
Trung Quốc đã khẳng định “chủ quyền không thể tranh cãi” đối với các thực thể trên Biển Đông và các quyền lợi biển đối với các vùng nước trong khu vực “đường 9 đoạn”, vốn trải dọc theo bờ biển của các bên yêu sách khác và bao trùm gần hết toàn bộ Biển Đông. Mặc dù trước đây Trung Quốc không đủ sức mạnh quân sự để thực thi các yêu sách này, nhưng điều này đang thay đổi nhanh chóng. Hơn nữa, sau cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008, tình hình kinh tế khó khăn của các nước phương Tây đã khiến Bắc Kinh tin rằng đây là thời cơ chín muồi cho Trung Quốc thể hiện sức mạnh của mình.
Kể từ đó, Trung Quốc đã tiến hành một loạt hành động để giành kiểm soát tại Biển Đông. Vào năm 2009, các tàu Trung Quốc đã quấy rối tàu tuần dương Impeccable của Mỹ khi tàu này đang thực hiện nhiệm vụ hàng ngày tại Biển Đông. Vào năm 2011, tàu tuần tra của Trung Quốc đã cắt cáp của một tàu Việt Nam đang thăm dò dầu khí. Vào năm 2012, lực lượng hải quân và tuần duyên Trung Quốc đã xâm chiếm và phong tỏa bãi cạn Scarborough, một rạn san hô đang tranh chấp có vị trí tại vùng đặc quyền kinh tế của Philippines. Vào năm 2013, Trung Quốc đã cử một tàu tuần tra có vũ trang vào vùng biển của Indonesia để yêu cầu thả một thuỷ thủ Trung Quốc bị chính quyền Indonesia bắt giữ do đánh bắt cá bất hợp pháp tại vùng nước xung quanh quần đảo Natuna của Indonesia.
Sau đó, vào đầu năm 2014, các nỗ lực của Trung Quốc để khẳng định quyền hành trên Biển Đông đã gia tăng nhanh chóng. Các tàu Trung Quốc đã bắt đầu các dự án nạo vét để cải tạo bảy rạn san hô mà Trung Quốc đã kiểm soát ở quần đảo Trường Sa, một quần đảo nằm ở nửa phía nam của Biển Đông. Trong khoảng thời gian 18 tháng, Trung Quốc đã cải tạo được gần 3.000 mẫu đất. (Trái lại, trong vài thập kỷ trước, Malaysia, Philippines, Đài Loan và Việt Nam đã cải tạo tổng cộng ít hơn 150 mẫu). Mặc dù có sự đảm bảo của Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình vào tháng 9 năm 2015 rằng Trung Quốc "không có ý định quân sự hoá" Biển Đông, Trung Quốc đã nhanh chóng chuyển đổi các đảo nhân tạo của mình thành các căn cứ quân sự tiên tiến, gồm đầy đủ các sân bay, đường băng, cảng, và hệ thống phòng không và chống tên lửa. Trong một khoảng thời gian ngắn, Trung Quốc đã đặt nền móng cho việc kiểm soát Biển Đông.
 Nếu Trung Quốc thành công trong nỗ lực này, Trung Quốc sẽ dễ dàng thành lập một vùng ảnh hưởng khổng lồ ở bờ biển phía Nam của mình, không cho các quốc gia khác trong khu vực quyền lựa chọn nào khác ngoài việc tuân theo ý chí của Trung Quốc. Điều này sẽ làm cản trở các mối liên minh và hợp tác của Mỹ, đe doạ việc Mỹ tiếp cận thị trường và các nguồn lực của khu vực, và hạn chế khả năng của Mỹ trong việc triển khai sức mạnh quân sự và ảnh hưởng chính trị ở châu Á.
Nước Mỹ không can dự
Mặc cho nhiều mối liên hệ to lớn, Mỹ đã không thể ngăn chặn sự quả quyết của Trung Quốc ở Biển Đông. Về phần mình, Washington đã tin rằng khi Trung Quốc phát triển mạnh hơn và tham gia nhiều hơn với thế giới, Trung Quốc tự nhiên sẽ chấp nhận các quy tắc và chuẩn mực quốc tế. Trong hơn một thập kỷ, kim chỉ nam của chính sách của Mỹ là đưa Trung Quốc vào khuôn khổ vào thứ mà Thứ trưởng Ngoại giao Mỹ Robert Zoellick mô tả năm 2005 là “một bên liên quan có trách nhiệm”- sẽ tuân thủ hệ thống quốc tế hoặc, ít nhất, hợp tác với các cường quốc hiện thời để xem xét lại trật tự toàn cầu. Các nhà hoạch định chính sách của Mỹ đã cho rằng họ có thể giải quyết tốt hơn những thách thức toàn cầu khi có Bắc Kinh cùng tham gia.
Mỹ bổ sung kế hoạch nhằm đưa Trung Quốc hội nhập vào hệ thống chủ đạo với nỗ lực giảm thiểu những đối đầu không đáng có. Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton đã nói về nhu cầu cần “tìm một câu trả lời mới cho câu hỏi điều gì sẽ xảy ra khi một cường quốc hiện thời và một cường quốc đang trỗi dậy đụng độ nhau.” Bà Clinton đang đề cập đến mối nguy hiểm của việc rơi vào “bẫy Thucydides,” xung đột giữa một cường quốc nguyên trạng và một cường quốc mới nổi. Như một sử gia người Athen đã viết, “sự trỗi dậy của Athens và nỗi lo sợ mà điều đó gây ra ở Sparta đã làm cho chiến tranh trở thành điều chắc chắn xảy ra.” Thận trọng trước một hệ quả tương tự, các nhà hoạch định chính sách Mỹ đã tìm kiếm các phương pháp để giảm thiểu căng thẳng và phòng tránh xung đột bất cứ khi nào có thể.
Cách tiếp cận này đã có những thành công nhất định. Hiệp định khí hậu Paris và Thoả thuận hạt nhân Iran đều là kết quả trực tiếp từ các nỗ lực song phương trong việc giải quyết cùng nhau các vấn đề toàn cầu. Trong khi đó, các quan chức Mỹ và Trung Quốc đã trao đổi thường xuyên, giảm thiểu những hiểu lầm và thậm chí tránh được các khủng hoảng nghiêm trọng mà có thể dẫn tới xung đột tức thì.
Áp dụng chiến thuật này vào Biển Đông, chính quyền Obama tạo ra áp lực ngoại giao lên tất cả các bên yêu sách để giải quyết tranh chấp bằng các biện pháp hoà bình phù hợp với luật pháp quốc tế. Để ngăn việc Trung Quốc sử dụng vũ lực, Mỹ đã tăng cường hiện diện quân sự trong khu vực trong khi làm sâu sắc hơn các quan hệ liên minh và hợp tác như một phần trong chiến lược “tái cân bằng” sang châu Á. Và mặc dù Bắc Kinh hiếm khi nhìn nhận điều đó theo cách này, Mỹ đã quan tâm đến việc không lựa chọn ngả về bên nào trong các tranh chấp chủ quyền, ví dụ, cử các tàu đến để thực thi quyền tự do hàng hải trong các vùng nước yêu sách bởi nhiều bên, không chỉ có Trung Quốc.
Mặc dù chiến lược này đã giúp Mỹ tránh được các khủng hoảng nghiêm trọng, nó đã không ngăn cản được sự mở rộng của Trung Quốc tại Biển Đông. Vào năm 2015, nhắc lại một quan điểm rằng các quan chức Mỹ đã truyền đạt hơn một thập kỷ, Tổng thống Mỹ Barack Obama đã tuyên bố trong một cuộc họp báo chung với Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình, “Mỹ hoan nghênh sự trỗi dậy hoà bình, ổn định, thịnh vượng và là một bên tham gia có trách nhiệm trong các vấn đề toàn cầu của Trung Quốc.” Tuy nhiên Washington đã không chỉ rõ rằng nước Mỹ sẽ làm gì nếu Bắc Kinh không đáp ứng được tiêu chuẩn đó - như thường xảy ra trong các năm gần đây. Mong muốn của Mỹ trong việc né tránh xung đột có nghĩa rằng gần như mọi lúc Trung Quốc hành động một cách cương quyết hay thách thức luật pháp quốc tế ở Biển Đông, Washington ngay lập tức hành động để giảm căng thẳng, qua đó để cho Trung Quốc giành thêm được lợi thế.
Đây sẽ là một chiến lược hợp lý nếu né tránh chiến tranh là thách thức duy nhất tạo ra bởi sự trỗi dậy của Trung Quốc. Nhưng vấn đề không phải như vậy. Quân đội Mỹ và đồng minh tiếp tục ngăn cản Trung Quốc gây ra sự đối đầu quân sự nghiêm trọng với Mỹ, nhưng không thể kiểm soát việc Trung Quốc dần dần mở rộng ảnh hưởng. Thay vào đó, cách tiếp cận né tránh rủi ro của Mỹ đã cho phép Trung Quốc từng bước thiết lập kiểm soát đối với toàn bộ Biển Đông.
Các nhà hoạch định chính sách Mỹ cần nhận ra rằng hành động của Trung Quốc trên biển là dựa trên nhận thức của nước này về mức độ Mỹ sẽ phản ứng. Sự thiếu phản kháng của Mỹ đã khiến Bắc Kinh cho rằng Mỹ sẽ không để quan hệ với Trung Quốc bị ảnh hưởng bởi vấn đề Biển Đông. Do đó, mối đe doạ lớn nhất đối với Mỹ ngày nay ở châu Á là bá quyền của Trung Quốc, chứ không phải chiến tranh giữa các siêu cường. Vai trò lãnh đạo trong khu vực của Mỹ sẽ dần mất đi chứ không sụp đổ ngay lập tức.
Cú nước rút cuối cùng
Tin tốt là mặc dù Trung Quốc đã tạo ra những bước tiến lớn tiến tới kiểm soát hoàn toàn Biển Đông, Trung Quốc vẫn chưa đạt được điều này. Để hoàn thành việc kiểm soát, Trung Quốc cần cải tạo thêm đảo, đặc biệt là tại bãi cạn Scarborough nằm ở phía đông Biển Đông, nơi Trung Quốc đang thiếu căn cứ hoạt động. Sau đó, Trung Quốc sẽ cần phát triển khả năng ngăn cản quân đội nước ngoài tiếp cận vùng nước và vùng trời phía trên Biển Đông, bằng việc triển khai một loạt các trang thiết bị quân sự tối tân tại các căn cứ - máy bay chiến đấu, tên lửa hành trình chống hạm, tên lửa phòng không tầm xa và hơn thế nữa.
Mỹ trước đây đã tìm cách ngăn chặn Trung Quốc thực hiện các bước kể trên. Trong những năm gần đây, Washington đã khuyến khích Bắc Kinh và các bên yêu sách khác thông qua chính sách “3 không”: không cải tạo đảo thêm nữa, không xây dựng thêm cơ sở hạ tầng mới, và không quân sự hoá các cơ sở hiện có. Nhưng Mỹ chưa bao giờ giải thích các hậu quả nếu không tuân theo các yêu cầu này. Trong một vài trường hợp, Mỹ, cùng với ASEAN, G-7, và EU đã chỉ trích các hành động của Trung Quốc. Nhưng Bắc Kinh luôn lờ đi chỉ trích, và các nước khác cũng không gây sức ép về vấn đề này lâu.
Cần xem xét phản ứng của Bắc Kinh đối với quyết định mang tính bước ngoặt đưa ra vào tháng 7 năm 2016 bởi Toà trọng tài quốc tế thành lập theo Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển. Tòa quyết định rằng hầu hết yêu sách của Trung Quốc tại Biển Đông là bất hợp pháp dưới góc độ luật pháp quốc tế. Mỹ và các quốc gia khác đã kêu gọi Trung Quốc tuân thủ phán quyết nhưng đã không thực hiện hành động nào để thực thi điều này. Do đó Trung Quốc đã đơn giản chỉ nhún vai cho qua và tiếp tục quân sự hoá các đảo và kiểm soát các vùng nước xung quanh. Mặc dù Mỹ đã tiếp tục thể hiện sức mạnh đáng kể trong khu vực thông qua diễn tập và kiểm soát quân sự, Mỹ chưa bao giờ thể hiện rõ cho Trung Quốc thấy những động thái đó có ý nghĩa gì. Các quan chức Mỹ thường coi đó là các động thái biểu dương sự cương quyết. Nhưng họ chưa bao giờ giải thích chính xác rằng Mỹ sẽ cương quyết làm gì. Với câu hỏi còn để ngỏ, chính quyền Trung Quốc không thấy cần thiết phải đảo ngược tiến trình.
Với lý do tương tự, ý tưởng của Tổng thống Mỹ Donald Trump trong việc khôi phục chiến lược “hoà bình thông qua sức mạnh” của Tổng thống Ronald Reagan bằng việc tăng cường sức mạnh quân sự của Mỹ sẽ không kéo được Trung Quốc trở lại. Vấn đề không phải Trung Quốc không e ngại sức mạnh quân sự của Mỹ. Trái lại, Trung Quốc còn lo sợ sẽ chịu tổn thất nặng nề nếu để xảy ra chiến tranh với Mỹ. Nhưng Trung Quốc cũng tin rằng Mỹ sẽ chỉ đặt ra những cái giá nhỏ cho những hành động sai trái dừng lại dưới mức hung hăng mà thôi. Bất kể bao nhiêu tàu chiến, máy bay chiến đấu, và vũ khí hạt nhân Mỹ triển khai, tính toán đó sẽ không thay đổi.
Dám hành động
Để điều chỉnh sự hăng hái của Trung Quốc, Mỹ cần đưa ra một cảnh báo rõ ràng: rằng nếu Trung Quốc tiếp tục xây dựng các đảo nhân tạo hay triển khai các khí tài quân sự mạnh, như tên lửa tầm xa hay máy bay chiến đấu, trên các đảo Trung Quốc đã xây dựng, Mỹ sẽ thay đổi hoàn toàn chính sách đối với Biển Đông. Từ bỏ lập trường trung lập, Washington sẽ ngừng kêu gọi kiềm chế và thay vào đó gia tăng nỗ lực trợ giúp các quốc gia trong khu vực phòng vệ chống lại sự cưỡng ép của Trung Quốc.
Trong trường hợp này, Mỹ sẽ làm việc với các quốc gia khác với các yêu sách trên biển để cải tạo đảo xung quanh lãnh thổ đang chiếm đóng bởi các nước này và củng cố vững chắc các căn cứ. Mỹ cũng sẽ triển khai tập trận chung và bán cho các nước này các loại vũ được các chuyên gia quân sự biết đến như  khả năng “chống can thiệp”, cung cấp cho các quốc gia này các công cụ có giá cả phải chăng để ngăn chặn sự cưỡng ép của quân đội Trung Quốc tại và xung quanh khu vực. Những vũ khí đó bao gồm máy bay do thám không người lái, mìn biển, tên lửa chống hạm trên đất liền, tàu tên lửa tấn công nhanh và các hệ thống phòng không di động.
Một chương trình như vậy sẽ làm cho các nỗ lực thống trị biển và vùng trời phía trên biển của Trung Quốc trở nên mạo hiểm hơn. Mỹ sẽ không nhắm tới việc tích luỹ đủ hoả lực tập thể để đánh thắng Quân đội Giải phóng Nhân dân, hay thậm chí kiểm soát các vùng biển lớn; thay vào đó, mục tiêu sẽ dành cho các đối tác trong khu vực có khả năng ngăn chặn Trung Quốc tiếp cận các tuyến đường biển quan trọng, các bờ biển lân cận và các nút thắt hàng hải.
Mỹ nên ngả sang các đồng minh và đối tác đã có mối quan hệ an ninh chặt chẽ ở Đông Nam Á để được giúp đỡ. Nhật Bản có thể đem lại những hợp tác có giá trị chặt chẽ với một vài quốc gia xung quanh Biển Đông, do Nhật Bản đã coi Trung Quốc là mối đe doạ, và gần đây đang phát triển hệ thống phòng thủ của riêng mình chống lại sự xâm phạm của Trung Quốc đối với các đảo ngoài khơi của nước này tại Biển Hoa Đông. Trong khi đó, Australia có mối quan hệ thân thiết với Indonesia và Malaysia hơn là Mỹ, cũng tương tự như Ấn Độ với Việt Nam - quan hệ mà sẽ cho phép Australia và Ấn Độ cung cấp sức mạnh quân sự đáng kể hơn cho các quốc gia này so với Washington.
Nếu Bắc Kinh từ chối thay đổi lộ trình, Washington cũng nên đàm phán các thoả thuận mới với các quốc gia trong khu vực để cho phép Mỹ và các lực lượng thân thiện khác ghé thăm hay trong một số trường hợp, thường trú tại các căn cứ trên Biển Đông. Mỹ nên xem xét tìm kiếm việc tiếp cận đảo Ba Bình (chiếm đóng bởi Đài Loan), đảo Thị Tứ (chiếm đóng bởi Philippines), và đảo Trường Sa (chiếm đóng bởi Việt Nam) - các thực thể thuộc quần đảo Trường Sa và là các đảo tự nhiên lớn thứ nhất, nhì, và tư tại Biển Đông, theo thứ tự. Ngoài việc giúp Mỹ và các đối tác tập luyện cùng nhau dễ dàng hơn, sở hữu các lực lượng trên các đảo này sẽ tạo ra các “dây chằng mới” ngăn cản Trung Quốc, gia tăng nguy cơ cho các hoạt động cưỡng chế quân sự của nước này.
Biện pháp răn đe mới này sẽ đem đến cho Bắc Kinh một lựa chọn không dễ chịu: một mặt, Trung Quốc có thể quân sự hoá thêm Biển Đông và phải đối đầu với các quốc gia có căn cứ và quân đội hiện đại, được hậu thuẫn bởi Mỹ, hoặc, mặt khác, dừng việc quân sự hoá các đảo, từ bỏ các kế hoạch cải tạo đảo, và bắt đầu làm việc nghiêm túc để tìm một giải pháp ngoại giao.

Đọc thêm...

中国应采取负责任的行为 确保东海和平与稳定局势

06:28 |
越通社——615日在例行记者会上,越南外交部发言人黎氏秋姮回答了记者提出关于越南对中国正在长沙和黄沙各岛礁上扩大军事化行为有何反应的提问时表示:
“越南有充分的法律依据和历史证据来证明越南对黄沙和长沙两个群岛拥有主权。外国在未经越南准许的情况下在黄沙和长沙两个群岛开展的一切活动都是非法的,且不能改变越南对上述两个群岛拥有主权的事实。我们认为,作为地区和世界大国的中国应采取负责任和建设性的行为,在遵守国际法的基础上,为维护东海乃至整个地区的和平与稳定局势做出贡献。”
Đọc thêm...

Bộ Ngoại giao Việt Nam: Trung Quốc cần hành động có trách nhiệm

06:26 |
Trong cuộc họp báo thường kỳ Bộ Ngoại giao chiều 15/6, tại Hà Nội, liên quan đến thông tin Trung Quốc đang trong quá trình quân sự hóa trên các đảo, điểm đảo ở Trường Sa và Hoàng Sa, Người Phát ngôn Bộ Ngoại giao Lê Thị Thu Hằng nhấn mạnh: “Việt Nam có đầy đủ căn cứ pháp lý, bằng chứng lịch sử khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Mọi việc làm của nước ngoài tại khu vực hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa mà không có sự cho phép của Việt Nam là hoàn toàn bất hợp pháp không thể làm thay đổi thực tế là Việt Nam có chủ quyền đối với hai quần đảo này."
"Là một quốc gia lớn ở khu vực và trên thế giới, chúng tôi cho rằng Trung Quốc cần hành động có trách nhiệm và mang tính xây dựng trong việc duy trì hòa bình, ổn định ở khu vực cũng như trên Biển Đông trên cơ sở tuân thủ luật pháp quốc tế," bà Lê Thị Thu Hằng nhấn mạnh./.
Đọc thêm...

美国海军今年将继续巡航东海

08:39 |
美国太平洋舰队司令斯科特·斯威夫特海军上将星期四在中国表示,美国海军军舰今年将在东海进行更多的巡航。
美国海军斯泰雷特号导弹驱逐舰目前正在广东湛江访问。这是川普总统上任以来美国军舰首次访问中国。
眼下有好几个国家提出主权声索的东海局势紧张。华盛顿批评北京在那里建设人工岛并使之军事化。
斯威夫特海军上将说,美国海军今年在那一水域的“舰船日”将由以前每年平均总共700天左右增加到900天,原因是几个航空母舰打击群临时在太平洋活动。
斯威夫特对美国海军在那一水域的活动日数增加的意义进行了淡化处理。他说,这一数字可能不会持续,明年可能会降低。
美国海军杜威号军舰两星期前驶入被中国控制并实施了填海造岛和军事化的美济礁12海里以内,依据国际法挑战了中国在东海的主权声索。中国对美国海军的这一行动表示强烈谴责。
菲律宾认为菲律宾对美济礁拥有主权。
美国对东海的主权声索争议不持立场,主张各方遵守国际法通过和平谈判解决争议。
美国国防部长马蒂斯一星期前在新加坡发表美国亚太安全政策讲话时说,美国不能也不会接受中国在东海单方面改变现状的行为,并会通过在那里保持军事存在来表明美国的决心
Đọc thêm...

Tư lệnh Mỹ: Tàu hải quân sẽ tăng thời gian lưu lại Biển Đông

08:39 |
Tư lệnh Hạm đội Thái Bình Dương của Mỹ, Đô đốc Scott Swift cho biết các tàu hải quân nước này sẽ tăng thời gian lưu lại khu vực Biển Đông trong năm nay.
Theo hãng Reuters, ngày 15/6, Tư lệnh Hạm đội Thái Bình Dương của Mỹ, Đô đốc Scott Swift cho biết các tàu hải quân nước này sẽ tăng thời gian lưu lại khu vực Biển Đông trong năm nay.
Thông tin này được ông Swift đưa ra khi ở Trạm Giang, tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc - nơi tàu khu trục trang bị tên lửa dẫn đường USS Sterett mới ghé thăm.
Đây là tàu chiến đầu tiên của Mỹ thăm Trung Quốc kể từ khi Tổng thống Donald Trump lên nắm quyền hồi đầu năm.
Phát biểu với báo giới, Đô đốc Swift cho biết số ngày các tàu Mỹ lưu lại Biển Đông sẽ lên tới 900 ngày trong năm nay, tăng so với mức trung bình khoảng 700 ngày/năm. Điều này ghi nhận việc tăng số lượng các nhóm tàu sân bay tạm thời hoạt động ở Thái Bình Dương.
Ông Swift nhấn mạnh: "Chúng tôi đã tăng số lượng nhóm tàu tấn công hoạt động ở Thái Bình Dương, điều dẫn tới việc tăng số lượng ngày của các tàu hoạt động tại khu vực này trong năm nay. Con số này có thể sẽ thấp hơn năm tới."

Trước đó, ông Swift và các quan chức khác của Mỹ từng cho biết không có sự thay đổi nào đối với các hoạt động vì tự do hàng hải của hải quân Mỹ dưới thời Tổng thống Trump./.
Đọc thêm...

“七国”声明能否影响北京华东海和东海政策?

23:03 |
七国集团会议上周在意大利西西里岛举行。七国集团会后发表联合声明,以严厉的措施提及华东海和东海局势。七国声明表示,“坚决反对任何可能加剧紧张局势的单方面行动”。
北京对七国集团的声明表示“强烈不满”。中国外交部表示,七国集团应该停止发表不负责任的言论。
北京为何对七国集团声明不满?七国集团声明是否会对中国在东海的政策和行为产生任何影响?有关这些问题,美国东部时间530日美国之音VOA卫视《美国观察》邀请美国加州克莱蒙特·麦肯纳学院教授裴敏欣博士进行分析:
北京反应强烈在于多重因素叠加
裴敏欣表示,此次北京的反应和以往不同,原因在于去年7月海牙的一个仲裁法庭通过了针对东海问题的仲裁案,其判定对中国不利。这次七国集团的声明是在仲裁案的基础之上,因此不仅仅是国际法的判决对中国不利,现在又加上七大国再一次声明自己的立场。另外,此次声明用语比以往更加强烈,以往的用语只是要求争议各方要尊重国际法,此次的用语是“坚决反对任何可能加剧紧张局势的单方面行动”。这实际上就是指中国在东海人工造岛,以及据说引入军事设施的举动。
七国声明只能起到道义和外交层面作用
裴敏欣认为,此次七国集团针对东海局势的声明,虽然措辞强烈,但是所能起到作用有限,是道义和外交层面的作用,因为七国集团没有在具体行动上达成对中国在东海的举动采取怎样的反应,因此声明只是停留在道义和外交层面。它对中国有一定的压力,就是使中国感到他至少在西方大国里没有一个盟友能够出面支持中国。
具体针对中国在东海的举动,影响最大的还是美国单方面的武力行为。上周,美军的一艘导弹驱逐舰进入中国的美济礁,开展自由航行行动。
中国在美济礁上造了一个很大的人工岛。这次举动有两层意义,一是川普上台后,为了得到中国在朝鲜问题上的支持,暂时停止了在东海的自由航行行动,好像要给中国一点面子,这次自由航行行动就是要表示不再照顾中国的面子;二是以往在奥巴马执政期间,美国海空军都采取过类似的举动,但是当时都遵守了不进入12海里范围的自我限制,但是这次美军导弹驱逐舰进入了美济礁的12海里范围,这明显是在挑战中国称对这些岛屿拥有主权的立场。因为12海里是主权概念,如果军舰进入12海里,中国没有反应,那就说明这个12海里的主权范围实际上是不存在的。
这就是美国自由航行行动很重要的两个方面。美国此举有两方面的用意,一,因为进入了12海里,比以往的行动有所升级,有玩真的成分;二,是做出姿态,安抚美国在东海周边地区的盟友,表明美国在东海问题上的立场没有改变。



Đọc thêm...

Tuyên bố của G7 có ảnh hưởng đến chính sách Biển Hoa Đông và Biển Đông của Trung Quốc?

23:01 |
Gần đây, hội nghị G7 tổ chức tại Italia đã ra tuyên bố chung, trong đó có những bình luận mạnh mẽ về tình hình Biển Hoa Đông và Biển Đông. Tuyên bố chung nêu rõ: “Kiên quyết phản đối tất cả các hành vi đơn phương làm gia tăng căng thẳng”. Trung Quốc đã thể hiện thái độ phản đối mạnh mẽ trước tuyên bố chung của G7. Bộ Ngoại giao Trung Quốc tuyên bố, G7 cần chấm dứt những tuyên bố thiếu trách nhiệm.
Tại sao Bắc Kinh phản đối mạnh mẽ tuyên bố của G7? Tuyên bố của G7 có thể thay đổi chính sách và hành động của Trung Quốc tại Biển Đông? Chuyên gia Minxin Pei đến từ Học viện Claremont McKenna đã có những phân tích về vấn đề này.
Minxin Pei cho rằng, phản ứng của Trung Quốc lần này khác với những lần khác là do Tòa trọng tài quốc tế tháng 7 năm ngoái đã đưa ra phán quyết bất lợi cho Trung Quốc. Tuyên bố chung của G7 lần này dựa trên cơ sở phán quyết của Tòa trọng tài, do vậy Trung Quốc không chỉ chịu sức ép về mặt luật pháp quốc tế mà còn chịu sức ép từ G7, một trong những tổ chức quan trọng nhất thế giới. Ngoài ra, tuyên bố lần này của G7 cũng vô cùng mạnh mẽ, khác hẳn với những tuyên bố kiểu như “yêu cầu các bên tranh chấp tôn trọng luận pháp quốc tế”. Lần này, tuyên bố của G7 “kiên quyết phản đối bất cứ hành động đơn phương làm gia tăng căng thẳng”. Đây thực chất là những lời chỉ trích nhằm vào hoạt động bồi đắp đảo nhân tạo và quân sự hóa của Trung Quốc tại Biển Đông.
Tuyên bố của G7 chỉ có tác dụng về mặt ngoại giao và dư luận
Minxin Pei cho rằng, tuy tuyên bố chung của G7 lần này vô cùng mạnh mẽ, nhưng tác dụng của nó thì cũng rất có hạn. Do G7 không đạt được đồng thuận chung về những hành động cụ thể đối với hoạt động của Trung Quốc tại Biển Đông, do đó tuyên bố chung của G7 cũng chỉ có tác dụng về mặt ngoại giao và dư luận. Tuyên bố này chỉ có thể mang lại áp lực với Trung Quốc, khiến Trung Quốc biết rằng mình không hề có bất cứ đồng minh nào trong thế giới các nước lớn phương Tây.
Hành động của các nước phương Tây có ảnh hưởng lớn nhất vẫn chính là những hoạt động vũ lực đơn phương của Mỹ tại Biển Đông. Mỹ vừa tiến hành một chiến dịch tự do trên biển tại Biển Đông, chiến dịch đầu tiên kể từ khi D.Trump lên nắm quyền. Tàu chiến Mỹ đã tiến vào phạm vi vùng biển 12 hải lý quanh đảo nhân tạo do Trung Quốc cải tạo trái phép. Hành động này của Mỹ có hai tầng ý nghĩa. Thứ nhất, kể từ khi lên cầm quyền, D.Trump đã tạm ngừng các chiến dịch tự do hàng hải tại Biển Đông như một cách giữ thể diện cho Trung Quốc. Tuy nhiên, chiến dịch tự do hàng hải này cho thấy, Mỹ sẽ không tiếp tục quan tâm tới thể diện của Trung Quốc. Thứ hai, ngay từ thời Tổng thống Obama, quân đội Mỹ đã thực hiện các chiến dịch tự do hàng hải, tuy nhiên không hề tiến vào phạm vi 12 hải lý quanh các đảo nhân tạo do Trung Quốc cải tạo trái phép. Nhưng trong chiến dịch tự do hàng hải lần này, tàu chiến Mỹ đã đi vào vùng biển 12 hải lý quanh đá Vành Khăn. Đây là hành động thách thức trực tiếp tới yêu sách chủ quyền của Trung Quốc tại Biển Đông. Ngoài ra, chiến dịch tự do hàng hải lần này của Mỹ cũng là hành vi trấn an các nước đồng minh của Mỹ, cho thấy lập trường của Mỹ trong tranh chấp Biển Đông vẫn không thay đổi.


Đọc thêm...

东海:川普的谈判筹码

08:30 |
美国政府在沉默数月之后开始挑战中国在南中国海主权争端上的立场。一些分析人士认为,此举的目的是主要是安抚不安的东南亚国家,而不是对华立场的重大转向。
美国总统唐纳德·川普在他就任后的近半年时间里,大多数时候都搁置了南中国海问题,以便试图与北京发展良好关系,尤其是寻求让中国帮助遏制朝鲜的导弹和核武器项目。
但是在524日,美国海军的一艘驱逐舰航行到了有争议的斯普拉特利群岛(中国称南沙群岛)一座中国控制人造岛礁附近。星期六,美国国防部长马蒂斯在年度亚洲安全峰会香格里拉对话上说,中国建设人造岛礁上并在上面部署军事设施损害地区稳定。
美国智库战略与国际研究中心亚洲海洋透明倡议负责人格雷戈里·普林说:“美国的伙伴国家几个月来一直期待香格里拉论坛,希望马蒂斯会借此机会向大家保证,美国的亚洲政策,包括南中国海政策,不是像看起来的那样模糊不定。”
他说:“现在最乐观的解读是,那个演讲和像驱逐舰游弋南中国海这些事显示,马蒂斯和五角大楼‘明白了’,因此从安全层面上来看,美国参与亚洲、南中国海事务相对来说是稳定不变的。”
中国过去十年在350万平方公里的南中国海上进行围海造岛和军事化行动,以宣示其对这片有争议海域95%的水域拥有主权。中国的声索与文莱、马来西亚、台湾、越南和菲律宾的声索重叠,这些声索方的军事能力远不及中国。
在前总统奥巴马执政时期,虽然北京表示不满,但是美国军方多次派遣军舰航行于南中国海,次数要比现在多得多。奥巴马还帮助越南和菲律宾加强军事能力。
华盛顿不是南中国海的声索方,但是希望确保这片渔业和油气资源丰富海域的航行自由。
新加坡南洋大学国际关系讲师胡逸山(Oh Ei Sun)说,东南亚声索国想知道川普是否会冒着中国不再帮助解决朝核问题的风险来挑战中国的海洋扩张。他说,川普政府在南中国海问题上的策略到目前来看都是“视情况而定”和“即兴发挥”。
他说:“这个地区的很多国家都盼望美国宣布更加明确的政策,但是到目前为止,我认为,我们还没有看到。我觉得,现在在南中国海进行的航行自由的频率和程度可能都不及奥巴马政府时期。”
分析人士说,如果美国没有展示力量来制衡世界第三大军事大国中国,那么东南亚国家预计将会在外交政策上偏向北京而不是华盛顿。中国希望通过对话和援助来平息对中国海上军事扩张的不满和抗议。
中国去年向菲律宾提供了240亿美元的援助和投资。中国也鼓励中国人前往越南旅游促进越南经济,并与河内磋商海上合作问题。
美国国务卿蒂勒森向中国施加的另一个举动是他上个月对东盟国家的部长们说,在解决主权争端的过程中,必须停止在南中国海进行军事化和造岛活动。
澳大利亚新南威尔士大学政治学荣休教授、东南亚问题专家卡尔·塞耶说,美国政府仍然必须要“两手抓”,以便保持与北京在朝鲜问题上的合作。
他说:“在今年的某个时候,国家安全战略有望浮出水面,到时还会基于此形成一个包含细节的海上国家安全战略。马蒂斯和蒂勒森的这些言论可能是显示,国家安全战略会包含哪类元素。”
他还说:“需要判断的是,中国将会如何强烈反应。”
朝鲜主要的盟友中国在党媒上表示将加大对朝制裁,减少对朝出口石油。朝鲜大约90%的石油进口依赖中国。北京还表示会限制进口朝鲜煤炭。
中国抗议美国驱逐舰在斯普拉特利群岛附近航行,称这是“侵犯”中国水域。分析人士说,北京对川普政府南中国海问题立场的总体反应要比奥巴马时期温和。
台湾国立政治大学外交学副教授黃圭博(Huang Kwei-bo)说,川普清楚他在必要时可以加大对中国施压以取得更多让步。
他说:“东海一定是川普的bargaining chip(谈判筹码)之一,与中美经贸问题会绑在一起。”
Đọc thêm...

Hot (焦点)